Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 344/2024/DS-PT

Ngày: 27 - 5 - 2024

V/v “Tranh chấp thừa kế tài sản, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng đổi nhà"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thúy Cầu

Các Thẩm phán: Ông Vũ Đức Toàn

Bùi Thị Thu

Thư ký phiên tòa: Ông Đàm Lê Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Đảm - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 61/2024/TLPT-DS ngày 19-01-2024 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng đổi nhà”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2023/DS-ST ngày 19-7-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1525/2024/QĐ-PT ngày 25-12-2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Lâm Thị H, sinh năm 1963. Có mặt.

Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Vĩnh P.

Địa chỉ: Ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Văn bản ủy quyền ngày 03-3-2023). Có mặt.

* Bị đơn: Bà Lâm Thị L, sinh năm 1957. Vắng mặt.

Địa chỉ: Ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Minh H1.

Địa chỉ: Số B, ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Văn bản ủy quyền ngày 30-5-2022). Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lâm Thị S, sinh năm 1953; địa chỉ: Ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; có mặt.
  2. Bà Lâm Thị L1, sinh năm 1957; địa chỉ: Ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; có mặt.
  3. Bà Lâm Thị Đ, sinh năm 1962; địa chỉ: Ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, có mặt.
  4. Bà Lâm Thị H2, sinh năm 1968; địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; có mặt.
  5. Người đại diện theo ủy quyền của bà H2: Bà Huỳnh Thị Kim Y; địa chỉ: Ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Văn bản ủy quyền ngày 25-5-2022); có mặt.

  6. Bà Lâm Thị Kim Y1 (Lâm Thị K), sinh năm 1979; địa chỉ: Ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; có mặt.
  7. Bà Lâm Thị P1, sinh năm 1987; địa chỉ: Ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; có đơn xin vắng mặt.
  8. Bà Lâm Thị P2 (P3), sinh năm 1988; địa chỉ: Ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; có mặt.
  9. Ông Lâm V (V1), sinh năm 1983; địa chỉ: Ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; có đơn xin vắng mặt.
  10. Ông Lâm D, sinh năm 1991.
  11. Địa chỉ: Ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; có đơn xin vắng mặt.

  12. Ông Lâm Đ1, sinh năm 1985.
  13. Địa chỉ: Ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; có đơn xin vắng mặt.

  14. Ông Lâm T, sinh năm 1995.
  15. Địa chỉ: Ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, có đơn xin vắng mặt.

  16. Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
  17. Địa chỉ: Ấp X, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

    Người đại diện theo ủy quyền của UBND huyện C: Bà Lâm Khánh P4, phó Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C.

    Địa chỉ: Ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Văn bản ủy quyền ngày 05-9-2022). Có đơn xin vắng mặt.

  18. Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
  19. Địa chỉ: Ấp C, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

    Người đại diện hợp pháp của UBND huyện M: Ông Lý Ngọc Thanh L2, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện M.

    Địa chỉ: Ấp C, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 30-11-2022). Có đơn xin vắng mặt).

  20. Ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1960.
  21. Bà Lý Thị Phương Đ2.
  22. Cùng địa chỉ: Ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Đều vắng mặt.

* Người kháng cáo: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Vĩnh P và bị bị đơn Lâm Thị L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt sau đây:

Nguyên đơn bà Lâm Thị H trình bày: Cha, mẹ của bà là ông Lâm B (1915 - 2004) và bà Lý Thị P5 (Phên) chết 2008 sinh được 06 người con chung: Lâm Thị S, Lâm Thị L1, Lâm Thị Đ, Lâm Thị H, Lâm Thị H2 và Lâm L3 (chết 2014).

Trong thời gian chung sống, cha mẹ bà có tạo lập được một quyền sử dụng đất thửa 816, tờ bản đồ số 08, tọa lạc tại ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Do hoàn cảnh gia đình các anh, chị, em bà quá khó khăn nên mỗi người phải đi làm ăn xa để lo cho cuộc sống. Riêng vợ chồng ông L3 và bà L vẫn ở trên phần diện tích đất này cùng với cha mẹ bà. Sau đó, ông L3 và bà L đã tự ý chuyển nhượng một phần diện tích đất của cha mẹ bà để trả nợ riêng của vợ chồng ông L3 và bà L mà không thông qua các anh, chị, em bà.

Diện tích đất còn lại là 330,1m² (loại đất ở 70m², đất LNK 260,1m²) thuộc thửa đất số 1265, tờ bản đồ số 08, tọa lạc tại ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Phần đất này khi cha mẹ bà còn sống có tổ chức họp gia đình và nói lại sẽ cho bà và em gái là Lâm Thị H2, còn các anh, chị, em khác không được hưởng do mỗi người đã có phần riêng được chia trước đây; việc họp gia đình này có sự chứng kiến của tất cả các anh, chị, em trong gia đình. Sau đó, cha mẹ bà chết mà chưa kịp lập di chúc cho bất cứ người con nào trong số 06 anh, chị, em bà và các anh, chị, em bà cũng chưa tiến hành chia di sản thừa kế đối với thửa đất nêu trên, nhưng không biết bằng cách nào mà ông L3 và bà L lại đăng ký quyền sử dụng đất cha mẹ bà để lại và được UBND huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) số CH 02903 ngày 03-12-2015 cho bà L đứng tên.

Sau đó, bà có làm đơn yêu cầu gửi đến Tổ hòa giải ấp giải quyết, tại buổi hòa giải bà L cũng thừa nhận phần đất nêu trên là do cha mẹ bà để lại, nhưng bà L vẫn không đồng ý chia di sản thừa kế của cha mẹ bà để lại theo quy định của pháp luật mặc dù bà L chỉ là con dâu trong gia đình. Ngoài ra, bà L cho rằng mẹ bà có lập di chúc cho bà phần đất trên nhưng bà L không cung cấp được bản di chúc.

Do đó, bà yêu cầu Tòa án giải quyết:

Công nhận diện tích 968m² (loại đất ở 300m², đất CLN 668m²), thuộc thửa đất số 816, tờ bản đồ số 08, đất tọa lạc tại ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng là di sản thừa kế của cha bà là ông Lâm B và mẹ bà là bà Lý Thị P6 (Lý Thị P5) để lại.

Hủy giấy chứng nhận QSDĐ số AD 569086, số vào sổ cấp giấy 54, do UBND huyện M, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 17-01-2006 cho bà Lý Thị Phan .

Hủy giấy chứng nhận QSDĐ số AI 913638, số vào sổ cấp giấy 82, do UBND huyện M, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 04-06-2007 cho bà Lâm Thị L và ông Lâm L3.

Hủy giấy chứng nhận QSDĐ số CH 02903, do UBND huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 03-12-2015 cho bà Lâm Thị L.

Hủy Biên bản họp gia đình về việc chia đất cho con được lập ngày 02-01-2007 có dấu lăn tay của bà Lý Thị P5, Lâm Thị S, Lâm Thị Đ và ông Lâm L3, vì giả tạo.

Chia thừa kế theo pháp luật phần đất có diện tích 330,1m² (loại đất ở 70m², đất LNK 260,1m²), thuộc thửa đất số 1265, tờ bản đồ số 08, đất tọa lạc tại ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng thành 06 kỷ phần thừa kế bằng nhau cho 06 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lâm B và bà Lý Thị Phan g: Bà Lâm Thị S, bà Lâm Thị L1, bà Lâm Thị Đ, bà Lâm Thị H, bà Lâm Thị H2 và vợ con của ông Lâm L3. Do bà Lâm Thị S, bà Lâm Thị L1, bà Lâm Thị Đ đã có văn bản ghi ý kiến thể hiện ý chí nhường lại kỷ phần thừa kế cho bà Lâm Thị H và bà Lâm Thị H2. Do đó, bà và bà H2 yêu cầu được nhận 05 kỷ phần thừa kế và nhận bằng tiền.

Đến ngày 21-11-2022, nguyên đơn xin rút một phần đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu công nhận diện tích 968m², thuộc thửa đất số 816, tờ bản đồ số 08 là di sản thừa kế của cha bà là ông Lâm B và mẹ bà là bà Lý Thị P6 (Lý Thị P5) chết để lại.

Đến ngày 19-4-2023, nguyên đơn bà H khởi kiện bổ sung yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên bố vô hiệu đối với “Hợp đồng đổi nhà cho nhau” (giấy tay, không ghi ngày, tháng, năm) giữa bà Lâm Thị L với ông Nguyễn Văn K1, bà Lý Thị Phương Đ2. Đồng thời, xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu giữa bà L với ông K1, bà Đ2.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông P là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cho rằng thửa đất số 816, tờ bản đồ số 08 của ông B và bà Phan tạo 1 lúc còn sống, tạo lập trước năm 1975, đây là tài sản chung của vợ chồng, nhưng sau khi ông B chết bà Phan đăng k để được cấp giấy chứng nhận QSDĐ mà không được sự đồng ý của những người thừa kế của ông B, sau đó làm thủ tục tặng cho phần đất còn lại cho vợ chồng ông L3 và sau khi ông L3 chết thì làm thủ tục để thừa kế lại cho bà L không đúng. Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn có cung cấp chứng cứ là “Hợp đồng đổi nhà cho nhau” (giấy tay, không ghi ngày, tháng, năm) giữa bà L với ông K1, bà Đ2; nội dung hợp đồng là bà L chuyển nhượng phần đất đang tranh chấp và trao đổi nhà với ông K1, bà Đ2; ông K1, bà Đ2 đã giao tiền cọc 500.000.000 đồng cho bà L là không đúng pháp luật; nên yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận phần đất có diện tích 330,1m², thuộc thửa đất số 1265, tờ bản đồ số 08 là di sản thừa kế của ông Lâm B và bà Lý Thị P6 (Lý Thị P5) chết để lại, để chia thừa kế theo pháp luật (bao gồm giá trị QSDĐ đối với phần đất còn lại và số tiền do Nhà nước bồi thường); nguyên đơn không yêu cầu chia giá trị tài sản trên đất (bao gồm nhà và cây trồng) và giữ nguyên yêu cầu hủy giấy chứng nhận và hợp đồng đổi nhà cho nhau. Ngoài ra, do vợ chồng ông K1 chưa nhận nhà, đất đang tranh chấp, nên xin rút lại đối với yêu cầu xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu giữa bà L với ông K1, bà Đ2. Đối với biên bản họp gia đình không có đầy đủ những người con của ông B tham gia nên không có quyền tặng cho tài sản thừa kế.

- Bị đơn bà Lâm Thị L trình bày:

Từ lúc ông L3 cưới bà về thì bà làm dâu và sống cùng cha mẹ chồng là ông Lâm B và bà Lý Thị P6, lúc cha mẹ chồng khỏe mạnh cũng như lúc ốm đau vợ chồng bà là người cận kề lo lắng chăm sóc cho cha mẹ, không anh, chị, em nào giúp được gì. Năm 2004, cha chồng bà chết, ngày 17-01-2006 mẹ chồng bà được Ủy ban nhân dân huyện M cấp giấy chứng nhận QSDĐ với diện tích 968m², thửa đất số 816, tờ bản đồ số 08 (đất ONT 300m² và đất CLN 668m²). Năm 2007, mẹ chồng bà lập thủ tục cho chồng bà là ông L3 một phần đất có diện tích 340,8m² (đất ONT là 70m², đất CLN 270,8m²), thuộc thửa đất số 1265, tờ bản đồ số 08 (tách ra từ thửa đất số 816, tờ bản đồ số 08) và chồng bà cũng được Ủy ban nhân dân huyện M cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 04-6-2007. Năm 2014, chồng bà chết, sau đó bà mới xin cấp đổi lại giấy chứng nhận QSDĐ sang tên bà như hiện nay với diện tích 330,1m² (đất ONT 70m² và đất CLN 260,1m²) thuộc thửa đất số 1265, tờ bản đồ số 08 và bà được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận QSDĐ ngày 03-12-2015. Như vậy, phần diện tích đất này là do mẹ chồng bà cho chồng bà và sau khi chồng bà chết thì để lại cho bà chứ không phải vợ chồng bà tự ý kê khai đăng ký như lời nguyên đơn trình bày.

Sau khi mẹ chồng bà cho chồng bà phần đất trên thì phần đất còn lại mẹ chồng bà chuyển nhượng cho người khác như thế nào thì vợ chồng bà không biết, vì tại thời điểm đó giấy chứng nhận QSDĐ do mẹ chồng bà đứng tên, vợ chồng bà không có quyền chuyển nhượng cho người khác, nguyên đơn nói vợ chồng bà chuyển nhượng là không đúng sự thật. Do đó, bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Nguyễn Minh H1 là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cho rằng thửa đất số 816 ông không biết rõ là của ai, nhưng chỉ biết do bà P5 đứng tên và cho lại vợ chồng bà L, sau khi chồng bà L chết thì để thừa kế lại cho bà L cho đến nay. Từ khi bà L về làm dâu năm 1975 thì đã có nhà của ông B và bà P5 trên đất tranh chấp hiện nay, nhưng nhà do bà L sửa chữa gần toàn bộ, còn cây trồng là do vợ chồng bà L trồng. Phần đất tranh chấp thì bà L đã đổi nhà, đất cho vợ chồng ông K1 với giá 1.950.000.000 đồng, có làm giấy tay, bà L nhận nhà, đất của vợ chồng ông K1 với giá 700.000.000 đồng, nên vợ chồng ông K1 có nghĩa vụ trả cho bà L số tiền 1.250.000 đồng, nhưng chỉ mới đưa trước số tiền 500.000.000 đồng. Ngoài ra, tại Biên bản họp gia đình ngày 28-3-2005 thể hiện cho đất bà Đ phần đất ngang 3,5m, dài hết đất và bà Đ đã chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Thu T1, còn lại phần đất đang tranh chấp hiện nay là do bà Phan t cho ông L3 và bà L, được UBND huyện C xác định cấp giấy chứng nhận cho bà P5, ông L3 và bà L là đúng quy định của pháp luật; việc thờ cúng ông B và bà Phan 11 do vợ chồng ông L3, sau này là bà L thực hiện. Do đó, đề nghị bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị Đ, bà Lâm Thị S và bà Lâm Thị L1 trình bày:

Các bà thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của nguyên đơn bà Lâm Thị H về cha mẹ, các chị em và về nguồn gốc thửa đất tranh chấp yêu cầu chia thừa kế, việc mẹ bà và ông L3, bà L đăng ký để được cấp giấy chứng nhận QSDĐ là không đúng.

Do đó, các bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chia thừa kế theo pháp luật và hủy giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho mẹ bà và ông L3, bà L đối với thửa đất tranh chấp.

Đối với kỷ phần thừa kế của các bà, các bà đồng ý nhượng quyền di sản thừa kế lại cho 02 người em gái là bà H và bà H2.

Riêng bà Đ thừa nhận Biên bản họp gia đình ngày 28-3-2005 để chia cho bà phần đất chiều ngang 3,5m, chiều dài hết đất là có thật, nhưng không có họp gia đình vào ngày 02-01-2007, vì bà đi làm thuê ở Vũng Tàu không có ở nhà.

- Tại Biên bản lấy lời khai ngày 15-5-2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn K1 trình bày:

Hợp đồng đổi nhà cho nhau ngày 26-3-2023 (do ông K1 cung cấp), với nội dung bà Lâm Thị L đổi nhà, đất thửa số 1265, tờ bản đồ số 08, diện tích 330,1m² cho ông và vợ ông tên Lý Thị Phương Đ2 thửa đất số 1450, tờ bản đồ số 03, diện tích 1.831m² và trên đất có căn nhà, hai bên thống nhất đổi nhà, đất cho nhau, vợ chồng ông phải trả cho bà L số tiền 1.250.000.000 đồng (nhà, đất bà L là 1.950.000.000 đồng; nhà, đất của vợ chồng ông là 700.000.000 đồng); bà Đ2 đã đưa trước cho bà L số tiền là 500.000.000 đồng (đưa lần đầu số tiền 400.000.000 đồng là trước khi làm giấy này khoảng 01 tháng và đưa lần sau số tiền 100.000.000 đồng mới làm giấy này đề ngày 26-3-2022).

Khi làm giấy là 02 bản, bản của bà L không ghi ngày, tháng, năm nhưng nội dung hai bản này là giống nhau, đây là tài sản chung của vợ chồng ông nhưng khi làm giấy thì để vợ ông đứng tên và hẹn hai tháng sau sẽ làm hợp đồng công chứng rồi giao đủ tiền, nhưng phát sinh tranh chấp nên không công chứng được.

Khi đưa tiền lần đầu thì khoảng hai tuần sau vợ chồng ông giao nhà, đất cho bà L sử dụng và bà L tiến hành xây nhà mới cạnh nhà cũ của ông; còn nhà, đất của bà L thì chưa giao cho vợ chồng ông.

Sau khi được giải thích thì ông đồng ý tự thỏa thuận với bà L liên quan đến hợp đồng giữa hai bên, nếu không thỏa thuận được thì ông sẽ làm đơn yêu cầu độc lập gửi cho Tòa án trước ngày hòa giải, công khai chứng cứ.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 50/2023/DS-ST ngày 19-7-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:

Căn cứ khoản 2 Điều 129, Điều 623, 645, 649, điểm a khoản 1 Điều 650, Điều 651, Điều 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013. Tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị H đối với yêu cầu công nhận phần đất có diện tích 968m², thuộc thửa đất số 816, tờ bản đồ số 08, tọa lạc tại ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng là di sản thừa kế của ông Lâm B và bà Lý Thị P6 (Lý Thị P5) chết để lại và đối với yêu cầu xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu giữa bà Lâm Thị L với ông Nguyễn Văn K1, bà Lý Thị Phương Đ2.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị H về việc yêu cầu: Chia thừa kế tài sản của ông Lâm B và bà Lý Thị P6 (Lý Thị P5) chết để lại và yêu cầu tuyên bố vô hiệu đối với “Hợp đồng đổi nhà cho nhau”, như sau:
    1. Chia thừa kế tài sản và tiếp tục giao cho bà Lâm Thị L cùng 07 người con gồm bà Lâm Thị Kim Y1 (Lâm Thị K), bà Lâm Thị P1, bà Lâm Thị P2 (P), ông Lâm V (V), ông Lâm D, ông Lâm Đ1, ông Lâm T toàn bộ thửa đất số 1265, tờ bản đồ số 08, theo đo đạc thực tế có diện tích 304,3m² (đất ở diện tích 70m², đất trồng cây lâu năm diện tích 234,3m²), tọa lạc tại ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng và toàn bộ công trình xây dựng trên đất: Nhà chính, diện tích 85m², khung cột bê tông cốt thép đúc sẵn, tường xây gạch 10cm (02 vách) + vách tôn (02 vách), vì kèo + xà gồ sắt + gỗ, mái tôn; nhà sau, diện tích 31,89m², khung cột gỗ, vách tôn + vách lá, nền láng xi măng + gạch men, vì kèo + xà gồ gỗ, mái tôn; nhà vệ sinh, diện tích 5,786m², tường xây gạch 10cm, nền lót gạch men, xà gồ gỗ, mái tôn; mái che, diện tích 25,2m², khung cột sắt, vì kèo + sà gồ sắt, mái tôn; hàng rào, diện tích 17,1m², trụ đà bê tông cốt thép, tường xây gạch lửng dày 10cm + lưới B40; sân xi măng, diện tích 64,8m², lớp cát nền đầm chặt, trên lót bê tông gạch vỡ, lớp trên cùng láng xi măng, cùng cây trồng trên đất: Dừa loại A 04 cây; Xoài loại A 01 cây, loại B 01 cây, loại C 02 cây; Mít loại B 01 cây; Mận loại B 01 cây; Sa kê loại A 01 cây; Ổi loại C 01 cây; Cây xanh loại B 02 cây. Phần đất có số đo tứ cận như sau: Hướng Đông Bắc giáp với kênh hậu, có số đo 9,56m. Hướng Tây Nam giáp với đường Q, có số đo 9,08m. Hướng Đông Nam giáp với đất bà Nguyễn Thị Thu T1, có số đo 17,02m + 6,06m + 10,08m. Hướng Tây bắc giáp với bà Danh Thị Kim K2, có số đo 17,03m + 15,82m (Đính kèm sơ đồ hiện trạng thửa đất ngày 21-6-2022 - BL số 145).
    2. Về trả giá trị kỷ phần thừa kế như sau:
    3. - Buộc bà Lâm Thị L cùng 07 người con gồm bà Lâm Thị Kim Y1 (Lâm Thị K), bà Lâm Thị P1, bà Lâm Thị P2 (P), ông Lâm V (V), ông Lâm D, ông Lâm Đ1, ông Lâm T trả cho bà Lâm Thị H và bà Lâm Thị H2 tổng số tiền 1.909.985.000 đồng.

      - Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, đối với thời gian chậm thi hành án.

    4. Tuyên bố vô hiệu đối với “Hợp đồng đổi nhà cho nhau” lập ngày 26-3-2022 giữa bà Lâm Thị L với ông Nguyễn Văn K1, bà Lý Thị Phương Đ2. Do các đương sự có liên quan không ai yêu cầu xử lý hậu quả đối với hợp đồng đổi nhà cho nhau khi bị vô hiệu, nên HĐXX không đặt ra xem xét; các đương sự có liên quan có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác đối với hợp đồng đổi nhà cho nhau giữa bà Lâm Thị L với ông Nguyễn Văn K1, bà Lý Thị Phương Đ2 theo quy định của pháp luật.
  3. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị H về việc yêu cầu: Hủy giấy chứng nhận QSDĐ số AD 569086, số vào sổ cấp giấy 54, do UBND huyện M, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 17-01-2006 cho bà Lý Thị Phan . Hủy giấy chứng nhận QSDĐ số AI 913638, số vào sổ cấp giấy 82, do UBND huyện M, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 04-06-2007 cho bà Lâm Thị L và ông Lâm L3. Hủy giấy chứng nhận QSDĐ số CH 02903, do UBND huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 03-12-2015 cho bà Lâm Thị L. Hủy Biên bản họp gia đình về việc chia đất cho con được lập ngày 02-01-2007 có dấu lăn tay của bà Lý Thị P5, Lâm Thị S, Lâm Thị Đ và ông Lâm L3, vì giả tạo.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm xong, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Vĩnh P và bị đơn bà Lâm Thị L kháng cáo bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế số tiền 2.673.979.000 đồng làm 06 kỷ phần bằng nhau (vì ông B và bà P5 có 06 người con), mỗi kỷ phần 445.663.166 đồng. Bà H và bà H2 nhận 05 kỷ phần thừa kế với số tiền 2.228.315.830 đồng, ông L3 được nhận 01 kỷ phần thừa kế với số tiền 445.663.166 đồng. Đề nghị chấp nhận đơn kháng cáo của bà Lâm Thị H để sửa bản án sơ thẩm.

Bị đơn bà Lâm Thị L cho rằng có công khai phá chính trong việc tạo dựng tài sản chung và cha, me của chồng là ông B và bà P5 đã tặng cho ông L3 nhà, đất tranh chấp nên không đồng ý chia di sản thừa kế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến và kết luận:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, thực hiện hòa giải, tống đạt các văn bản tố tụng, xác định quan hệ tranh chấp, người tham gia tố tụng là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tham gia giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.

Về nội dung vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã phân chia thừa kế đối với các đương sự là đúng pháp luật. Đề nghị giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2023/DS-ST ngày 19-7-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Quá trình tố tụng nguyên đơn bà Lâm Thị H đã rút yêu cầu công nhận phần đất có diện tích 968m², thuộc thửa đất số 816, tờ bản đồ số 08 tại ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng là di sản thừa kế của ông Lâm B và bà Lý Thị P6 (Lý Thị P5) và yêu cầu xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu giữa bà Lâm Thị L với ông Nguyễn Văn K1, bà Lý Thị Phương Đ2. Việc rút nội dung này là tự nguyện không vi phạm pháp luật, đạo đức xã hội nên Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định đình chỉ giải quyết là đúng pháp luật.

[2] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn: Các bên đương sự đều thừa nhận nhà, đất tranh chấp tại thửa số 1265 với 968m² đất tờ bản đồ số 08 - di sản thừa kế của ông Lâm B (chết 2004), bà Lý Thị P5 (chết 2008) để lại. Quá trình sử dụng đất, bà Phan đ, ký kê khai và được UBND huyện M, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng số AD 569086 ngày 17-01-2006. Sau đó, bà P5 đã chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Kim H3 một phần và tặng cho bà Lâm Thị Đ 149,8m² đất (bà Đ đã chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Thu T1) và tặng cho ông Lâm L3. Trước khi mất, ông L3 làm thủ tục để thừa kế lại cho bà L. Sau đó, Nhà nước thu hồi diện tích 25,7m² và bồi thường số tiền 60.865.662 đồng do bà Lâm Thị L nhận, phần đất còn lại đo đạc thực tế là 304,3m² (70m² đất ở, 234,3m² trồng cây lâu năm). Việc bà Phan t cho ông L3 không có sự đồng ý của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà P5 là trái pháp luật. Do vậy, bà H yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật là có cơ sở.

[3] Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 569086 ngày 17-01-2006 đứng tên bà Lý Thị P5; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 913638 ngày 04-06-2007 đứng tên bà Lâm Thị L và ông Lâm L3 đều do UBND huyện M, tỉnh Sóc Trăng cấp; Giấy chứng nhận QSDĐ số CH 02903 ngày 03-12-2015, do UBND huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp cho bà Lâm Thị L và Biên bản họp gia đình về việc chia đất cho con được lập ngày 02-01-2007 có dấu lăn tay của bà Lý Thị P5, Lâm Thị S, Lâm Thị Đ và ông Lâm L3: Xét, bà L cùng 07 người con được hưởng thừa kế 02 kỷ phần và là người được quản lý, sử dụng toàn bộ nhà, đất số 1265, tờ bản đồ số 08, có diện tích 330,1m² nên Tòa án cấp sơ thẩm không hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Biên bản họp gia đình về việc chia đất cho con được lập ngày 02-01-2007 có dấu lăn tay của bà Lý Thị P5, Lâm Thị S, Lâm Thị Đ và ông Lâm L3 nêu trên là đúng pháp luật.

[4] Về chia thừa kế: Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản của ông Lâm B và bà P6 diện tích còn lại 304,3m² đất chia theo pháp luật là đúng. Ông Lâm B và bà Lý Thị P6 có 06 người con gồm: (1) bà Lâm Thị S, (2) bà Lâm Thị L1, (3) bà Lâm Thị Đ, (4) bà Lâm Thị H, (5) bà Lâm Thị H2, (6) ông Lâm L3 (chết năm 2014), có vợ là bà Lâm Thị L và có 07 người con gồm các chị: Lâm Thị Kim Y1 (Lâm Thị K), Lâm Thị P1, Lâm Thị P2 (Phônl) và các anh Lâm V (Vuol), Lâm D, L, L.

Di sản là thửa đất số 1265, tờ bản đồ số 08, có diện tích 330,1m². Nhà nước thu hồi 25,7m², đã bồi thường 60.865.000 đồng do bà L nhận. Diện tích 304,3m², trị giá 2.613.114.000 đồng. Tổng cộng 2.673.979.000 đồng. Riêng về tài sản gắn liền với đất trị giá 180.030.000 đồng các đương sự không yêu cầu chia.

Việc ông L3 có công sức trong việc giữ gìn, quản lý, cải tạo đất một thời gian dài từ loại đất vườn tạp trở thành đất ở, đất trồng cây và công sức chăm sóc cha, mẹ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm phân chia cho ông L3 được hưởng 02 kỷ phần (01 kỷ phần công sức giữ gìn tài sản) là phù hợp pháp luật. Như vậy, Di sản thừa kế trị giá 2.673.979.000 đồng được chia thành 07 kỷ phần, mỗi kỷ phần là 381.997.000 đồng. Cụ thể:

Bà L và 07 người con (Lâm Thị Kim Y1 (Lâm Thị K), Lâm Thị P1, Lâm Thị P2 (Phônl) và các anh Lâm V (Vuol), Lâm D, L, L) được nhận 02 kỷ phần của ông L3 trị 763.994.000 đồng. Đồng thời, giao cho bà L và 07 người con của bà L được quyền sở hữu nhà đất số A, tờ bản đồ số 08, có diện tích 330,1m² tại ấp X, xã H, huyện M (huyện C), tỉnh Sóc Trăng.

Bà L và 07 người con (Lâm Thị Kim Y1 (Lâm Thị K), Lâm Thị P1, Lâm Thị P2 (Phônl) và các anh Lâm V (Vuol), L, L, L) phải thanh toán số tiền chênh lệch cho bà H và bà H2 trị giá là 1.909.985.000 đồng (nhận 05 kỷ phần thừa kế do bà S, bà L1, bà Đồng n lại).

[5] Việc bà L cho rằng khi tạo lập khối tài sản của ông Lâm B, bà P6 thì có công sức của ông L3 là chính, vì lúc đó ông Lâm B, bà P6 đã già. Điều này, như phân tích ở phần [4] công sức của ông L3 được tính tương đương 01 kỷ phần thừa kế là phù hợp. Đối với bà L cho rằng bà Phan 1 biên bản cho cho bà Lâm Thị Đ nhưng cấp sơ thẩm không xem xét và cho rằng khi bà Phan t cho ông L3 nhà, đất tranh chấp là không có cơ sở chấp nhận.

[6] Việc nguyên đơn đề nghị tuyên bố vô hiệu đối với “Hợp đồng đổi nhà cho nhau” viết giấy tay giữa bà Lâm Thị L với ông Nguyễn Văn K1, bà Lý Thị Phương Đ2: Sau khi hòa giải ở cơ sở xong thì các đương sự mới làm hợp đồng đổi nhà cho nhau, bà Đ2 đưa trước cho bà L 500.000.000 đồng. Hợp đồng này không đúng về hình thức và các bên chưa thực hiện được 2/3 nghĩa vụ trong hợp đồng. Mặt khác, phần đất di sản thừa kế của ông B chết để lại chia thừa kế theo quy định pháp luật nên các bên đổi nhà cho nhau là không đúng quy định tại khoản 2 Điều 129 của Bộ luật Dân sự. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ chấp nhận. Ngoài ra, ông K1 xác định bà L đã nhận nhà, đất của vợ chồng ông, nhưng vợ chồng ông chưa nhận nhà, đất của bà L. Đồng thời, các đương sự trong vụ án không ai yêu cầu Tòa án xử lý hậu quả của hợp đồng đổi nhà cho nhau. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét xử lý hậu quả hợp đồng đổi nhà cho nhau vô hiệu và tách nội dung này thành vụ kiện khác để bà L với vợ chồng ông K1 khởi kiện khi có yêu cầu là đúng pháp luật.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét thấy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của đại diện nguyên đơn ông Nguyễn Vĩnh P và kháng cáo của bị đơn bà Lâm Thị L. Chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[7] Về án phí:

Nguyên đơn bà Lâm Thị H và bị đơn bà Lâm Thị L là người cao tuổi được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên;

Căn cứ Điều 296, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH :

I. Không chấp nhận đơn kháng cáo của đại diện nguyên đơn ông Nguyễn Vĩnh P và kháng cáo của bị đơn Lâm Thị L. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2023/DS-ST ngày 19-7-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng. Xử:

Áp dụng khoản 2 Điều 129, Điều 623, 645, 649, điểm a khoản 1 Điều 650, Điều 651, Điều 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013; khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị H đối với yêu cầu công nhận phần đất có diện tích 968m², thuộc thửa đất số 816, tờ bản đồ số 08, tọa lạc tại ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng là di sản thừa kế của ông Lâm B và bà Lý Thị P6 (Lý Thị P5) chết để lại và đối với yêu cầu xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu giữa bà Lâm Thị L với ông Nguyễn Văn K1, bà Lý Thị Phương Đ2.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị H về yêu cầu: Chia thừa kế tài sản của ông Lâm B và bà Lý Thị P6 (Lý Thị P5) chết để lại và yêu cầu tuyên bố vô hiệu đối với “Hợp đồng đổi nhà cho nhau”, như sau:
    1. Chia thừa kế tài sản và tiếp tục giao cho bà Lâm Thị L cùng 07 người con gồm bà Lâm Thị Kim Y1 (Lâm Thị K), bà Lâm Thị P1, bà Lâm Thị P2 (P), ông Lâm V (V), ông Lâm D, ông Lâm Đ1, ông Lâm T toàn bộ thửa đất số 1265, tờ bản đồ số 08, theo đo đạc thực tế có diện tích 304,3m² (đất ở diện tích 70m², đất trồng cây lâu năm diện tích 234,3m²), tọa lạc tại ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng và toàn bộ công trình xây dựng trên đất: Nhà chính, diện tích 85m², khung cột bê tông cốt thép đúc sẵn, tường xây gạch 10cm (02 vách) + vách tôn (02 vách), vì kèo + xà gồ sắt + gỗ, mái tôn; nhà sau, diện tích 31,89m², khung cột gỗ, vách tôn + vách lá, nền láng xi măng + gạch men, vì kèo + xà gồ gỗ, mái tôn; nhà vệ sinh, diện tích 5,786m², tường xây gạch 10cm, nền lót gạch men, xà gồ gỗ, mái tôn; mái che, diện tích 25,2m², khung cột sắt, vì kèo + sà gồ sắt, mái tôn; hàng rào, diện tích 17,1m², trụ đà bê tông cốt thép, tường xây gạch lửng dày 10cm + lưới B40; sân xi măng, diện tích 64,8m², lớp cát nền đầm chặt, trên lót bê tông gạch vỡ, lớp trên cùng láng xi măng, cùng cây trồng trên đất: Dừa loại A 04 cây; Xoài loại A 01 cây, loại B 01 cây, loại C 02 cây; Mít loại B 01 cây; Mận loại B 01 cây; Sa kê loại A 01 cây; Ổi loại C 01 cây; Cây xanh loại B 02 cây. Phần đất có số đo tứ cận như sau: Hướng Đông Bắc giáp với kênh hậu, có số đo 9,56m. Hướng Tây Nam giáp với đường Q, có số đo 9,08m. Hướng Đông Nam giáp với đất bà Nguyễn Thị Thu T1, có số đo 17,02m + 6,06m + 10,08m. Hướng Tây bắc giáp với bà Danh Thị Kim K2, có số đo 17,03m + 15,82m (Đính kèm sơ đồ hiện trạng thửa đất ngày 21-6-2022 - BL số 145).
    2. Về trả giá trị kỷ phần thừa kế như sau:
    3. - Buộc bà Lâm Thị L cùng 07 người con gồm bà Lâm Thị Kim Y1 (Lâm Thị K), bà Lâm Thị P1, bà Lâm Thị P2 (P), ông Lâm V (V), ông Lâm D, ông Lâm Đ1, ông Lâm T trả cho bà Lâm Thị H và bà Lâm Thị H2 tổng số tiền 1.909.985.000 đồng (Một tỷ chín trăm linh chín triệu chín trăm tám mươi lăm nghìn đồng).

      - Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, đối với thời gian chậm thi hành án.

    4. Tuyên bố vô hiệu đối với “Hợp đồng đổi nhà cho nhau” lập ngày 26-3-2022 giữa bà Lâm Thị L với ông Nguyễn Văn K1, bà Lý Thị Phương Đ2. Do các đương sự có liên quan không ai yêu cầu xử lý hậu quả đối với hợp đồng đổi nhà cho nhau khi bị vô hiệu, nên HĐXX không đặt ra xem xét; các đương sự có liên quan có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác đối với hợp đồng đổi nhà cho nhau giữa bà Lâm Thị L với ông Nguyễn Văn K1, bà Lý Thị Phương Đ2 theo quy định của pháp luật.
  3. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị H về việc yêu cầu: Hủy giấy chứng nhận QSDĐ số AD 569086, số vào sổ cấp giấy 54, do UBND huyện M, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 17-01-2006 cho bà Lý Thị Phan . Hủy giấy chứng nhận QSDĐ số AI 913638, số vào sổ cấp giấy 82, do UBND huyện M, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 04-06-2007 cho bà Lâm Thị L và ông Lâm L3. Hủy giấy chứng nhận QSDĐ số CH 02903, do UBND huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 03-12-2015 cho bà Lâm Thị L. Hủy Biên bản họp gia đình về việc chia đất cho con được lập ngày 02-01-2007 có dấu lăn tay của bà Lý Thị P5, Lâm Thị S, Lâm Thị Đ và ông Lâm L3, vì giả tạo.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

II. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Lâm Thị H và bà Lâm Thị L.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các Quyết định khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 27-5-2024./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Cục THADS tỉnh Sóc Trăng;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VP; HSVA; ĐTM.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thúy Cầu

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Các Thẩm phán

Vũ Đức Toàn

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Bùi Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 344/2024/DS-PT ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp thừa kế tài sản, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng đổi nhà

  • Số bản án: 344/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng đổi nhà
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger