Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 344/2025/DS-PT

Ngày 23-6-2025

“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Chí Tâm;

Các Thẩm phán: Ông Ngô Tấn Lợi;

Ông Sỹ Danh Đạt;

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hoàng Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Ông Nguyễn Văn Phụng - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong các ngày 21 tháng 3, ngày 21 tháng 4, ngày 20 tháng 5, ngày 05 và ngày 23 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2025/TLPT-DS ngày 08/01/2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 117/2024/DS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 87/2025/QĐ-PT ngày 10 tháng 02 năm 2025, giữa:

Nguyên đơn: Nguyễn Thị C, sinh năm: 1955;

Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện hợp pháp: Anh Triệu Trọng Đ, sinh năm 1989;

Địa chỉ: Tổ A, ấp Đ, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Tạm trú: Số A, đường L, phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Bị đơn:

  1. Trương Thị T, sinh năm: 1963.
  2. Văn Đình H, sinh năm: 1958.

Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện hợp pháp của bà T, ông H: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Số I, Khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thị T1, sinh năm 1957;
  2. Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1949;
  4. Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người kháng cáo: Bà Trương Thị T, ông Văn Đình H là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị C và người đại diện hợp pháp anh Triệu Trọng Đ trình bày:

Bà C và vợ chồng ông H, bà T biết nhau do Cô H2 của bà là thông gia với mẹ của ông H.

Do chỗ quen biết nhau và tin tưởng, ngày 21/11/1996, bà T và ông H có đến nhà của bà hỏi vay 20 chỉ vàng 24kara, lãi suất hai bên thỏa thuận mỗi tháng 05 phân vàng 24kara/10 chỉ, bà T viết biên nhận vàng cho bà, bà giao vàng cho bà T, có mặt ông H nhưng ông H không có ký tên biên nhận, vì lúc này ông H ngồi uống trà với chồng của bà là ông Ngọc A.

Nội dung biên nhận có ghi “.. bà 5 Ngọc A1 ...” được hiểu là chồng của bà tên Nguyễn Ngọc A, thứ 5, nên mọi người thường gọi bà 5 Ngọc A.

Nhưng từ khi nhận vàng của bà, vợ chồng bà T, ông H chỉ đăng lãi cho bà được 01 lần là 02 tháng (lâu quá bà không nhớ ngày tháng năm, bà có viết biên nhận cho bà T để làm bằng chứng) là 02 chỉ vàng 24kara, từ đó đến nay không trả nợ vốn và lãi, 02 chỉ vàng giá vào thời điểm trả bao nhiêu tiền bà không xác định.

Sau đó, bà có gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã T. Ngày 17/11/2022, Ủy ban nhân dân xã T hòa giải thì ông H, bà T đồng ý có vay của bà 20 chỉ vàng vào năm 1996, nhưng cho rằng vay giùm cho bà Nguyễn Thị T1.

Bà xác định nợ vàng của ông H, bà T và nợ vàng của bà T1 là hai khoản nợ khác nhau, trong đó nợ của bà T1 thì bà T1 đã trả xong theo Biên bản hòa giải ngày 06/12/2012 của Ủy ban nhân dân xã T.

Nay bà C yêu cầu ông Văn Đình H và bà Trương Thị T trả lại vàng vay 20 chỉ vàng 24kara (vàng thị trường) theo biên nhận ngày 21/11/1996.

- Bị đơn bà Trương Thị T và ông Văn Đình H và Người đại diện hợp pháp anh Nguyễn Văn H1 trình bày:

Năm 1996 bà T, ông H có đứng ra giới thiệu cho bà Nguyễn Thị T1 gặp bà C để vay tiền; bà T1 và bà C tự giao dịch và bà T1 là người trực tiếp nhận 20 chỉ vàng của bà C. Bà T, ông H không có giao dịch vay vàng của bà C, sau lần này thì không gặp bà C cho đến nay. Do đó, ông H và bà T không đồng ý theo yêu cầu của bà C.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1 trình bày:

Vắng mặt không lý do, không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Toà án lập biên bản không tiến hành hoà giải được.

Tại phiên tòa sơ thẩm bà T1 có mặt và trình bày: Năm 1996, bà có nhu cầu vay vàng để làm ăn, do không biết bà C, nên bà có nhờ bà T và ông H dẫn bà đến nhà bà C hỏi vay 20 chỉ vàng, bà C giao vàng cho bà nhận, có làm giấy hay không thì bà không nhớ, bà có trả cho bà C nhiều lần, do bà C tính lãi suất cao, nên chưa trả hết nợ. Năm 2012, bà C khởi kiện bà tại Ủy ban nhân dân xã T, thì bà T1 và bà C thỏa thuận là bà trả cho bà C 15 chỉ vàng, trả 02 lần, bà đã trả xong. Do đó, nợ bà đã trả cho bà C và bà C kiện bà T, ông H là một khoản nợ. Bà đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu của bà C.

Bản án dân sự sơ thẩm số 117/2024/DS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2024

của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười quyết định:

Căn cứ khoản 2 Điều 228, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, khoản 1 Điều 466 và Điều 469 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C.
  3. Buộc bà Trương Thị T và ông Văn Đình H liên đới trả bà Nguyễn Thị C 18 chỉ vàng 24kara (vàng thị trường).
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Bà Trương Thị T và ông Văn Đình H phải chịu 6.390.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng, bà T và ông H được miễn nộp án phí, thuộc trường hợp người cao tuổi.
    2. Bà Nguyễn Thị C được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, thuộc trường hợp người cao tuổi.

Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự. Sau khi xét xử vụ án, Bà T, ông H kháng cáo yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C.

Tại phiên tòa phúc thẩm có mặt bà C, anh Đ, anh H1, bà T1. Các đương sự khẳng định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án giải quyết vụ án. Bà T, ông H do anh H1 đại diện trình bày bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo là yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C. Lý do bà T không viết biên nhận cho bà C và việc giám định không thực hiện được thì bà T không có ý kiến. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét số vàng là của bà T1 vay bà C và đã trả xong nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà T. Yêu cầu xem xét thời hiệu khởi kiện và trách nhiệm liên đới trả nợ của ông H.

Bà C, anh Đ trình bày: Số vàng nợ bà C của bà T1 và của bà T, ông H là khác nhau. Số vàng nợ của bà T1 đã tranh chấp giải quyết rồi. Còn của bà T, ông H thì chưa trả, vì quan hệ thân thiết nên bà để thời gian lâu dài mới đòi lại. Nay căn cứ biên nhận nợ và biên bản hòa giải ngày 17/11/2022 nên bà C yêu cầu bà T, ông H phải trả vàng cho bà.

Bà T1 trình bày: Số vàng bà C kiện bà T, ông H là số vàng bà T1 vay của bà C. Bà C đã tranh chấp vào năm 2012 và bà T1 đã trả xong cho bà C.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng có mặt thực hiện đúng theo quy định về quyền và nghĩa vụ đương sự. Về nội dung giải quyết vụ án tranh chấp đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà T, ông H; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự thống nhất thành phần những người tham gia tố tụng; những người tham gia tố tụng. Không có khiếu nại, không có yêu cầu gì khác.

[2] Xét về nội dung vụ án tranh chấp các đương sự Tòa án cấp sơ thẩm qua thu thập chứng cứ và diễn biến phiên tòa:

[2.1] Xét về nội dung khởi kiện của nguyên đơn của bà Nguyễn Thị C: Chứng cứ bà C khởi kiện là biên nhận viết tay ghi ngày 21/11/1996 có nội dung “... tôi Chương Thị T2 chồng Văn Đình H có hỏi 2 cây vàng 24k của bà 5 Ngọc A, mỗi tháng đóng lời 1 cây bằng 5 phân”.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 27/7/2024, bà T2 không thừa nhận nội dung chữ viết và chữ viết Trương Thị T là do bà viết. Nhưng, bà T không yêu cầu trưng cầu giám định. Do đó, nếu không phải chữ viết của bà T, thì lý do nào bà T không yêu cầu giám định để xác định loại trừ trách nhiệm của bà T.

Tại biên bản hòa giải ngày 17/11/2022 của Ủy ban nhân dân xã T thì ông H, bà T thừa nhận vào năm 1996, vợ chồng bà có hỏi vay của bà Nguyễn Thị C (ấp B, xã H) số vàng 20 chỉ vàng 24k (có biên nhận hay không tôi không nhớ). Phần 20 chỉ vàng trên là tôi vay giùm cho chị Nguyễn Thị T1, chị T1 đứng ra nhận trực tiếp của bà C, đến đây gia đình tôi không có trách nhiệm. Như vậy, lời thừa nhận của ông H, bà T là phù hợp với biên nhận năm 1996 do bà C cung cấp.

Tại biên bản hòa giải ngày 06/12/2012 của Ủy ban nhân dân xã T, bà T1 trình bày: Tôi thừa nhận có hỏi mượn của bà C 02 cây vàng 24k, mỗi tháng tôi phải trả tiền lãi cho bà C 400.000 đồng, do tiền lãi nhiều quá nên tôi mượn chỗ khác trả cho bà C là 02 cây vàng, còn thiếu lại tiền lãi 1,7 cây vàng, sau đó trả thêm 05 chỉ, còn thiếu 1,2 cây vàng 24k. Nay xin bà C cho tôi trả 1 cây vàng 24k và ý kiến trình bày của ông Nguyễn Văn C1 (chồng của bà T1) là có hỏi mượn của bà C 02 cây vàng và 1,7 cây vàng tiền lãi, tôi đã trả cho bà C 02 cây vàng, còn thiếu lại 1,7 cây vàng 24k. Anh chị C buộc tôi phải trả nếu không trả thì phải viết biên nhận nợ 3,5 cây vàng. Kết thúc hòa giải, bà C, ông C1, bà T1 thống nhất là ông C1, bà T1 trả bà C 15 chỉ vàng, trả 02 đợt. Đợt 1 ngày 30/02/2013 trả 7,5 chỉ, đợt 2 ngày 30/02/2014 trả 7,5 chỉ. Do đó, nội dung biên bản không có thể hiện nội dung số vàng này vợ chồng bà T1 nhờ vợ chồng bà T vay giùm của bà C.

Ngày 12/01/2023, Tòa án thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện của bà C, về việc yêu cầu bà T, ông H trả 20 chỉ vàng theo biên nhận ngày 21/11/1996 và 47,8 chỉ vàng lãi. Kèm theo đơn khởi kiện, bà C nộp biên nhận ghi ngày 01/6/2000 có nội dung “Tôi Nguyễn Văn C1 có thiếu chị N số vàng 3 cây rưởi, tới 30/2/2001 trả bằng 4 cây. Nếu tôi không có trả tôi giao đất bằng 3 chỉ 1 công”. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đưa ông C1, bà T1 tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đến ngày 25/9/2023, bà C rút đơn khởi kiện, Thẩm phán đình chỉ việc giải quyết vụ án. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà T1 thừa nhận nội dung biên nhận ghi ngày 01/6/2000 là do ông C1 viết, bà và ông C1 cùng ký tên. Nội dung biên nhận ngày 01/6/2000 cũng hoàn toàn không có thể hiện nội dung số vàng này vợ chồng bà T1 nhờ vợ chồng ông H vay giùm của bà C.

[3] Do đó, có đủ căn cứ xác định 20 chỉ vàng theo biên nhận 21/11/1996 giữa bà C với bà T và ông H và 35 chỉ vàng theo biên nhận ngày 01/6/2000 giữa bà C với bà T1 và ông C1 là không liên quan với nhau.

Bà T, ông H xác định nếu có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C, thì bà T, ông H không yêu cầu bà T1 trả lại vàng vay giùm cho bà T1 trong vụ án này.

[4] Do đó, buộc bà Trương Thị T và ông Văn Đình H có nghĩa vụ liên đới trả bà Nguyễn Thị C 18 chỉ vàng 24kara (vàng thị trường).

[5] Đồng thời căn cứ vào đây để quyết định án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[6] Sau khi xét xử sơ thẩm thì bà T, ông H kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C và không cung cấp thêm chứng cứ gì mới. Ngoài ra không kháng cáo nội dung gì khác. Hội đồng xét xử phúc thẩm còn xét thấy bà T kháng cáo có yêu cầu giám định chữ viết, chữ ký nhưng không cung cấp được chứng cứ để thực hiện việc giám định. Đối với chứng cứ bà T yêu cầu Tòa án thu thập thì Phòng K - Công an tỉnh Đ có Công văn trả lời là không đủ cơ sở thực hiện việc giám định. Bà T, bà T1 nói số vàng này là cùng một số vàng bà C cho bà T1 vay nhưng bà C không thừa nhận. Bà T1 nói đã trả vàng cho bà C xong nhưng không lấy lại biên nhận nợ; số vàng vay vào năm 2000, trả năm 2012 không trùng với số vàng bà C khởi kiện bà T, ông H thiếu năm 1996.

Đối với ông H thì anh H1 yêu cầu xem xét trách nhiệm liên đới cùng trả nợ. Căn cứ biên bản hòa giải ngày 17/11/2022 có đủ căn cứ buộc ông H, bà T trả vàng cho bà C. Về việc đề nghị xem xét thời hiệu khởi kiện thì do trước đây bà T, ông H tại Tòa án cấp sơ thẩm không đề nghị xem xét yêu cầu khởi kiện của bà C nên không có căn cứ chấp nhận.

Do đó không chấp nhận về nội dung tranh chấp theo yêu cầu kháng cáo của bà T, ông H là đúng theo quy định pháp luật.

[7] Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà T, ông H, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp, đúng quy định pháp luật nên chấp nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định không chấp nhận kháng cáo của bà T, ông H, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[8] Về chi phí, án phí dân sự phúc thẩm: Do bà T, ông H là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền tạm ứng án phí và án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Không chấp nhận kháng cáo của bà Trương Thị T và ông Văn Đình H.

- Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C.
  3. Buộc bà Trương Thị T và ông Văn Đình H liên đới trả bà Nguyễn Thị C 18 chỉ vàng 24kara (vàng thị trường).
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • Bà Trương Thị T và ông Văn Đình H được miễn nộp án phí do thuộc trường hợp là người cao tuổi.
    • Bà Nguyễn Thị C được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, thuộc trường hợp người cao tuổi.
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm:
    • Bà Trương Thị T và ông Văn Đình H được miễn nộp án phí, thuộc trường hợp người cao tuổi.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Phòng KTNV và THA TAT;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Đồng Tháp;
  • - TAND huyện Tháp Mười;
  • - Chi cục THADS huyện Tháp Mười;
  • - Lưu VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Chí Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 344/2025/DS-PT ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 344/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ: Nguyễn Thị Châu BĐ: Trương Thị Thía
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger