|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 344/2024/HS-ST Ngày 22/10/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Trường
Ông Đặng Song Hoàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Hạnh – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Q - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 343/2024/HS-ST ngày 07 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 384/2024/QĐST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Lương Quang S, sinh năm 1988 tại tỉnh Nghệ An; Nơi thường trú: 5 L, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi ở: 434/9 đường C, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Lương Quyết T, sinh năm 1956 (đã chết); Mẹ: Lê Thị N, sinh năm 1960; Vợ: Lê Bá Thùy L, sinh năm 1989 (đã ly hôn);
Tiền án: 02 tiền án, cụ thể:
- Ngày 22/10/2018, Lương Quang S bị Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tuyên phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
- Ngày 30/12/2020, Lương Quang S bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu tuyên phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đến ngày 19/01/2023, S chấp hành xong án phạt tù.
Tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giam từ ngày 12 tháng 4 năm 2024. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (Có mặt).
2. Trần Thị Diễm M, sinh năm 2003 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi thường trú: Khu phố P, TT P, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nơi ở hiện tại: C N, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Cha: Trần Chí D (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 1975; Con: Có 02 người con, lớn sinh năm 2022, nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện trú tại: C N, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Có mặt).
3. Phạm Hồng Linh D1, sinh năm 1995, tại tỉnh Gia Lai; Nơi thường trú: 121/24/1 B, Phường D, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi ở: Chung cư B Lô B, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Phạm Hồng T2, sinh năm 1968; Mẹ: Lê Thị H, sinh năm 1972;Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giam từ ngày 12 tháng 4 năm 2024. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (Có mặt).
4. Lê Quang Đ, sinh năm 1994, tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi thường trú: D B, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi ở: 2 N, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Thợ cơ khí; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Lê Văn S1, sinh năm 1968; Mẹ: Trần Thị H1, sinh năm 1972;Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giam từ ngày 12 tháng 4 năm 2024. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (Có mặt).
5. Mai Văn H2, sinh năm 1993, tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi thường trú: B N, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi ở: 7 B, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Mai Văn S2, sinh năm 1969; Mẹ: Nguyễn Thị Thu H3, sinh năm 1969; Bị cáo có một người con, sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giam từ ngày 12 tháng 4 năm 2024. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 10 giờ 50 phút ngày 12/4/2024, tại khu vực trước hẻm S đường C, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Công an phường R, Công an thành phố V kiểm tra bắt quả tang Lê Quang Đ và Mai Văn H2 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (BL 95 - 96), tang vật thu giữ gồm:
- -01 gói nylon màu trắng, hàn kín, bên trong chứa chất kết tinh không màu trong suốt (Lê Quang Đ và Mai Văn H2 khai nhận là ma túy tổng hợp dạng đá);
- -01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 72C1-674.62;
- -01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S;
- -01 chiếc điện thoai di động nhãn hiệu Realme C53.
Tiếp đó, khoảng 10 phút sau tại khu vực trên Công an phường R tiếp tục bắt quả tang Phạm Hồng Linh D1 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (BL 64 - 65), tang vật thu giữ gồm:
- - 01 gói nylon màu trắng hàn kín, bên trong chứa chất kết tinh không màu trong suốt (D1 khai nhận là ma túy tổng hợp dạng đá);
- - 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Spacy, biển kiểm soát 29D1-468.99;
- - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung.
Cơ quan Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Quang Đ, Mai Văn H2 và Phạm Hồng Linh D1 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ toàn bộ tang vật có liên quan.
Tại Cơ quan Công an, Lê Quang Đ, Mai Văn H2 và Phạm Hồng Linh D1 khai nhận số ma túy bị bắt quả tang nêu trên mua của Lương Quang S và Trần Thị Diễm M, tại địa chỉ: số D đường C, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để sử dụng. Mở rộng điều tra vụ án, Cơ quan Công an tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của S và M thu giữ các tang vật gồm:
- - 02 gói nylon hàn kín, bên trong chứa chất kết tinh không màu, trong suốt (S khai nhận là ma túy tổng hợp dạng đá);
- - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S9;
- - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7.
Cơ quan Công an ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lương Quang S và Trần Thị Diễm M về hành vi mua bán trái phép chất ma túy và thu giữ các tang vật có liên quan.
Kết quả điều tra vụ án xác định:
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Lê Quang Đ, Mai Văn H2:
Lê Quang Đ và Mai Văn H2 là bạn chơi chung với nhau, cả hai là đối tượng nghiện ma túy. Vào ngày 12/4/2024, H2 đi qua nhà Đ tại địa chỉ: số B B, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để chơi. Sau đó, H2 bàn bạc với Đ mua 100.000 đồng ma túy về để sử dụng và được Đại đồng ý. Đ gọi điện cho Lương Quang S qua số điện thoại 0818.393.xxx hỏi mua 100.000 đồng ma túy và được S đồng ý bán. Tiếp đó, H2 điều khiển xe mô biển kiểm soát 72C1-674.62 chở Đ đến tiệm T5 tại khu vực đường V thuộc phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nhờ chủ tiệm tạp hóa tên N1 (chưa rõ lai lịch) nạp giùm vào tài khoản ví điện tử MoMo của Đại số tiền 500.000 đồng. Sau khi nạp tiền thành công, Đ chuyển vào tài khoản MoMo của Lương Quang S số tiền 300.000 đồng (trong đó: 100.000 đồng tiền mua ma túy; 200.000 đồng Đại trả nợ số tiền mua ma túy vào ngày 11/4/2024). Tiếp đó, H2 và Đ đi đến nhà của S tại địa chỉ 4 đường C để lấy ma túy. Khi đến nơi, Đ xuống xe đứng đợi trước cổng nhà S chờ lấy ma túy, H2 chạy xe xuống cuối hẻm D dừng xe đứng chờ. Đ đứng chờ khoảng 15 phút sau thì S mở cửa nhà đưa cho Đ 01 gói ma túy đá, Đại bỏ vào túi quần phía trước bên phải và gọi H2 chạy lại đón. Sau khi mua được ma túy, H2 điều khiển xe mô tô chở Đ đi về nhà để sử dụng, khi đi đến khu vực đầu hẻm D đường C thì bị Công an phường R bắt quả tang thu giữ tang vật như trên.
Ngoài lần bắt quả tang nêu trên, Đ khai nhận trước đó mua ma túy của Lương Quang S 02 lần để sử dụng, cụ thể:
- Lần thứ nhất: Khoảng đầu tháng 4/2024, Đại liên H4 mua của S 01 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng, Đ đã thanh toán số tiền mua ma túy qua tài khoản ví điện tử MoMo cho S. Sau khi mua được ma túy, Đ và H2 đã sử dụng hết số ma túy này.
- Lần thứ hai: Vào ngày 11/4/2024, Đ tiếp tục mua của S 01 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng, số tiền mua ma túy Đ được S cho nợ, ngày 12/4/2024, Đ đã chuyển trả nợ cho S qua ví điện tử MoMo cùng với số tiền 100.000 đồng mua ma túy lần thứ 3. Sau khi mua được ma túy, Đ và H2 đã sử dụng hết số ma túy này.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Phạm Hồng Linh D1:
Phạm Hồng Linh D1 là đối tượng nghiện ma túy, để có ma túy sử dụng vào lúc 10 giờ 00 phút ngày 12/4/2024, D1 liên hệ với Trần Thị Diễm M qua phần mềm Messenger hỏi mua 200.000 đồng ma túy và được M đồng ý, D1 thỏa thuận thanh toán tiền mua ma túy cho M qua ví điện tử MoMo. Sau khi chuyển tiền mua ma túy, D1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29D1-468.99 chạy đến địa chỉ: 4 đường C để lấy ma túy. Khoảng 10 giờ 40 phút cùng ngày, D1 đến nơi, M đứng trên lầu 1 căn nhà ném gói ma túy đá xuống, D1 nhặt lên bỏ vào túi quần phía trước bên phải và điều khiển xe đi về, khi đến khu vực đầu hẻm D đường C thì bị Công an phường R kiểm tra bắt quả tang như trên. Ngoài ra, D1 khai nhận trước đó đã mua ma túy của M 04 lần cụ thể: Lần thứ 01,02,03 (Dũ không nhớ rõ ngày tháng); lần thứ 4 vào ngày 10/4/2024, mỗi lần D1 mua của M 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng, V thanh toán bằng cách chuyển tiền qua tài khoản ví điện tử MoMo số 0925473707 của M. Toàn bộ số ma túy từ 04 lần mua này D1 đã sử dụng hết.
Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Lương Quang S và Trần Thị Diễm M:
Lương Quang S là đối tượng nghiện ma túy, để có ma túy sử dụng và tiền tiêu sài cá nhân, khoảng đầu tháng 01/2024, S nảy sinh ý định mua ma túy về chia nhỏ bán lại cho các con nghiện trên địa bàn thành phố V kiếm lời. Thực hiện ý định này, S liên hệ mua ma túy của đối tượng tên “L” (chưa rõ nhân thân lai lịch) mỗi lần từ khoảng 800.000 đồng đến 2.800.000 đồng và chia nhỏ ma túy bán cho các con nghiện theo nhu cầu. Đến khoảng tháng 3/2024, Trần Thị Diễm M đến sống chung với S tại căn nhà địa chỉ số D đường C, để có ma túy sử dụng và tiền tiêu sài hàng ngày, M đã đồng ý giúp S bán ma túy. Khi có người liên hệ mua ma túy, M sẽ hỏi S có bán không, nếu S đồng ý thì M sẽ yêu cầu người mua chuyển tiền qua ví điện tử MoMo của S, sau đó M cung cấp địa chỉ nhà để người mua đến lấy ma túy. Từ tháng 3/2024 đến ngày bị bắt quả tang, M đã giúp S bán ma túy cho Phạm Hồng L1 Dũ 05 lần, mỗi lần với số tiền 200.000 đồng. Ngoài ra, S còn bán ma túy cho Lê Quang Đ 03 lần như trên.
Tại Kết luận giám định số: 244/KL-KTHS-MT ngày 19/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B (BL 114) kết luận đối với tang vật thu giữ của Lê Quang Đ và Mai Văn H2: “Mẫu A có khối lượng 0,1266 gam, là ma túy, loại Methamphetamine”.
Tại Kết luận giám định số: 245/KL-KTHS-MT ngày 19/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B (BL 117) kết luận đối với tang vật thu giữ của Phạm Hồng Linh D1:“Mẫu A1 có khối lượng 0,1891 gam, là ma túy, loại Methamphetamine”; kết luận đối với tang vật thu giữ của Lương Quang S: “Mẫu A2 có khối lượng 0,7028 gam, là ma túy, loại Methamphetamine”.
Quá trình điều tra, Lê Quang Đ, Mai Văn H2, Phạm Hồng Linh D1 khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; Lương Quang S, Trần Thị Diễm M khai nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy, công nhận kết quả giám định. Lời khai của 05 bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Việc thu giữ, xử lý vật chứng, đồ vật, tài liệu:
- + 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 72C1-674.62; số máy: JF45E-0575413; số khung: RLHJF4512FY026511, kết quả điều tra xác định chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Thu H3 (sinh năm: 1969, nơi cư trú: B N, phường T, Tp., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), bà H3 không biết Mai Văn H2 (con ruột) sử dụng vào mục đích phạm tội nên ngày 26/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe cho bà H3.
- - Các vật chứng còn lại chuyển Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu tiếp tục bảo quản chờ xử lý gồm:
- + 1,0185 gam ma túy, loại Methamphetamine thu giữ của 05 bị can, Cơ quan giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định, còn lại 03 phong bì niêm phong vụ số: 244, 245/A1, 245/A2 KL-KTHS-MT ngày 26/04/2024 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh B;
- + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu xám;
- + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme C53 màu vàng, có số điện thoại 0902.030.xxx, số IMEI 1: 86783806790859;
- + 01 chiếc xe máy màu đen, hiệu Spacy, biển kiểm soát 29D1-468.99; số máy: JF04E-2204564;
- + 01 chiếc điện thoại di động hiệu SamSung, màu đen, có số điện thoại 0797.482.xxx, số IMEI 1: 357186103901803; IMEI 2: 357187103901801;
- + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S9, màu tím, số Imei: 359943090057082;
- + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu hồng, số I: 356391101320367;
- + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Poco C40 màu xanh, số I: 862598050678887;
- + 01 viên kẹo Kopico.
Bản cáo trạng số 324/CT-VKSTPVT ngày 04/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố:
- - Lương Quang S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự;
- - Trần Thị Diễm M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự;
- - Phạm Hồng Linh D1, Lê Quang Đ, Mai Văn H2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố:
- - Hành vi bị cáo Lương Quang S thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự;
- - Hành vi bị cáo Trần Thị Diễm M thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự;
- - Hành vi các bị cáo Phạm Hồng Linh D1, Lê Quang Đ, Mai Văn H2 thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lương Quang S từ 09 năm đến 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị Diễm M từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phạm Hồng Linh D1, Lê Quang Đ, Mai Văn H2, mỗi bị cáo mức án từ 12 tháng đến18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- * Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX:
- - Tịch thu tiêu hủy: 03 phong bì niêm phong vụ số: 244, 245/A1, 245/A2 KL-KTHS-MT ngày 26/04/2024 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh B và 01 viên kẹo Kopico.
- - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
- + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme C53 màu vàng, có số điện thoại 0902.030.xxx, số IMEI 1: 86783806790859;
- + 01 chiếc xe máy màu đen, hiệu Spacy, biển kiểm soát 29D1-468.99; số máy: JF04E-2204564;
- + 01 chiếc điện thoại di động hiệu SamSung, màu đen, có số điện thoại 0797.482.xxx, số IMEI 1: 357186103901803; IMEI 2: 357187103901801;
- + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu hồng, số I: 356391101320367;
- + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Poco C40 màu xanh, số I: 862598050678887.
- - Trả lại cho bị cáo Mai Văn H2: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu xám; Trả lại cho bị cáo Lương Quang S: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S9, màu tím, số I: 359943090057082.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh và không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Vào lúc 10 giờ 50 phút ngày 12/4/2024, tại khu vực trước hẻm S đường C, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Công an phường R, Công an thành phố V kiểm tra bắt quả tang Lê Quang Đ và Mai Văn H2 có hành vi tàng trữ trái phép 0,1266 gam ma túy, loại Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng. Tiếp đó, khoảng 10 phút sau tại khu vực trên Công an phường R tiếp tục bắt quả tang Phạm Hồng Linh D1 có hành vi tàng trữ trái phép 0,1891 gam ma túy, loại Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng.
Tại Cơ quan Công an, Lê Quang Đ, Mai Văn H2 và Phạm Hồng Linh D1 khai nhận số ma túy trên mua của Lương Quang S và Trần Thị Diễm M tại địa chỉ: số D đường C, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Cơ quan Công an tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lương Quang S và Trần Thị Diễm M thu giữ 0,7028 gam ma túy, loại Methamphetamine. S khai nhận số ma túy này là của S nhằm mục đích mua bán. Ngoài ra, Lương Quang S đã thực hiện mua bán ma túy 08 lần cho Lê Quang Đ, Mai Văn H2 và Phạm Hồng Linh D1. Trần Thị Diễm M đã giúp sức cho Lương Quang S bán ma túy cho Phạm Hồng L1 Dũ 05 lần. Trong những lần mua bán trái phép của S và M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Lương Quang S đã tái phạm tại, chưa được xóa án tích, nay lại phạm tội do lỗi cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” là tình tiết định khung theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Như vậy:
- - Hành vi bị cáo Lương Quang S thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự;
- - Hành vi bị cáo Trần Thị Diễm M thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự;
- - Hành vi các bị cáo Phạm Hồng Linh D1, Lê Quang Đ, Mai Văn H2 thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát truy tố các bị cáo theo tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Tính đồng phạm và vai trò của các bị cáo:
Trong vụ án có tính chất đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, giữa Lương Quang S và Trần Thị Diễm M; giữa bị cáo Lê Quang Đ và Mai Văn H2 không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội nên không xem là phạm tội có tổ chức. Xét vai trò của từng bị cáo cụ thể như sau:
- - Bị cáo Lương Quang S là đối tượng chủ mưu liên hệ mua ma túy về để bán kiếm lời, S thực hiện mua bán ma túy cho Lê Quang Đ, Mai Văn H2, Phạm Hồng L1 Dũ 08 lần.
- - Bị cáo Trần Thị Diễm M có vai trò đồng phạm giúp sức tích cực cho Lương Quang S trong việc mua bán trái phép chất ma túy để S cho M sử dụng ma túy cùng. M đã giúp sức cho S bán ma túy cho Phạm Hồng L1 Dũ 05 lần, mỗi lần với số tiền 200.000 đồng.
- - Bị cáo Lê Quang Đ và Mai Văn H2 có hành vi tàng trữ trái phép 0,1266 gam ma túy nhằm mục đích sử dụng.
- - Bị cáo Phạm Hồng Linh D1 có hành vi tàng trữ trái phép 0,1891 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng.
[4] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ; là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Các bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực hành vi, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy, mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét giảm cho các bị cáo một phần hình phạt.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Cần tịch thu tiêu hủy: 03 phong bì niêm phong vụ số: 244, 245/A1, 245/A2 KL-KTHS-MT ngày 26/04/2024 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh B và 01 viên kẹo Kopico chứa vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng.
- - Cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước các công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng liên lạc để thực hiện tội phạm sau đây:
- + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme C53 màu vàng, có số điện thoại 0902.030.xxx, số IMEI 1: 86783806790859;
- + 01 chiếc xe máy màu đen, hiệu Spacy, biển kiểm soát 29D1-468.99; số máy: JF04E-2204564;
- + 01 chiếc điện thoại di động hiệu SamSung, màu đen, có số điện thoại 0797.482.xxx, số IMEI 1: 357186103901803; IMEI 2: 357187103901801;
- + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu hồng, số I: 356391101320367;
- + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Poco C40 màu xanh, số I: 862598050678887.
- - Trả lại cho bị cáo Mai Văn H2: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu xám; Trả lại cho bị cáo Lương Quang S: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S9, màu tím, số I: 359943090057082. Đây là những tài sản không liên quan đến tội phạm.
[8] Đối với người thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) là người bán ma túy cho Hứa H5 và người bạn H5 tên T3, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định pháp luật.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố:
- - Các bị cáo: Lương Quang S, Trần Thị Diễm M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- - Các bị cáo: Phạm Hồng Linh D1, Lê Quang Đ, Mai Văn H2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Căn cứ:
- - Căn cứ điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lương Quang S: 10 (M1) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 4 năm 2024.
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị Diễm M: 8 (T4) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt phải thi hành án.
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Hồng L1 Dũ: 01 (Một) năm 06 (S2) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 4 năm 2024.
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Quang Đ: 01 (Một) năm 06 (S2) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 4 năm 2024.
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mai Văn H2: 01 (Một) năm 06 (S2) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 4 năm 2024.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 03 phong bì niêm phong vụ số: 244, 245/A1, 245/A2 KL-KTHS-MT ngày 26/04/2024 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh B và 01 viên kẹo Kopico.
- - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
- + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme C53 màu vàng, có số điện thoại 0902.030.xxx, số IMEI 1: 86783806790859;
- + 01 chiếc xe máy màu đen, hiệu Spacy, biển kiểm soát 29D1-468.99; số máy: JF04E-2204564;
- + 01 chiếc điện thoại di động hiệu SamSung, màu đen, có số điện thoại 0797.482.xxx, số IMEI 1: 357186103901803; IMEI 2: 357187103901801;
- + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu hồng, số I: 356391101320367;
- + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Poco C40 màu xanh, số I: 862598050678887.
- - Trả lại cho bị cáo Mai Văn H2: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu xám.
- - Trả lại cho bị cáo Lương Quang S: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S9, màu tím, số I: 359943090057082.
Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 16/BB.THA ngày 10/10/2024.
4. Án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 về án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo: Lương Quang S, Trần Thị Diễm M; Phạm Hồng Linh D1, Lê Quang Đ, Mai Văn H2, mỗi người phải nộp 200.000 đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
11
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Thu Nga |
12
Bản án số 344/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 344/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: S, M, D, Đ, H - Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy
