|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 234/2024/DS-PT Ngày 24 tháng 04 năm 2024 V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất, vô hiệu HĐ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bồi thường thiệt hại tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Huỳnh Thanh Duyên
Các thẩm phán:
- Bà Lê Thị Tuyết Trinh
- Ông Lê Thành Long
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Trần Ngọc Đảm - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 16 tháng 4 năm 2024 và ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 86/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 01 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất, vô hiệu HĐ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bồi thường thiệt hại tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 39/2023/DS-ST ngày 10 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1029/2024/QĐPT-DS ngày 02 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1964 (Có mặt);
Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T: Ông Nguyễn Văn K, trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp luật sư nhà nước tỉnh L (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn:
- Ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1956; (Có mặt);
- Bà Võ Thị Ngọc C, sinh năm 1960. (Có mặt);
Cùng địa chỉ: Số C, Quốc lộ F, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Đ: Bà Võ Thị Ngọc C (Theo Văn bản uỷ quyền ngày 11/11/2019) (Có mặt);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đ, bà C: Luật sư Nguyễn Hòa B, Văn phòng Luật sư Nguyễn Hòa B, Đoàn Luật sư tỉnh L
Địa chỉ: G C, Phường A, thành phố T, tỉnh Long An
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1968;
Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà T1: ông Nguyễn Văn T. Sinh năm 1964 (Có mặt);
Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An (Theo Văn bản uỷ quyền ngày 13/11/2017)
- Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1950; (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp V, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
- Ông Huỳnh Văn L, sinh năm 1990; (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp V, xã T, huyện T, tỉnh Long An
Người đại diện theo uỷ quyền của bà T2, ông L: Ông Huỳnh Văn T3, sinh năm 1982 (Có mặt);
Địa chỉ: Số B, đường số F, khu phố B, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T2, ông L: Luật sư Vũ Khắc Đ1, văn phòng Luật sư Vũ Khắc Đ1, Đoàn Luật sư Thành phố H (Có mặt);
Địa chỉ: 396 Nguyễn Đình Chiểu, Phường 3, thành phố Tân An, tỉnh Long An
- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L;
Địa chỉ: Số A Quốc lộ A, Phường D, thành phố T, tỉnh Long An.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Phạm Tấn T4 – Giám đốc chi nhánh V đăng ký đất đai tại huyện Đ (Theo văn bản số 8774 ngày 09/12/2022 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L) (vắng mặt);
- Ủy ban nhân dân huyện Đ; (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Văn phòng C4 (trước đây là Văn phòng công chứng Minh Thư); Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Số A L, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An
Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Thành Đ, bà Võ Thị Ngọc C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T2, ông Huỳnh Văn L.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1 và ông Nguyễn Văn K là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T trình bày:
Vào năm 1985, ông T là Tập đoàn viên của Tập đoàn A khai khẩn diện tích đất 14.463,6m², thửa đất số 428, 429, 440, tờ bản đồ 5, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An để trồng cây B1 và sử dụng đất ổn định. Đến năm 2000, ông Nguyễn Văn T5 (em ông Đ) tranh chấp diện tích đất nói trên với ông T, sự việc được Ủy ban nhân dân xã B hòa giải thành và ông T được tiếp tục sử dụng đất trồng tràm từ năm 2000 cho đến nay.
Năm 2017, bà Nguyễn Thị T2 chặt tràm của ông T trồng nên ông T có báo với Ủy ban nhân dân xã B giải quyết và xảy ra tranh chấp đến nay. Hiện tại ông T vẫn đang quản lý sử dụng diện tích đất nói trên.
Nay căn cứ vào mảnh trích đo bản đồ địa chính ngày 27/3/2019, ông T yêu cầu như sau:
- Hủy một phần quyết định số 3591/QĐ-UBND ngày 27/9/2010 của Ủy ban nhân dân huyện Đ về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 05 hộ dân trong đó có ông Nguyễn Thành Đ.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Thành Đ, bà Võ Thị Ngọc C đối với thửa đất 1862, diện tích 52.743m² tờ bản đồ số 9, loại đất RSX, tại xã B huyện Đ, tỉnh Long An.
- Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Thành Đ, bà Võ Thị Ngọc C với bà Nguyễn Thị T2 đối với diện tích đất thuộc một phần thửa đất số 428 diện tích 6547m², thửa đất 429 diện tích 1423,6m² tờ bản đồ 5, xã B huyện Đ, tỉnh Long An.
- Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Thành Đ, bà Võ Thị Ngọc C và ông Huỳnh Văn L đối với diện tích đất 6493m² thuộc một một phần thửa đất số 440 tờ bản đồ 5, xã B huyện Đ, tỉnh Long An.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Nguyễn Thành Đ, bà Võ Thị Ngọc C đối với thửa đất số 428, 429 và thửa đất số 440, tờ bản đồ 5, xã B huyện Đ, tỉnh Long An.
- Ông T yêu cầu được đăng ký kê khai quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 14.463,6m², thuộc một phần thửa đất số 428, một phần thửa 440 và thửa 429 tờ bản đồ 5, xã B huyện Đ, tỉnh Long An.
- Ông T yêu cầu ông Đ và bà C bồi thường cho ông T 2617 cây tràm trị giá 26.000.000đồng.
Bị đơn bà Võ Thị Ngọc C đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Thành Đ trình bày:
Về nguồn gốc đất: Năm 1975, ông bà nội và cha của ông Đ và ông Đ khai khẩn diện tích đất 52.743m² thuộc đất 1862, tờ bản đồ số 9, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An. Sau khi khai khẩn thì có trồng cây bàng và cây tràm trên đất.
Năm 2000, ông Nguyễn Thành Đ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất nói trên và trồng cây tràm trên đất, đến năm 2010 ông Đ bà C được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 1862. Tháng 01/2016, do có thay đổi số tờ bản đồ nên Ủy ban nhân dân xã B yêu cầu làm thủ tục cấp đổi nên vợ chồng bà làm thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nói trên và được cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ thửa 1862, diện tích 52.743m² thành các thửa đất số 440, 439, 430, 429 và 428, tờ bản đồ 5, diện tích 53.814m² tại xã B, huyện Đ, tỉnh Long An.
Tháng 8/2016 vợ chồng bà chuyển nhượng 5 thửa đất 440, 439, 430, 429, 428, tờ bản đồ 5, xã B huyện Đ, tỉnh Long An cho bà Nguyễn Thị T2 và ông Huỳnh Văn L.
Năm 2017, khi bà T2 và ông L tiến hành canh tác thì ông T ngăn cản và tranh chấp cho đến nay. Bà không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của ông T vì ông T không có gì để chứng minh ông T sử dụng phần đất nói trên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T2, ông Huỳnh Văn L do ông Huỳnh Văn T3 đại diện theo ủy quyền và Luật sư Vũ Khắc Đ1 trình bày:
Năm 2016, bà T2 và ông L nhận chuyển nhượng đất từ bà Võ Thị Ngọc C và ông Nguyễn Thành Đ với tổng diện tích 53.814m² thuộc các thửa đất số 440, 439, 430, 429 và 428, tờ bản đồ 5, xã B huyện Đ, tỉnh Long An. Sau khi nhận chuyển nhượng xong, bà T2 và ông L canh tác thì bị ông T ngăn cản và tranh chấp.
Việc bà T2 và ông L nhận chuyển nhượng 05 thửa đất trên là hợp pháp, thời điểm chuyển nhượng đất không bị tranh chấp và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Do đó, bà T2 và ông L không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của ông T. Bà T2 và ông L yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
Bà Nguyễn Thị T2 yêu cầu:
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 2555, quyển số: 02-TP/CC-SCC-HĐGD ngày 22/8/2016, giữa bà Nguyễn Thị T2 với ông Nguyễn Thành Đ, bà Võ Thị Ngọc C đối với hai thửa đất số 428 và 429 cùng tờ bản đồ số 05, diện tích: 7.970,6m² tại ấp B, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An;
Trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên, bà T2 yêu cầu ông Đ, bà C có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho bà T2 số tiền là 1.594.120.000 đồng.
Ông Huỳnh Văn L yêu cầu:
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 2554, quyển số: 02-TP/CC-SCC-HĐGD ngày 22/8/2016, giữa ông Huỳnh Văn L với ông Nguyễn Thành Đ, bà Võ Thị Ngọc C đối với thửa đất số 440, TBĐ số 5, diện tích 6493m² tại ấp B, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An;
Trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên, ông L yêu cầu ông Đ, bà C có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho ông L số tiền là 1.298.600.000 đồng
Ông T và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T là ông K trình bày: Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn L, bà Nguyễn Thị T2 đối với ông Đ, bà C thì không có ý kiến.
Bà C đồng thời là đại diện theo ủy quyền của ông Đ trình bày: Ông Đ và bà C được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với các thửa đất 440, 439, 430, 429, 428 là hợp pháp, sau đó ông Đ và bà C chuyển nhượng 05 thửa đất trên cho bà Nguyễn Thị T2 và ông Huỳnh Văn L theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định, nên ông Đ bà C thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà T2 và ông L về việc yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với các thửa đất trên giữa ông Đ bà C với bà T2, ông L. Ông Đ và bà C không đồng ý với yêu cầu của bà T2 và ông L về việc bồi thường trong trường hợp Tòa án tuyên vô hiệu các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 428, 429 và 440.
Tại Công văn số 397/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 17/01/2023 Sở T có ý kiến như sau:
Thửa đất số 1862, tờ bản đồ số 9, diện tích 52.473m² loại đất rừng sản xuất tại ấp B, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Thành Đ, bà Võ Thị Ngọc C số BA 359806 ngày 27/9/2010.
Ngày 03/11/2010, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 3104/QĐ-UBND về việc thực hiện dự án đo đạc bản đồ địa chính của 03 xã, 01 thị trấn thuộc huyện Đ. Với kết quả đo đạc mới thì phần đất của ông Đ, bà C có các số thửa là 428, 429, 430, 439, 440 cùng tờ bản đồ số 5, tổng diện tích 53.814,5m².
Ngày 27/01/2016, ông Đ và bà C có đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ thửa đất số 1862, tờ bản đồ số 9, diện tích 52.473m² thành các thửa đất số 428, 429, 430, 439, 440 cùng tờ bản đồ số 5, tổng diện tích 53.814,5m², đất tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An.
Xét thấy hồ sơ đầy đủ, hợp lệ theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ đã thụ lý, giải quyết hồ sơ và trình Sở T ký cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ, bà C, đối với 05 thửa thửa đất 428, 429, 430, 439, 440 cùng tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An là đúng theo quy định của pháp luật về đất đai.
Ngày 22/8/2016 ông Đ, bà C chuyển nhượng thửa đất 428 diện tích 9827,8m² thửa 429 diện tích 1423,6m², cùng tờ bản đồ số 5 loại đất RSX tại xã B huyện Đ cho bà Nguyễn Thị T2, hợp đồng chuyển nhượng được công chứng tại Văn phòng C4 ngày 22/8/2016. Xét thấy hồ sơ chuyển nhượng đầy đủ hợp lệ, đúng quy định của pháp luật nên Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ chỉnh lý cập nhật trên trang 4 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 22/8/2016 ông T bà C chuyển nhượng thửa đất 430 diện tích 3.996,6m², thửa 439 diện tích 2.8269,4m², thửa 440 diện tích 10.297,1m², cùng tờ bản đồ số 5 loại đất RSX tại xã B, huyện Đ cho ông Huỳnh Văn L, hợp đồng chuyển nhượng được công chứng tại Văn phòng C4 ngày 22/8/2016. Xét thấy hồ sơ chuyển nhượng đầy đủ hợp lệ, đúng quy định của pháp luật nên Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ chỉnh lý cập nhật trên trang 4 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Đ và bà C là đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.
Đối với yêu cầu của đương sự, đề nghị Tòa án nhân dân xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại Công văn số 1815/UBND-TNMT ngày 29-7-2022 và Công văn số 1151/UBND-TNMT ngày 27-8-2019 UBND huyện Đ có ý kiến như sau:
Về nguồn gốc, quá trình sử dụng, đăng ký, chỉnh lý biến động: Thửa đất số 429, một phần thửa đất số 428, 440, tờ bản đồ số 5, diện tích 14.463,6m²: Trước năm 1985 thuộc đất hoang. Năm 1985 ông Nguyễn Văn T là Tập đoàn viên của Tập đoàn A trồng cây bàng làm kinh tế phụ ổn định đến năm 2000; Năm 2000 xảy ra tranh chấp đất giữa ông T với ông Nguyễn Văn T5 (em ông Đ), UBND xã B tiến hành hòa giải tranh chấp. Tuy nhiên, hiện nay hồ sơ giải quyết vụ tranh chấp này không còn lưu trữ tại xã; Năm 2000, ông T tiến hành trồng tràm quản lý và sử dụng đến nay.
Quá trình đăng ký, chỉnh lý biến động: Ngày 27/9/2010 UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 3591/QĐ-UBND về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 05 hộ đủ điều kiện cấp Giấy với 06 thửa đất, tổng diện tích cấp Giấy là 84.848m². Trong đó có ông Đ bà C được cấp thửa đất 1862, tờ bản đồ số 9, diện tích 52.743m², mục đích sử dụng: đất rừng sản xuất, địa chỉ thửa đất tại ấp B, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An. Thực hiện dự án đo đạc bản đồ địa chính của 03 xã thị trấn thuộc huyện Đ theo Quyết định số 3104/QĐ- UBND ngày 03/11/2010 của UBND tỉnh L. Năm 2016, ông Đ có đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa đất số 1862, tờ bản đồ số 9, diện tích 52.743m² thành 06 thửa đất gồm: thửa 428, tờ bản đồ số 5, diện tích 9.827,8m²; thửa đất số 429, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.423,6m²; thửa đất số 430, tờ bản đồ số 5, diện tích 3.996,6m²; thửa đất số 439, tờ bản đồ số 5, diện tích 28.269,4m²; thửa đất số 440, tờ bản đồ số 5, diện tích 10.297,4m²; tổng diện tích là 53.814,8m².
Quá trình chuyển nhượng: Ngày 22/8/2016, ông Đ cùng vợ là bà C chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Văn L, hộ khẩu thường trú: ấp V, xã T, huyện T, tỉnh Long An các thửa đất 430, 440, 439, tờ bản đồ số 5, diện tích 42.563,1m², hợp đồng chuyển nhượng được công chứng tại Văn phòng Công chứng Minh Thư (nay là Văn phòng C4), tỉnh Long An số công chứng: 2554, quyển số 02/TP/CC-SCC/HD-GD ngày 22/8/2016, trong đó có một phần thửa 440, tờ bản đồ số 5, diện tích 6.493m² đang tranh chấp.
Quyết định số 3591/QĐ-UBND ngày 27/9/2010 của UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 05 hộ trong đó có ông Đ đối với các thửa đất số 429, một phần thửa đất số 428, 440, tờ bản đồ số 5, diện tích 14.463,6m² hiện đang tranh chấp đúng theo quy trình của Luật Đất đai năm 2003. Tuy nhiên, UBND huyện không có xác minh, kiểm tra, đo đạc thực tế, không ký xác nhận ranh giới với người sử dụng đất liền kề chỉ căn cứ vào biên bản xét, đề nghị của UBND xã B, Phòng T10 kiểm tra thủ tục hồ sơ để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ.
Tại Công văn số 17/TT/2021 ngày 08/11/2021 Văn phòng C4 (trước đây là văn phòng công chứng Minh Thư) có ý kiến đối với việc chứng thực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 2554 và số 2555, quyển số 02/2021-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/8/2016 như sau:
Ngày 22/8/2016 Văn phòng công chứng Minh Thư nhận được phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thành Đ và hồ sơ đính kèm. Sau khi đối chiếu, kiểm tra tính xác thực việc yêu cầu công chứng, xác định các chủ thể tham gia đủ năng lực hành vi dân sự, tham gia giao dịch là phù hợp pháp luật và không trái đạo đức xã hội, các bên tự nguyện tham gia giao dịch, đã xuất trình đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật về công chứng. Do đó, Văn phòng C5 khẳng định công chứng viên Nguyễn Văn C1 chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên là hoàn toàn đúng pháp luật, phù hợp đạo đức xã hội và phải được các bên nghiêm chỉnh thực hiện theo quy định của pháp luật.
Các đương sự thống nhất với mảnh trích đo địa chính số 446-2019 do chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ đo vẽ và duyệt ngày 27/3/2019. Thống nhất với Chứng thư thẩm định giá số 185/26/05/2023/TĐG_LA-BĐS ngày 26/5/2023 của Công ty cổ phần T11, không yêu cầu đo đạc và định giá lại.
Vụ án đã được hòa giải nhưng không thành nên đưa ra xét xử. Tại phiên tòa các đương sự không thỏa thuận được với nhau. Nguyên đơn rút lại yêu cầu khởi kiện việc yêu cầu ông Đ bà C bồi thường giá trị của 2617 cây tràm với số tiền 26.000.000 đồng, đồng thời nguyên đơn ông T yêu cầu hủy việc cập nhật chỉnh lý quyền sử dụng đất cho bà T2 và ông L đối với phần diện tích đất tranh chấp nêu trên, các yêu cầu còn lại nguyên đơn vẫn giữ nguyên. Bà T2, ông L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên toà:
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ông T trình bày:
Việc Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ đối với thửa đất 1862, tờ bản đồ số 9, diện tích 52.743m² tại xã B, huyện Đ, tỉnh Long An không có biên bản xác minh hiện trạng sử dụng đất, không có biên bản ký xác nhận ranh giới với các chủ sử dụng đất liền kề, không đo đạc thực tế là trái với quy định của pháp luật thời điểm đó. Trong tổng diện đất 52.743m² cấp cho ông Đ thì có phần đất 14.463,6m² do ông T khai hoang, sử dụng từ năm 1985 nay. Chính quyền địa phương biết việc ông T khai hoang và sử dụng đất từ năm 1985 vì thời điểm năm 2000 có việc tranh quyền sử dụng đối với phần đất hiện nay ông T đang tranh chấp với ông Nguyễn Văn T5 là em ruột ông Đ. Việc tranh chấp giữa ông T với ông T5 đã được U và giao đất cho ông T tiếp tục sử dụng cho đến nay, phần đất tranh chấp ông Đ bà C không sử dụng nhưng được cấp Giấy là không đúng đối tượng và không đúng thực tế. Năm 2016 ông Đ bà C xin cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1862, diện tích 52.743m² được chuyển đổi thành các: thửa 428, tờ bản đồ số 5, diện tích 9.827,8m²; thửa đất số 429, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.423,6m²; thửa đất số 430, tờ bản đồ số 5, diện tích 3.996,6m²; thửa đất số 439, tờ bản đồ số 5, diện tích 28.269,4m²; thửa đất số 440, tờ bản đồ số 5, diện tích 10.297,4m²; tổng diện tích; 53.814,8m². Khi cấp đổi không đo đạc thực tế, không biên bản ký giáp ranh. Năm 2016 ông Đ bà C chuyển nhượng 5 thửa đất trên cho bà T2 và L cũng không đo đạc thực tế, không biên bản ký giáp ranh, không xác định được ranh giữa các thửa đất, chỉ căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và trích lục bản đồ địa chính. Thời điểm ký hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không văn bản xác nhận của chính quyền địa phương là đất không tranh chấp.
Về nguồn gốc và quá trình sử dụng phần đất tranh chấp của ông T đã được Ủy ban nhân dân huyện xác nhận rõ là đất do ông T khai hoang từ năm 1985 và sử dụng trồng cây bàng, đến năm 2000 chuyển sang trồng tràm cho đến nay. Việc ông T chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do lỗi của chính quyền địa phương, ông T đã đăng ký trong sổ mục kê của Ủy ban nhân dân xã đối với phần đất đang tranh chấp, ông T có đi đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào khoảng năm 2000 (không nhớ chính xác năm) nhưng chính quyền địa phương trả lời chưa có chủ trương cho đăng ký kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi có chủ trương cho đăng ký thì sẽ thông báo nên ông T cứ yên tâm sử dụng đất và do trình độ có phần hạn chế nên đến khi tranh chấp vẫn chưa đăng ký quyền sử dụng đất. Từ những phân tích trên đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Đ bà C trình bày:
Nguyên đơn cho rằng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do lỗi của chính quyền địa phương nhưng thực tế ông T không đăng ký. Ông T trình bày được Tập đoàn A giao đất khai hoang nhưng không có chứng cứ chứng minh. Lời trình bày của người làm chứng cũng cho rằng ông T được Tập đoàn A giao đất hoang và khai hoang cũng không có chứng cứ. Công văn số 311 của UBND xã, công văn của UBND huyện, công văn của Sở T đều khẳng định khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ và cấp đổi đúng trình tự thủ tục, đúng quy định của pháp luật. Việc khi cấp Giấy có đo đạc hay không đo đạc là do sơ xuất, thực tế đất do ông Đ có khai hoang, sử dụng nên mới được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Năm 2000 ông T5 là người tranh chấp với ông T, ông T cho rằng khi hòa giải tranh chấp ông T được tiếp tục giao đất sử dụng nhưng không có chứng cứ chứng minh. Ông Đ bà C được cấp chứng nhận quyền sử dụng đất đúng pháp luật, được cấp đổi cũng phù hợp quy định của pháp luật và việc ông Đ bà C chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà T2 và ông L đảm bảo đúng quy định của pháp luật nên đề nghị không chấp nhận toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của ông T. Trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T thì ông Đ bà C không đồng ý bồi thường cho bà T2 và ông L theo như yêu cầu khởi kiện của bà T2 và ông L.
Bị đơn bà C trình bày: Đất đang tranh chấp là do gia đình của ông nội ông Đ khai hoang sử dụng từ năm 1975 cho đến nay, nguyên đơn nói khi ông Đ được cấp Giấy, ông Đ không trực tiếp sản xuất là không đúng vì sau khi khai hoang gia đình ông Đ đã sử dụng đất trồng cây bàng và cây tràm từ năm 1975 – 1978. Khi thực hiện thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì chính quyền địa phương yêu cầu như thế nào thì ông Đ thực hiện theo đúng yêu cầu của chính quyền địa phương. Bà C khẳng định ông Đ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 1862 và được cấp đổi thành các thửa 428, 429, 430, 439, 440 là đúng quy định của pháp luật và chuyển nhượng cho bà T2 cũng đúng quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, bà T2 và ông L.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà T2, ông L trình bày:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà T2 và ông L nên ông trình bày về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất tranh chấp. Về nguồn gốc đất của ông Đ bà C ông nhất với trình bày của Luật sư bảo vệ cho ông Đ bà C. Trong văn bản của UBND huyện Đ tại phần ghi chú có ghi rõ đất ông Đ khai hoang trên cơ sở đất do ông bà để lại. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lời trình bày của những người làm chứng cho ông T để tránh tình trạng huy động người làm chứng. Lời trình của người làm chứng cho ông Đ phù hợp với công văn 311 của UBND xã B. Công văn ngày 29/7/2022 của UBND huyện Đ phủ nhận toàn bộ nội dung công văn số 311 của UBND xã. Các công văn của UBND huyện và UBND xã có mâu thuẫn nhau nên không thể xem đây là chứng cứ. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ bà C là đúng quy định của pháp luật đã được UBND huyện khẳng định. Nếu như đất tranh chấp do ông T sử dụng tại sao ông T lại không khiếu nại, không tranh chấp. Đến năm 2016 sau khi bà T2 và ông L nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Đ bà C, sau đó tiến hành khai thác tràm thì mới phát sinh tranh chấp.
Bà T2 và ông L nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Đ bà C đúng quy định của pháp luật về trình tự thủ tục chuyển nhượng, bà T2 ông L là người ngay tình cần được pháp luật bảo vệ theo Điều 133 Bộ luật Dân sự. Do đó, đề nghị không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trong trường hợp Tòa án có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bà T2 và ông L yêu cầu ông Đ và bà C phải bồi thường cho bà T2 số tiền là 1.594.120.000 đồng và bồi thường cho ông L số tiền là 1.298.600.000 đồng. Căn cứ bà T2 và ông L yêu cầu ông Đ và bà C phải bồi thường số tiền trên là dựa vào diện tích đất bà T2, ông L được giao còn thiếu là 14.463,6m² nhân đơn giá 200.000 đồng/m². Bà T2 ông L yêu cầu bồi thường đơn giá 200.000 đồng/m² là dựa trên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông L với ông P ký ngày 31/12/2021 đối với thửa đất số 430 (giáp ranh các thửa đất đang tranh chấp).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ông T trình bày: Luật sư của bên bà T2 và ông L cho rằng công văn của UBND huyện và UBND xã có mâu thuẫn nhau là không đúng, hai công văn của UBND huyện không mâu thuẫn. Đối với công văn số 311 của UBND xã B cho rằng việc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ bà C có đo đạc thực tế là không đúng. Việc này đã được Tòa án nhân dân tỉnh Long An xác minh làm rõ. Tại biên bản xác minh ngày 29/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đối với ông Phạm Hoàng Mộng D là cán bộ địa chính xã B, huyện Đ đã nêu rõ tại công văn số 311 của UBND xã B có ghi “Trong quá trình đăng ký cấp đổi thì đã có ký giáp ranh với người sử dụng đất liền kề là không chính xác”, không đúng với hồ sơ cấp đổi của ông Đ bà C. Hồ sơ cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đ bà C chỉ căn cứ vào Trích lục bản đồ địa chính ngày 02/6/2016, không đo đạc thực tế. Như vậy, công văn của UBND huyện xác nhận việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ không đo đạc thực tế, không xác minh, không ký xác nhận ranh giới với các chủ sử dụng đất liền kề là đúng với thực tế và các chứng cứ có trong hồ sơ. Lời trình bày của những người làm chứng cho ông T được Tòa án tiến hành lấy lời khai phù hợp quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, phù hợp với công văn của UBND huyện và UBND xã nên có cơ sở để xem xét. UBND huyện chỉ xác định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T đúng pháp luật nhưng không đo đạc thực tế, không xác minh nên đã cấp luôn phần đất ông T đang sử dụng cho ông Đ là không đúng đối tượng và diện tích. Ông Đ trước đây là cán bộ Nhà nước nên không sử dụng đất, ông Đ chỉ mới về sử dụng đất sau này. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2023/DS-ST ngày 10 tháng 8 năm 2023
của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 5, 26, 34, 39, 147, 157, 165, 217, 244, 227, 228, 271, 273, của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015; các Điều 31, 50, 105, 106 Luật đất đai năm 2003, Điều 3, Điều 14 Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009; Điều 100 Luật Đất đai năm 2013; Điều 122, Điều 127 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 26, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T về việc yêu cầu ông Nguyễn Thành Đ và bà Võ Thị Ngọc C phải bồi thường giá trị của 2617 cây tràm với số tiền 26.000.000 đồng.
- Chấp các yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Văn T:
- Hủy một phần Quyết định số 3591/QĐ-UBND ngày 27/9/2010 của Ủy ban nhân dân huyện Đ về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Thành Đ đối với phần đất có diện tích 52.743m², loại đất RSX, tại xã B, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 359806 ngày 27/9/2010 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Thành Đ và bà Võ Thị Ngọc C đối với thửa đất số 1862, tờ bản đồ số 9, đối với phần diện tích 14.463,6m², loại đất RSX, tại xã B huyện Đ, tỉnh Long An.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 057213 ngày 29/01/2016 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Nguyễn Thành Đ và bà Võ Thị Ngọc C đối với thửa đất số 429, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.423,6m², loại đất RXS, tại xã B, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 057209 ngày 29/01/2016 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Nguyễn Thành Đ và bà Võ Thị Ngọc C đối với thửa đất số 428, tờ bản đồ số 5, diện tích 9.827,8m², loại đất RXS, tại xã B, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 057207 ngày 29/01/2016 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Nguyễn Thành Đ và bà Võ Thị Ngọc C đối với thửa đất số 440, tờ bản đồ số 5, diện tích 10.297,1m², loại đất RXS, tại xã B, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Vô hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập ngày 22/8/2016 được Văn phòng công chứng Minh Thư (hiện nay là Văn phòng C4) công chứng ngày 22/8/2016 giữa ông Nguyễn Thành Đ bà Võ Thị Ngọc C với bà Nguyễn Thị T2 đối với phần đất tại thửa 428 diện tích 6.547m² và thửa 429 diện tích 1423,6m² cùng tờ bản đồ số 5, loại đất RSX, tại xã B, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Vô hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập ngày 22/8/2016 được Văn phòng công chứng Minh Thư (hiện nay là Văn phòng C4) công chứng ngày 22/8/2016 giữa ông Nguyễn Thành Đ bà Võ Thị Ngọc C với ông Huỳnh Văn L đối với phần đất tại thửa 440 diện tích 6.493m² tờ bản đồ số 5, loại đất RSX, tại xã B, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Ông Nguyễn Văn T được quyền sử dụng phần đất có diện tích 14.463,6m² bao gồm thửa 429 diện tích 1423,6m², một phần thửa 428 diện tích 6.547m² và một phần thửa 440 diện tích 6.493m², cùng tờ bản đồ số 5, loại đất RSX, tại xã B, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Bà Nguyễn Thị T2 được quyền sử dụng phần đất còn lại của thửa 428, diện tích 3.280,8m² (9.827,8m² - 6.547m²), tờ bản đồ số 5, loại đất RSX, tại xã B, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Ông Huỳnh Văn L được quyền sử dụng phần còn lại của thửa 440 diện tích 3.804,1m² (10.297,1m² - 6.493m²), tờ bản đồ số 5, loại đất RSX, tại xã B huyện Đ, tỉnh Long An.
- Ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T2, ông Huỳnh Văn L có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để đăng ký kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất được tuyên tại mục 2.8, 2.9, 2.10 nêu trên.
Vị trí, tứ cận, diện tích, loại đất ông T, bà T2, ông L được quyền sử dụng nêu tại mục 2.8, 2.9, 2.10 được thể hiện theo mảnh trích đo địa chính số 446-2019 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ đo vẽ và duyệt ngày 27/3/2019.
(Mảnh trích đo được kèm theo bản án này).
- Văn phòng đăng ký đất đai, C6, cơ quan cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đương sự cho phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
- Buộc bà Nguyễn Thị T2, ông Huỳnh Văn L có trách nhiệm nộp lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 057213, CD 057209, CD 057207 ngày 29/01/2016 do do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Nguyễn Thành Đ và bà Võ Thị Ngọc C được cập nhật, chỉnh lý sang tên cho bà Nguyễn Thị T2 và ông Huỳnh Tấn L1 ngày 08/12/2017 để làm thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hoặc cập nhật chỉnh lý biến động quyền sử dụng đất cho phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
- Trường hợp bà T2 và ông L1 không giao nộp bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên thì ông T được quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã chỉnh lý cho bà T2, ông L1 để chỉnh lý biến động hoặc cấp lại cho phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T2 đối với ông Đ và bà C;
- Buộc ông Nguyễn Thành Đ và bà Võ Thị Ngọc C phải liên đới bồi thường cho bà Nguyễn Thị T2 số tiền 1.227.472.000 đồng;
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T2 về việc yêu cầu ông Đ và bà C liên đới bồi thường số tiền 366.648.000đồng.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn L đối với ông Đ và bà C;
- Buộc ông Nguyễn Thành Đ và bà Võ Thị Ngọc C phải liên đới bồi thường cho ông Huỳnh Văn L số tiền 999.922.000 đồng;
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L về việc yêu cầu ông Đ và bà C liên đới bồi thường số tiền 298.678.000 đồng.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
- Về chi phí tố tụng (đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ) với tổng số tiền là: 22.800.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của ông T, của bà T2 và ông L được chấp nhận nên ông Đ và bà C phải chịu toàn bộ số tiền trên theo Điều 157, Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Số tiền trên ông T đã nộp 7.300.000 đồng và chi xong, bà T2 và ông L đã nộp 15.500.000 đồng và chi xong. Do đó, buộc ông Đ và bà C phải liên đới hoàn trả cho ông T số tiền 7.300.000 đồng và liên đới hoàn trả cho bà T2 ông L số tiền 15.500.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Thành Đ bà Võ Thị Ngọc C, bà Nguyễn Thị T2 được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Huỳnh Văn L phải chịu 14.933.900 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu khởi kiện không được Tòa án chấp nhận và 300.000 đồng đối với yêu cầu công nhận toàn bộ hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không được chấp nhận, ông L được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 25.479.000 đồng và 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001710, 0001709 ngày 13/3/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Long An. Hoàn trả cho ông L 10.545.100 đồng.
Ông Nguyễn Văn T được hoàn trả tạm ứng án phí 4.339.080 đồng và 650.000 đồng theo biên lai thu số 0004705, 0004706 cùng ngày 26/9/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ và 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001258 ngày 26/3/2018 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Long An.
II. Án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Thành Đ, bà Võ Thị Ngọc C, bà Nguyễn Thị T2 được miễn án phí. Ông Huỳnh Văn L phải chịu 300.000 đồng án phí được khấu trừ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000041 ngày 05/09/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Long An.
Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Huỳnh Thanh Duyên |
Bản án số 234/2024/DS-PT ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, vô hiệu hđ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bồi thường thiệt hại tài sản
- Số bản án: 234/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, vô hiệu HĐ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bồi thường thiệt hại tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyễn bản án sơ thẩm
