|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 343/2024/HS-ST Ngày: 12-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thanh Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Ngọc Phương;
- Bà Trần Kim Thoa;
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 385/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 417/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Tuấn A (tên gọi khác: Tuấn Xì T), sinh năm 2005 tại tỉnh An Giang; nơi thường trú: Khóm V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang; chỗ ở: C khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa Hảo; Cha: không có; Mẹ: bà Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh năm 1990; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/3/2024 đến nay.
- Nguyễn Thanh T2 (tên gọi khác: Trọng N), sinh năm 2005 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi thường trú: Ấp H, xã V, huyện C, tỉnh An Giang; chỗ ở: Đường T, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; con ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1982 và bà Lê Thị H, sinh năm 1976; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/3/2024 đến nay.
- Danh Thiện S1 (tên gọi khác: S1 nhỏ) sinh năm 2004 tại Thành phố Cần Thơ; nơi thường trú: 320 Tỉnh lộ 921 khu vực T, phường T, quận T, Thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Danh Văn N1, sinh năm 1967 và bà Dương Thị Thùy L, sinh năm 1975; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/3/2024 đến nay, có mặt.
- Trương Văn N2, sinh năm 2006 tại tỉnh An Giang; nơi thường trú: Khóm V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang; chỗ ở: Nhà T, tổ E, khu phố G, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Trương Văn T3 sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị P sinh năm 1973; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/3/2024 đến nay, có mặt.
- Nguyễn Văn C, sinh năm 2004 tại tỉnh Sóc Trăng; nơi thường trú: Ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở: E khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn N3 sinh năm 1978 và bà Cao Thị N4 sinh năm 1980; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/3/2024 đến nay, có mặt.
Bị hại:
- Ông Lương Minh Đ, sinh năm 1974; nơi thường trú: Ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau; chỗ ở: Phạm Thiệt B khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1983; nơi thường trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; chỗ ở: B khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- Ông Trần Văn T4, sinh năm 1984; nơi thường trú: Ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở: C khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1982; nơi thường trú: Ấp H, xã V, huyện C, tỉnh An Giang; chỗ ở: Khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn N3, sinh năm 1978; nơi thường trú: Ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở: E khu dân cư T, khu phố B, phường T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh năm 1990; nơi thường trú: Khóm V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang; chỗ ở: Hẻm B, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
- Ông Trương Văn T3, sinh năm 1971; nơi thường trú: Khóm V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang; chỗ ở: Nhà T, tổ E, khu phố G, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- Ông Danh Văn N1, sinh năm 1967; nơi thường trú: 320 tỉnh lộ 921 khu vực T, phường T, quận T, Thành phố Cần Thơ; chỗ ở: C khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1979. Vắng mặt.
- Bà Lê Thị Như Ý, sinh năm 2008. Vắng mặt.
- Bà Ngô Thị O, sinh năm 1982. Vắng mặt.
- Bà Bùi Thị T5, sinh năm 1982. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Như Q, sinh năm 2007. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 16/10/2023, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Thanh T2, Nguyễn Thị Như Q (là bạn gái của Tuấn A) ngồi trước cổng cơ sở trọ tại địa chỉ: C, khu dân cư T, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để uống nước thì xảy ra mâu thuẫn cự cãi với nhóm của ông Lương Minh Đ, ông Nguyễn Thanh H1 và ông Trần Văn T4 đang ăn uống trên vỉa hè phía đối diện trước địa chỉ: C đường N, khu dân cư T, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương do nhóm của ông Đ trêu chọc Q và đánh nhóm của Tuấn A nên Tuấn A và T2 bàn bạc với nhau gọi thêm người để đánh trả thù.
Thực hiện ý định trên, Tuấn A sử dụng tài khoản mạng xã hội M gọi cho Danh Thiện S1 rủ đánh nhóm ông Đ thì S1 đồng ý. Còn T2 gọi điện cho Nguyễn Văn C và Trương Văn N2 rủ đánh nhóm ông Đ thì C, N2 đồng ý. Đồng thời, S1 rủ thêm 01 người bạn tên “Hổ” và 01 nam thanh niên khác (là bạn của S1 quen biết ngoài xã hội, nhưng không biết tên) đi cùng thì cả hai đồng ý. Theo đó, S1 mang theo 01 dao tự chế, lưỡi bằng kim loại màu trắng, cán gỗ màu đen, dài khoảng 50 cm cất giấu vào bên trong áo khoác đang mặc. Cả nhóm hẹn gặp nhau tại đầu đường D thuộc khu dân cư T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. T2 điều khiển xe mô tô biển số 67L1-794.21 chở Tuấn A. Ca điều khiển xe mô tô kiểu dáng Honda Blade màu xanh (chưa rõ biển số) chở N2, S1. “Hổ” điều khiển xe mô tô kiểu dáng Sirius màu đỏ-cam (chưa rõ biển số) chở người nam thanh niên (bạn của S1).
Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, nhóm của Tuấn A điều khiển xe mô tô đi đến đường N thuộc khu dân cư T, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, khi nhìn thấy nhóm của ông Đ ngồi ăn uống thì nhóm của Tuấn A ngay lập tức xông đến đuổi đánh, chém nhóm của ông Đ. S1 sử dụng 01 dao tự chế chém trúng 01 nhát vào vùng ngực phải và 01 nhát trúng vào bàn tay phải của ông H1 gây thương tích; S1 tiếp tục chém 01 nhát trúng vào cẳng tay trái của Đ gây thương tích; S1 tiếp tục chém 02-03 nhát trúng vào mặt ngoài cánh tay trái, thái dương trái và phía sau cổ của ông T4 gây thương tích. Lúc này, Tuấn A và N2 lao vào dùng mũ bảo hiểm đánh trúng vào vùng đầu của ông Đ và ông T4 nhiều lần gây thương tích, rồi tiếp tục dùng tay, chân đánh đá các bị hại; C, “Hổ” và nam thanh niên (bạn của S1) dùng tay, chân đánh đá ông Đ, ông T4 và ông H1, còn T2 đứng ngoài không tham gia đánh. Sau khi gây thương tích cho nhóm của ông Đ, nhóm của Tuấn A nhanh chóng điều khiển xe mô tô tẩu thoát khỏi hiện trường. Còn H1, Đ và T4 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh B. Đến ngày 17/10/2023, ông Đ, ông H1 và ông T6 đến Công an phường T, thành phố T trình báo vụ việc theo quy định. Ngày 12/3/2024, do biết hành vi vi phạm pháp luật của mình nên N2, T2 và Tuấn A đến Công an phường T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi như trên. Riêng C, S1, đối tượng “Hổ” và người thanh niên (bạn của S1) bỏ trốn.
Ngày 17/10/2024, Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T có Công văn số 929/UBND-NC đề nghị xử lý đối với Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Thanh T2, Danh Thiện S1, Nguyễn Văn C, Trương Văn N2 có hành vi nêu trên xảy ra tại đường N thuộc khu dân cư T, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương đã gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 02 (hai) nón bảo hiểm màu đen bị bể thành nhiều mảnh.
- 02 (hai) chiếc dép nhựa màu đen.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 09/2024/KLGÐ-TTPY ngày 02/01/02024 của Trung tâm Pháp y tỉnh B đối với bị hại Nguyễn Thanh H1 kết luận:
- Vết thương ngực phải 10,5 x 0,3 cm, đứt cơ ngực lớn, cơ ngực bé, cơ liên sườn ngoài, cơ lưng rộng, đã khâu nối cơ, sẹo lành;
- Vết thương lòng bàn tay vòng qua ô mô út ngón V bàn tay phải 10 x 0,2 cm, gãy hở xương bàn V, đứt gân gấp nông sâu ngón III, IV, V, gân duỗi ngón V, đứt bó mạch - thần kinh gian ngón chung II-III, III-IV, IV-V, đã phẩu thuật khâu nối gân cơ, thần kinh, kết hợp xương bàn ngón V, vết mổ lòng bàn tay phải 3 x 0,2 cm sẹo lành.
Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thanh H1 tại thời điểm giám định là: 20% (Hai mươi phần trăm).
Cơ chế hình thành thương tích:
- Vết thương ngực phải: sẹo bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra;
- Vết thương lòng bàn tay phải, gãy hở xương bàn V, đứt gân gấp nông sâu ngón III, IV, V, gân duỗi ngón V, bó mạch thần kinh gian ngón chung II-III, III-IV, IV-V: sẹo bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 12/2024/KLGĐ-TTPY ngày 02/01/02024 của Trung tâm Pháp y tỉnh B đối với bị hại Trần Văn T4 kết luận:
- Vết thương phần mềm vùng đầu 4 x 0,4 cm, vết thương phần mềm vùng cổ phải 11 x 0,5 cm, sẹo lành;
- Vết thương cánh tay trái 11,5 x 0,4 cm, đứt cơ Delta, cơ tam đầu cánh tay trái, sẹo lành.
Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Văn T4 tại thời điểm giám định là: 08% (Tám phần trăm).
Cơ chế hình thành thương tích:
- Vết thương phần mềm vùng đầu: sẹo bờ sắc gọn, khả năng do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra;
- Vết thương phần mềm vùng cổ phải, vết thương cánh tay trái, đứt cơ tam đầu cánh tay trái, cơ Delta tay trái: sẹo bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 11/2024/KLGĐ-TTPY ngày 02/01/02024 của Trung tâm Pháp y tỉnh B đối với bị hại Lương Minh Đ kết luận:
- Vết thương đầu vùng đỉnh phải: 3 x 0,2 cm, sẹo lành;
- Vết thương mặt sau 1/3 dưới cẳng tay trái 3,6 x 0,5, đứt gân duỗi ngón V đã khâu, sẹo lành, mẻ 1/3 dưới xương trụ đã can.
Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lương Minh Đ tại thời điểm giám định là: 05% (Năm phần trăm).
Cơ chế hình thành thương tích:
- Vết thương đầu vùng đỉnh phải: sẹo bờ nham nhở, khả năng do vật tày gây ra;
- Vết thương mặt sau 1/3 dưới cẳng tay trái, đứt gân duỗi ngón V, mẻ 1/3 dưới xương trụ trái: sẹo bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.
Cáo trạng số 346/CT-VKS-TA ngày 31/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Trương Văn N2, Danh Thiện S1, Nguyễn Văn C, Nguyễn Thanh T2 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 134 và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa trình bày quan điểm: Vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng, xác định các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Trương Văn N2, Danh Thiện S1, Nguyễn Văn C, Nguyễn Thanh Trọng phạm T7 “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 134 và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
- Về hình phạt:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 và điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A mức hình phạt từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích và từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội từ 05 (năm) năm 03 (ba) tháng đến 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C mức hình phạt từ 02 (hai) năm 09 (chín) tháng đến 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích và từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù;
- Xử phạt bị cáo Danh Thiện S1 mức hình phạt từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích và từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội từ 05 (năm) năm 03 (ba) tháng đến 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù;
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 và điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 103 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Trương Văn N2 mức hình phạt từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích và từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù;
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 và điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T2 mức hình phạt từ 02 (hai) năm 09 (chín) tháng đến 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích và từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù;
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Trương Văn N2, Danh Thiện S1, Nguyễn Văn C và Nguyễn Thanh T2 đã tác động gia đình liên đới bồi thường chi phí điều trị thương tích cho ông Lương Minh Đ là 10.000.000 đồng, ông Nguyễn Thanh H1 là 30.000.000 đồng, ông Trần Văn T4 35.000.000 đồng. Ông Đ, ông H1 và ông T4 đã nhận được số tiền trên, không có yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 (hai) nón bảo hiểm màu đen bị bể thành nhiều mảnh, 02 (hai) chiếc dép nhựa màu đen.
Đối với đối tượng tên “Hổ” và người nam thanh niên bạn của bị cáo Danh Thiện S1 đi cùng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã xác minh, truy tìm nhưng chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên tiếp tục xác minh, xử lý sau.
- Các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Trương Văn N2, Danh Thiện S1, Nguyễn Văn C và Nguyễn Thanh T2 trình bày ý kiến: Thống nhất với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố, thống nhất với mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị. Xin Hội đồng xét xử xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất của đại diện Viện kiểm sát đề nghị để sớm trở về làm người công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, các bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Trương Văn N2, Danh Thiện S1, Nguyễn Văn C và Nguyễn Thanh T2 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Ngày 16/10/2023, tại đoạn đường N thuộc địa chỉ: C khu dân cư T, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Tuấn A, Trương Văn N2, Danh Thiện S1, Nguyễn Văn C, Nguyễn Thanh T2 có hành vi sử dụng hung khí nguy hiểm là dao tự chế, mũ bảo hiểm rượt đuổi đánh, chém trúng 01 nhát vào vùng ngực phải và 01 nhát trúng vào bàn tay phải của ông Nguyễn Thanh H1 gây thương tích là 20%, trúng 01 nhát vào cẳng tay trái của ông Lương Minh Đ gây thương tích là 05%, trúng 02-03 nhát vào mặt ngoài cánh tay trái, thái dương trái và phía sau cổ của ông ông Trần Văn T4 gây thương tích là 08%, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của ông Lương Minh Đ, ông Nguyễn Thanh H1, ông Trần Văn T4 trái pháp luật và gây mất trật tự trị an tại địa phương.
Đồng thời, hành vi của Nguyễn Tuấn A, Trương Văn N2, Danh Thiện S1, Nguyễn Văn C, Nguyễn Thanh T2 sử dụng hung khí nguy hiểm là dao tự chế, mũ bảo hiểm rượt đuổi đánh, chém ông Lương Minh Đ, ông Nguyễn Thanh H1, ông Trần Văn T4 tại khu vực đoạn đường N5 thuộc khu dân cư T, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương là khu vực công cộng, đông dân cư sinh sống, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Trương Văn N2, Danh Thiện S1, Nguyễn Văn C, Nguyễn Thanh T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 và điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Trương Văn N2, Danh Thiện S1, Nguyễn Văn C, Nguyễn Thanh T2 về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng cần được bảo vệ của công dân, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị xử lý nhưng cố ý thực hiện. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất hành vi của các bị cáo để có tác dụng răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo Trương Văn N2, Danh Thiện S1, Nguyễn Văn C và Nguyễn Tuấn A phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Nguyễn Thanh T2 xúi giục bị cáo Trương Văn N2 là người chưa thành niên phạm tội nên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho các bị hại; các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
[4] Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, chuẩn bị và đều thống nhất thực hiện hành vi tội phạm. Trong đó, bị cáo Nguyễn Tuấn A là khởi xướng, rủ rê bị cáo Danh Thiện S1; bị cáo Nguyễn Thanh T2 là người rủ rê các bị cáo Nguyễn Văn C và Trương Văn N2 và đứng canh để các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội; bị cáo S1 trực tiếp sử dụng hung khí gây thương tích cho các bị hại nên mức hình phạt của bị cáo Nguyễn Tuấn A và Danh Thiện S1 là ngang nhau và cao hơn mức hình phạt của các bị cáo còn lại. Tuy nhiên, bị cáo Trương Văn N2 tại thời điểm phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên áp dụng Điều 91; Điều 101; Điều 103 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để quyết định hình phạt đối với bị cáo N2.
[5] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là phù hợp nên được chấp nhận.
[6] Đối với đối tượng tên “Hổ” và người nam thanh niên bạn của bị cáo Danh Thiện S1 đi cùng chưa rõ lai lịch, địa chỉ tham gia cùng các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục điều tra, xác minh, khi xác định được sẽ xử lý sau.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã tác động gia đình liên đới bồi thường chi phí điều trị thương tích cho ông Lương Minh Đ là 10.000.000 đồng, ông Nguyễn Thanh H1 là 30.000.000 đồng, ông Trần Văn T4 35.000.000 đồng. Ông Đ, ông H1 và ông T4 đã nhận được số tiền trên, không có yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng:
- 02 (hai) nón bảo hiểm màu đen bị bể thành nhiều mảnh; 02 (hai) chiếc dép nhựa màu đen là công cụ các bị cáo thực hiện phạm tội, vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy:
- 01 (một) dao tự chế lưỡi bằng kim loại màu trắng, cán gỗ màu đen, kiểu dáng dao cánh bướm, dài khoảng 50 cm do bị cáo Danh Thiện S1 sử dụng để chém gây thương tích cho các bị hại, quá trình điều tra xác định S1 mua dao tự chế trên mạng xã hội với giá 600.000 đồng. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, S1 đưa dao tự chế này cho bị cáo Nguyễn Tuấn A vứt bỏ tại khu đất trống cạnh vườn cao su thuộc khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã truy tìm vật chứng nhưng chưa thu hồi được nên tiếp tục thông báo truy tìm, xử lý sau.
- 01 (một) xe mô tô biển số 67L1-794.21 do bị cáo Nguyễn Thanh T2 sử dụng làm phương tiện phạm tội, quá trình điều tra xác định xe mô tô trên là tài sản của ông Nguyễn Thanh S, sinh năm: 1982, nơi thường trú: Ấp H, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (là cha ruột của bị cáo T2). Qua làm việc, ông S khai nhận cho T2 mượn xe để đi công việc, không biết T2 sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không đề cập xử lý là có căn cứ.
- 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Honda Blade màu xanh-đen do bị cáo Nguyễn Văn C sử dụng làm phương tiện phạm tội, quá trình điều tra xác định xe mô tô trên là tài sản của ông Nguyễn Văn N3, sinh năm: 1978, nơi thường trú: Ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (là cha ruột của bị cáo C). Qua làm việc, ông N3 khai nhận không biết C sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội. Vào tháng 11/2023, do ông N3 không có nhu cầu sử dụng xe mô tô trên nên đã bán với giá 5.000.000 đồng cho người khác, không thu hồi được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không đề cập xử lý.
[9] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Trương Văn N2, Danh Thiện S1, Nguyễn Văn C, Nguyễn Thanh T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Điểm đ khoản 2 Điều 134 và điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Văn C và Danh Thiện S1.
- Điểm đ khoản 2 Điều 134 và điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55, Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 103 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trương Văn N2.
- Điểm đ khoản 2 Điều 134 và điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Thanh T2.
- Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Trương Văn N2, Danh Thiện S1, Nguyễn Văn C, Nguyễn Thanh Trọng P1 các tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 03 (ba) năm tù về tội Cố ý gây thương tích và 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/3/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 02 (hai) năm 09 (chín) tù về tội Cố ý gây thương tích và 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/3/2024.
Xử phạt bị cáo Danh Thiện S1 03 (ba) năm tù về tội Cố ý gây thương tích và 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/3/2024.
Xử phạt bị cáo Trương Văn N2 02 (hai) năm tù về tội Cố ý gây thương tích và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/3/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T2 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích và 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/3/2024.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu huỷ 02 (hai) nón bảo hiểm màu đen bị bể thành nhiều mảnh; 02 (hai) chiếc dép nhựa màu đen.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/12/2024 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).
3. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Trương Văn N2, Danh Thiện S1, Nguyễn Văn C, Nguyễn Thanh T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Các bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết./.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thanh T8 |
Bản án số 343/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 343/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích và Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cố ý gây thương tích
