Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Huyện Giồng Riềng

Tỉnh Kiên Giang

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 344 /2025/HNGĐ- ST

Ngày 28/05/2025

V/v xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Nhật

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Danh Riêng

2. Ông Huỳnh Hoàng Nam

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Nhã – Thư ký

Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Trong ngày 28 tháng 05 năm 2025. Tại trụ sở Tòa án Nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 187/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 03 năm 2025 về vụ kiện: “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 186/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 05 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Bích T, sinh năm 1979 (có mặt)

Địa chỉ: Khu phố 6, thị trấn G R, huyện G R, tỉnh Kiên Giang

- Bị Đơn: Anh Lâm Quang N, sinh năm 1979 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố 6, thị trấn G R, huyện G R, tỉnh Kiên Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa chị Trần Thị Bích T trình bày: Tôi và anh Lâm Quang N chung sống với nhau vào năm 2003, không có tổ chức đám cưới, nhưng có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn G R, huyện G R, tỉnh Kiên Giang vào ngày 11/07/2009. Trước khi vợ chồng chung sống, thì tôi và anh N có tìm hiểu nhau trước mới tiến tới hôn nhân, hôn nhân tự nguyện, không bị cưỡng ép.

Trong quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc. Đến tháng 07 năm 2020, thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh N ngoại tình, có quan hệ với người phụ nữ khác bên ngoài, về đến nhà thì anh N kiếm chuyện với tôi và anh N sử dụng bạo lực gia đình đánh tôi nhiều lần gây thương tích. Tôi có khuyên bảo anh N nhiều lần nhưng anh N không nghe vẫn chứng nào tật ấy, vợ chồng thường xuyên cự cãi lớn tiếng với nhau. Từ đó vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, có lối sống không phù hợp, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được. Nay tôi xét thấy tình cảm vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ tháng 09 năm 2023 cho đến nay.

Quá trình chung sống vợ chồng có 03 con chung gồm:

  1. Cháu Lâm Thị Thu N, sinh ngày 10/11/2004, cháu đã trưởng thành, hiện nay đã có gia đình riêng.
  2. Cháu Lâm Quang D, sinh ngày 27/03/2009
  3. Cháu Lâm Ngọc H, sinh ngày 18/02/2019

Hiện nay cháu D và cháu H đang chung sống với tôi.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Tại phiên tòa chị T yêu cầu:

Về quan hệ hôn nhân: tôi xin được ly hôn với anh Lâm Quang N.

Về quan hệ con chung: Tôi yêu cầu xin được nhận nuôi dưỡng cháu Lâm Quang D, sinh ngày 27/03/2009 và cháu Lâm Ngọc H, sinh ngày 18/02/2019, tôi không yêu cầu anh Lâm Quang N cấp dưỡng nuôi hai con.

Về quan hệ tài sản chung: không có, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn anh Lâm Quang N trình bày: Tòa án đã tống đạt các văn bản cho anh Lâm Quang N theo quy định của pháp luật nhưng tại phiên tòa hôm nay anh N vẫn vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Đây là vụ kiện Ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS năm 2015. Mặt khác đây là vụ kiện Ly hôn không có yếu tố nước ngoài nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS năm 2015. Ngoài ra Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: anh Lâm Quang N với tư cách là bị đơn. Tại phiên tòa hôm nay anh N vắng mặt không lý do, trước đó Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn anh Lâm Quang N, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà bị đơn không có yêu cầu phản tố vắng mặt thì Tòa án tiến hành xử vắng mặt họ”. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Lâm Quang N là phù hợp theo quy định pháp luật..

[3] Về quan hệ hôn nhân: Xét lời yêu cầu của chị T về quan hệ hôn nhân, chị yêu cầu được ly hôn với anh Lâm Quang N là có cơ sở chấp nhận vì theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. Xét thấy do tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh N hiện đang rất trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh N ngoại tình, có quan hệ với người phụ nữ khác bên ngoài, về đến nhà thì anh N kiếm chuyện với chị T và anh N sử dụng bạo lực gia đình đánh chị T nhiều lần gây thương tích. Chị T có khuyên bảo anh N nhiều lần nhưng anh N không nghe vẫn chứng nào tật ấy, vợ chồng thường xuyên cự cãi lớn tiếng với nhau. Từ đó vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, có lối sống không phù hợp, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy lời yêu cầu của chị T xin được ly hôn với anh N được Tòa án chấp thuận.

[4] Về quan hệ con chung: Chị T yêu cầu xin nhận nuôi dưỡng cháu Lâm Quang D, sinh ngày 27/03/2009 và cháu Lâm Ngọc H, sinh ngày 18/02/2019, chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi hai con. Xét thấy giao cháu Lâm Quang D, sinh ngày 27/03/2009 và cháu Lâm Ngọc H, sinh ngày 18/02/2019 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu là có cơ sở chấp nhận vì theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Do cháu Lâm Quang D hiện nay mới chỉ 16 tuổi và nguyện vọng của cháu D là nếu chị T và anh N ly hôn thì cháu D sẽ sống với chị T và từ lúc chị T và anh N sống ly thân từ tháng 09 năm 2023 cho đến nay thì cháu D và cháu H luôn được chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đầy đủ. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy giao cháu Lâm Quang D và cháu Lâm Ngọc H cho chị T trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định của pháp luật. Không ai có quyền cản trở việc tới lui thăm nom con chung.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Do chị T và anh N không có tài sản chung và không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[6] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị T phải nộp 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0013038 ngày 21/03/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G R, tỉnh Kiên Giang. Chị T đã nộp đủ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Bích T.
  2. Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị Bích T và anh Lâm Quang N được ly hôn.
  3. Về quan hệ con chung: Giao cháu Lâm Quang D, sinh ngày 27/03/2009 và cháu Lâm Ngọc H, sinh ngày 18/02/2019 cho chị Trần Thị Bích T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và nguyện vọng của cháu D là chị T và anh N ly hôn thì cháu D sẽ sống với chị T. Anh Lâm Quang N không phải cấp dưỡng nuôi con. Không ai có quyền cản trở việc tới lui thăm nom con chung.
  4. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Trần Thị Bích T nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0013038 ngày 21/03/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G R, tỉnh Kiên Giang. Chị T đã nộp đủ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đinh tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Báo cho chị Trần Thị Bích T biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Báo cho anh Lâm Quang N biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Giồng Riềng.
  • - TAND tỉnh Kiên Giang .
  • - Chi cục THADS huyện Giồng Riềng.
  • - Các đương sự.
  • - Lưu HS.
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Quang Nhật

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 344/2025/HNGĐ-ST ngày 28/05/2025 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang về ly hôn

  • Số bản án: 344/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị Bích T xin được ly hôn với anh Lâm Quang N. Về con chung: chị T yêu cầu xin được nhận nuôi dưỡng cháu Lâm Quang D, sinh ngày 27/03/2009 và cháu Lâm Ngọc H, sinh ngày 18/02/2019, chị T không yêu cầu anh Lâm Quang N cấp dưỡng nuôi hai con. Về tài sản chung: không có, không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger