Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 343/2024/HS-ST

Ngày: 11 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Hiền và ông Nguyễn Phúc Tuấn

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Tuấn Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 11/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 308/2024/TLST-HS ngày 12/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 332/2024/QĐXXST-HS ngày 28/11/2024 đối với bị cáo:

Lê Ngọc B, sinh năm 1991; CCCD số 038xxxx023; Giới tính: Nam; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn G, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở khi bị khởi tố: Số A, ngõ A QT, tổ G, phường Y, quận H, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Lê Ngọc N, con bà: Nguyễn Thị T; Vợ Hoàng Thị T1 01 con; D chỉ bản số 288 do Công an quận H lập ngày 11/6/2024; Tiền án, tiền sự: Không.

Tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo tại ngoại tại địa phương. Có mặt

* Bị hại: NC. Địa chỉ: K, B E, Phần Lan. Đại diện theo ủy quyền: Công ty L1 &G. Địa chỉ: Tầng I, tòa nhà V, số A H, phường N, quận C, Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Bà Vũ Thị Thanh B1 – Giám đốc. Đại diện theo ủy quyền: Ông Bạch Hoàng G, sinh năm 1990; CCCD 001xxxx440; HKKT: TDP 4 M, H, Hà Nội (theo giấy ủy quyền số 5911/2024/-TGVN ngày 11/12/2024 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Trần Ngọc T2, sinh năm 1996; HKTT: Thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Có đơn xin xét xử vắng mặt. ĐT: 0377.XXX.083
  2. Chị Đinh Thị H, sinh năm 1986; HKTT: phường B, quận B, TP .; Trú tại: TDP I, phường N, TP., tỉnh Đắc Nông. Có đơn xin xét xử vắng mặt. ĐT: 0938.XXX.289
  3. Chị Trịnh Thị N1, sinh năm 1993; HKTT: Thôn C, xã V, huyện V, Vĩnh Phúc. Có đơn xin xét xử vắng mặt. ĐT: 0982.XXX.066
  4. Anh Lâm Ngọc H1, sinh năm 1993; HKTT: Thôn H, xã C, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Có đơn xin xét xử vắng mặt. ĐT: 0985.XXX.448.
  5. Anh Lê Đức A, sinh năm 1988; HKTT: Thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Chỗ ở: Thôn B, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Có đơn xin xét xử vắng mặt. ĐT: 0363.XXX.644
  6. Anh Lê Duy T3, sinh năm 1989; HKTT: Thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Có đơn xin xét xử vắng mặt. ĐT: 0965.XXX.333
  7. Chị Lê Thị V, sinh năm 1989; HKT: Thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Có đơn xin xét xử vắng mặt. ĐT: 0962.XXX.555
  8. Chị Chung Thị T4, sinh năm 1984; HKTT: Thôn Đ, xã H, H, Thanh Hóa. Có đơn xin xét xử vắng mặt. ĐT: 0962.XXX.144/ 0977.XXX.170
  9. Anh Hoàng Thanh H2, sinh năm 1988; Chỗ ở: Chung cư A, phường D, quận H, Hà Nội. Có đơn xin xét xử vắng mặt. ĐT: 0982.XXX.000
  10. Anh Phạm Văn T5, sinh năm: 1991: HKTT: Thôn B, xã C, huyện M, tỉnh Hưng Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt. ĐT: 0981.XXX.678
  11. Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1983; HKTT: Thôn H, xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin xét xử vắng mặt. ĐT: 0984.XXX.822

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án thể hiện Lê Ngọc B đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:

Ngày 29/8/2023, Thanh tra B Thông tin và Truyền thông kiểm tra Hộ kinh doanh H7(địa chỉ: Số A, ngõ A Q, tổ G, phường Y, quận H, TP Hà Nội) do Lê Ngọc B làm chủ cơ sở theo đăng ký kinh doanh Số 0108045972 do Ủy ban nhân dân quận H cấp ngày 17/2/2023. Quá trình kiểm tra Lê Ngọc B không xuất trình được hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa, không xuất trình được hồ sơ chứng nhận, công bố hợp quy thiết bị viễn thông số điện thoại đang kinh doanh nên tổ công tác đã tiến hành tạm giữ 4.873 chiếc điện thoại, trong đó có 3.617 chiếc điện thoại di động có dấu hiệu giả nhãn hiệu N.

Ngày 04/10/2023, Thanh tra B Thông tin và Truyền thông có văn bản số 1516 về việc chuyển hồ sơ vụ việc có dấu hiệu tội phạm đến Cơ quan điều tra - Công an T14 để điều tra theo thẩm quyền.

Kết quả điều tra xác định: Toàn B số 4.873 chiếc điện thoại (trong đó có 3.617 chiếc điện thoại di động gắn nhãn hiệu N) do Thanh tra B thông tin và truyền thông tạm giữ là của B. B mua lại của một số đối tượng trên địa bàn các tỉnh khác về để bán lại kiếm lời.

Lê Ngọc B khai nhận: Từ khoảng tháng 6/2018, tuy B không được đơn vị chính hãng ủy quyền hoặc thuê lắp ráp sản phẩm điện thoại di động nhãn hiệu N nhưng đã có hành vi mua linh kiện, vi mạch có gắn màn hình, vỏ, bàn phím, pin, sạc, vỏ hộp các loại điện thoại di động nhãn hiệu N từ nhiều nguồn khác nhau (các đời máy cũ có sử dụng bàn phím, hiện hãng không còn sản xuất) về lắp rắp, buôn bán giả mạo nhãn hiệu điện thoại N (17 loại điện thoại gồm: N 100, N 105, N 106, N 107, N 110, N 130, N 150, N 210, N 215, N 216, N 230, N 1202, N 1280, N 6300, N C2, N C6 Pro, N C6-00). Sau khi mua được linh kiện, phụ kiện điện thoại, Lê Ngọc B thuê Nguyễn Xuân N2 (Sinh năm: 1990; HKTT: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) và Nguyễn Văn T6 (Sinh năm: 1994; HKTT: xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) lắp ráp, kiểm tra tình trạng hoạt động và đóng gói thành điện thoại nhãn hiệu N hoàn chỉnh và rao bán cho người dùng trên các trang thương mại điện tử S và L. Tính đến khi bị phát hiện, B đã bán tổng số 127.141 chiếc điện thoại giả mạo nhãn hiệu N cho khách qua trang thương mại điện tử S (gian hàng “H” sau đó đổi thành “Hoàng B S”) và trang thương mại điện tử L2 (gian hàng “Hà Bắc B S” và “C Mẹ &Bé”).

Ngày 25/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T14 ra văn bản số 10400 gửi Công ty L3 là đại diện pháp lý của NC cung cấp thông tin liên quan đến nhãn hiệu điện thoại N. Ngày 07/12/2023, Công ty L3 có văn bản số 5044 trả lời: đối với 3.461 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu N tạm giữ của Lê Ngọc B là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu N, không phải do NC sản xuất, phân phối. NC cũng không ủy quyền hay có bất kỳ mối quan hệ hợp tác nào với H3 kinh doanh Hà Bắc S1. Công ty L3 đã cung cấp hồ sơ pháp lý liên quan việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu N tại Việt Nam. Trong 17 loại sản phẩm thì 16 loại đã dừng sản xuất nên không cung cấp được mẫu, còn loại N 215 4G thì có thể cung cấp sau. Công ty cung cấp Báo giá sản phẩm.

Tại văn bản số ra 3715 ngày 21/8/2024 của Công ty L3 (đại diện pháp lý của NC) gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H cung cấp thông tin về việc: “Trong các sản phẩm bị thu giữ có sản phẩm N 215 4G là Công ty N4 vẫn đang sản xuất và kinh doanh. Tuy nhiên...công ty không thể cung cấp mẫu sản phẩm là hàng thật tương ứng..."

* Kết quả trưng cầu giám định, định giá tài sản

(1). Đối với 3.617 chiếc điện thoại gắn nhãn hiệu N:

- Ngày 30/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T14 ra Quyết định trưng cầu giám định số 914 đối với 3.461 chiếc điện thoại gắn nhãn hiệu N đã tạm giữ của Lê Ngọc B. Tại bản Kết luận giám định sở hữu công nghiệp số: NH1003-23TC.TP/KLGĐ của Viện Khoa học Sở hữu trí tuệ - B Khoa học và Công nghệ, kết luận:

  1. Sản phẩm điện thoại di động N 100 gắn dấu hiệu “N”- như thể hiện tại Tài liệu giám định - là hàng hóa giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm điện thoại thuộc Nhóm 09 theo ĐKQT số 1298220 của NC theo Điều 213.2 Luật SHTT.
  2. Sản phẩm điện thoại di động N 105 gắn dấu hiệu “N”- như thể hiện tại Tài liệu giám định - là hàng hóa giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm điện thoại thuộc Nhóm 09 theo ĐKQT số 1298220 của NC theo Điều 213.2 Luật SHTT.
  3. Sản phẩm điện thoại di động N 106 gắn dấu hiệu “N”- như thể hiện tại Tài liệu giám định - là hàng hóa giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm điện thoại thuộc Nhóm 09 theo ĐKQT số 1298220 của NC theo Điều 213.2 Luật SHTT.
  4. Sản phẩm điện thoại di động N 107 gắn dấu hiệu “N”- như thể hiện tại Tài liệu giám định - là hàng hóa giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm điện thoại thuộc Nhóm 09 theo ĐKQT số 1298220 của NC theo Điều 213.2 Luật SHTT.
  5. Sản phẩm điện thoại di động N 110 gắn dấu hiệu “N”- như thể hiện tại Tài liệu giám định - là hàng hóa giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm điện thoại thuộc Nhóm 09 theo ĐKQT số 1298220 của NC theo Điều 213.2 Luật SHTT.
  6. Sản phẩm điện thoại di động N 130 gắn dấu hiệu “N”- như thể hiện tại Tài liệu giám định - là hàng hóa giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm điện thoại thuộc Nhóm 09 theo ĐKQT số 1298220 của NC theo Điều 213.2 Luật SHTT.
  7. Sản phẩm điện thoại di động N 150 gắn dấu hiệu “N”- như thể hiện tại Tài liệu giám định - là hàng hóa giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm điện thoại thuộc Nhóm 09 theo ĐKQT số 1298220 của NC theo Điều 213.2 Luật SHTT.
  8. Sản phẩm điện thoại di động N 210 gắn dấu hiệu “N”- như thể hiện tại Tài liệu giám định - là hàng hóa giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm điện thoại thuộc Nhóm 09 theo ĐKQT số 1298220 của NC theo Điều 213.2 Luật SHTT.
  9. Sản phẩm điện thoại di động N 215 gắn dấu hiệu “N”- như thể hiện tại Tài liệu giám định - là hàng hóa giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm điện thoại thuộc Nhóm 09 theo ĐKQT số 1298220 của NC theo Điều 213.2 Luật SHTT.
  10. Sản phẩm điện thoại di động N 216 gắn dấu hiệu “N”- như thể hiện tại Tài liệu giám định - là hàng hóa giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm điện thoại thuộc Nhóm 09 theo ĐKQT số 1298220 của NC theo Điều 213.2 Luật SHTT.
  11. Sản phẩm điện thoại di động N 230 gắn dấu hiệu “N”- như thể hiện tại Tài liệu giám định - là hàng hóa giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm điện thoại thuộc Nhóm 09 theo ĐKQT số 1298220 của NC theo Điều 213.2 Luật SHTT.
  12. Sản phẩm điện thoại di động N 1202 gắn dấu hiệu “N”- như thể hiện tại Tài liệu giám định - là hàng hóa giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm điện thoại thuộc Nhóm 09 theo ĐKQT số 1298220 của NC theo Điều 213.2 Luật SHTT.
  13. Sản phẩm điện thoại di động N 1280 gắn dấu hiệu “N”- như thể hiện tại Tài liệu giám định - là hàng hóa giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm điện thoại thuộc Nhóm 09 theo ĐKQT số 1298220 của NC theo Điều 213.2 Luật SHTT.
  14. Sản phẩm điện thoại di động N 6300 gắn dấu hiệu “N”- như thể hiện tại Tài liệu giám định - là hàng hóa giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm điện thoại thuộc Nhóm 09 theo ĐKQT số 1298220 của NC theo Điều 213.2 Luật SHTT.
  15. Sản phẩm điện thoại di động N C2 gắn dấu hiệu “N”- như thể hiện tại Tài liệu giám định - là hàng hóa giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm điện thoại thuộc Nhóm 09 theo ĐKQT số 1298220 của NC theo Điều 213.2 Luật SHTT.
  16. Sản phẩm điện thoại di động N C6 Pro gắn dấu hiệu “N”- như thể hiện tại Tài liệu giám định - là hàng hóa giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm điện thoại thuộc Nhóm 09 theo ĐKQT số 1298220 của NC theo Điều 213.2 Luật SHTT.
  17. Sản phẩm điện thoại di động N C6-00 gắn dấu hiệu “N”- như thể hiện tại Tài liệu giám định - là hàng hóa giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm điện thoại thuộc Nhóm 09 theo ĐKQT số 1298220 của NC theo Điều 213.2 Luật Sở hữu trí tuệ”

- Ngày 22/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 4720 đối với 156 chiếc điện thoại gắn nhãn hiệu N đã tạm giữ của Lê Ngọc B. Tại Bản kết luận giám định sở hữu công nghiệp số NH460-24TC.TP/KLGĐ ngày 26/07/2024 của Viện Khoa học sở hữu trí tuệ - B khoa học và Công nghiệp kết luận: Sản phẩm điện thoại di động N 150 gắn dấu hiệu “N” - như thể hiện tại Tài liệu và Mẫu vật giám định - là hàng hóa giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm điện thoại thuộc Nhóm 09 theo ĐKQT số 1298220 của NC (theo điều 312.2 Luật SHTT).

(2). Đối với 1.412 chiếc điện thoại nhãn hiệu khác gồm: Good G 300; Good G2; I 14 Promax; G1; Good X6; G600; S5626 Pro; Good A; Vietell A7; Ctyon; Goha F; Mobi S; Goha F; Vietell A10; S4; V2; G800; Good A16; SL50; S008,006; A8000; S501; S5; J2; F6; CR7; A80; C6 Pro; Q500; S570; BLT 300; Vietell V600; S73; S72, S70). Lê Ngọc B khai nhận B không lắp ráp mà mua điện thoại thành phẩm của một số đối tượng khác về để bán lại kiếm lời.

Ngày 25/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T14 ra văn bản số 10399 gửi Cục Sở hữu trí tuệ - B Khoa học và công nghệ cung cấp thông tin, tài liệu. Ngày 20/11/2023, Cục Sở hữu trí tuệ - B Khoa học và Công nghệ có văn bản số: 4508/SHTT-TTTT về việc cung cấp thông tin về các nhãn hiệu do Lê Ngọc B bị thu giữ ngày 29/8/2023 liên quan đến 26 nhãn hiệu không phải là nhãn hiệu N. Kết quả: không tìm thấy thông tin về nhãn hiệu được bảo hộ tại Cục Sở hữu trí tuệ cho sản phẩm điện thoại di động.

- Ngày 30/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T14 ra Yêu cầu định giá số 11114 đối với 3461 chiếc điện thoại gắn nhãn hiệu N đã tạm giữ của Lê Ngọc B. Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 303/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS- UBND quận H: 3.461 chiếc điện thoại di động N có tổng giá trị: 2.611.721.973 đồng.

- Ngày 22/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H ra Yêu cầu định giá tài sản số 6635 đối với 156 chiếc điện thoại nhãn hiệu N và 1256 chiếc điện thoại nhãn hiệu khác đã tạm giữ của Lê Ngọc B. Bản kết luận định giá tài sản số: 130/KL-HĐĐGTS ngày 24/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS - UBND Quận H kết luận: 156 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu N 150 có giá trị 102.804.000 đồng; 1.256 chiếc điện thoại (các nhãn hiệu khác không gồm N, có danh sách kèm theo): Không xác định được giá trị do không có thông tin về nhãn hiệu được bảo hộ tại Cục Sở hữu trí tuệ.

* Nguồn gốc số điện thoại đã tạm giữ của Lê Ngọc B

Quá trình điều tra, Lê Ngọc B khai: B mua vi mạch có gắn màn hình, vỏ bàn phím, pin, sạc, vỏ máy ghi nhãn hiệu N và các loại điện thoại nhãn hiệu khác của các đối tượng là các cá nhân khác nhau, không có hóa đơn chứng từ, gồm:

  1. Khoảng tháng 8/2023, Lê Ngọc B mua điện thoại cũ các nhãn hiệu N 105 và Fami 68, Fami 88, X9, 114, dây cáp điện thoại, củ sạc của Trịnh Thị N1 (Sinh năm 1993, HKTT: Thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc) tổng số 04 lần tương đương số tiền 215.855.000 đồng. Trịnh Thị N1 khai nhận mua hàng trên mạng xã hội và bán lại cho B kiếm lời số tiền 5.000.000 đồng, N3 đã tự nguyện nộp lại số tiền trên.
  2. Vào năm 2018-2019, Lê Ngọc B mua điện thoại cũ nhãn hiệu N 1280, N 105, N 100, N 101 (không có pin, sạc) của Lâm Ngọc H1 (Sinh năm 1993, HKTT: xã C, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) tổng số 44 lần tương đương số tiền 279.915.000 đồng. Lâm Ngọc H1 khai nhận mua hàng trên mạng xã hội và bán lại B kiếm lời số tiền 4.000.000 đồng, H4 đã tự nguyện nộp lại số tiền trên.
  3. Lê Ngọc B mua điện thoại cũ nhãn hiệu N 1280, N 6300, N 215, N 105 của Lê Đức A (Sinh năm 1988, HKTT: xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc) tổng số 64 lần tương đương số tiền 3.202.321.000 đồng. Lê Đức A khai nhận mua hàng trên mạng xã hội và bán lại cho B kiếm lời số tiền 7.500.000 đồng, Đức A1 đã tự nguyện nộp lại số tiền trên.
  4. Khoảng năm 2023, Lê Ngọc B mua điện thoại nhãn hiệu G2, X6, E27 Pro của Lê Duy T3 (Sinh năm 1989, HKTT: xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc) tổng số 29 lần tương đương số tiền là 1.126.103.000 đồng. Lê Duy T3 khai nhận mua hàng trên mạng xã hội và bán lại cho B kiếm lời số tiền 12.500.000 đồng, T7 đã tự nguyện nộp lại số tiền trên.
  5. Khoảng tháng 8/2023, Lê Ngọc B mua của Lê Thị V (Sinh năm 1989; HKTT thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc) điện thoại nhãn hiệu A60, A80 và phụ kiện điện thoại: ốp điện thoại, tai nghe, sạc...giá 30.000.000 đồng. V1 khai nhận mua hàng trên mạng xã hội và bán lại cho B kiếm lời số tiền 1.500.000 đồng, V1 đã tự nguyện nộp lại số tiền trên.
  6. Khoảng cuối năm 2022 đến đầu năm 2023, Lê Ngọc B mua vỏ điện thoại nhãn hiệu N 1280 và bàn phím cũ của Chung Thị T4 (Sinh năm 1984, HKTT: Thôn F, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa) tổng số 05 lần tương đương số tiền là 241.150.000 đồng. Chung Thị T4 khai nhận mua hàng trên mạng xã hội và bán lại cho B kiếm lời số tiền 18.000.000 đồng, T8 đã tự nguyện nộp lại số tiền trên.
  7. Vào khoảng năm 2021-2022, Lê Ngọc B mua phụ kiện điện thoại cũ, pin, sạc của Hoàng Thanh H2 (Sinh năm 1988, HKTT: phường D, quận H, TP .), tổng số 05 lần tương đương số tiền là 158.088.600 đồng. Hoàng Thanh H2 khai nhận mua hàng trên mạng xã hội và bán lại cho B kiếm lời số tiền 5.500.000 đồng, H5 đã tự nguyện nộp lại số tiền trên.
  8. Khoảng năm 2022-2023, Lê Ngọc B mua điện thoại cũ nhãn hiệu N 1280, N 105, N 106 của Phạm Văn T5 (Sinh năm 1991, HKTT: xã C, huyện M, tỉnh Hưng Yên), tổng số 08 lần tương đương số tiền là 145.480.000 đồng. Phạm Văn T5 khai nhận mua hàng trên mạng xã hội và bán lại cho B kiếm lời số tiền 14.050.000 đồng, T7 đã tự nguyện nộp lại số tiền trên.
  9. Lê Ngọc B mua vi mạch có gắn màn hình cũ nhãn hiệu N 100, N 105, N 106, N 107, N 110, N 130, N 150, N 210, N 215, N 216, N 230, N 1280 và các nhãn hiệu khác (không nhớ rõ) với tổng số 25 lần tương đương số tiền là 1.565.390.700 đồng từ năm 2020-2023 của Nguyễn Văn P (Sinh năm 1983, HKTT: xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai). Nguyễn Văn P khai nhận mua hàng trên mạng xã hội và bán lại cho B kiếm lời số tiền 11.500.000 đồng, P1 đã tự nguyện nộp lại số tiền trên.
  10. Lê Ngọc B mua điện thoại nhãn hiệu Mobi S666 của người sử dụng số điện thoại 0764.396.xxx (B không biết tên tuổi địa chỉ của người này). Cơ quan điều tra đã xác minh thông tin chủ đăng ký thuê bao 0764.396.789 là anh Đoàn Mạnh Đ (Sinh năm 1994, HKTT: Tổ C, phường B, quận K, TP .). Tiến hành ghi lời khai Đoàn Mạnh Đ trình bày anh được được một người tên T6 (không rõ tên tuổi, địa chỉ) nhờ đứng tên thuê bao số 0764.396.789 và trả công 300.000 đồng, hiện Đ không sử dụng và không biết ai đang sử dụng số điện thoại 0764.396.xxx.
  11. Lê Ngọc B mua điện thoại nhãn hiệu N8, V800 trên mạng xã hội của người có tên Tân M (không rõ tên tuổi, địa chỉ) và được yêu cầu chuyển tiền cho tài khoản của Chẻo U M1 (Sinh năm 1996, HKTT: xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu) với tổng số 06 lần chuyển khoản (không ghi nội dung giao dịch), tổng số tiền 156.660.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác minh tại địa phương, xác định Chẻo U M1 không có mặt tại địa phương, đi đâu làm gì địa phương không nắm được.

* Cộng tác viên bán hàng cho Lê Ngọc B: Vào khoảng năm 2020, Lê Ngọc B thuê cộng tác viên bán hàng là Trần Ngọc T2 (Sinh năm 1996, HKTT: xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang) để quảng cáo bán điện thoại trên mạng xã hội. T9 không biết nguồn gốc điện thoại gắn nhãn N của B là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, T9 đã giới thiệu cho B bán điện thoại và nhận thù lao tổng số tiền là 5.025.000đồng, T9 đã tự nguyện nộp lại số tiền trên.

* Khách hàng mua điện thoại của Lê Ngọc B:

- Từ khoảng tháng 5/2023 đến tháng 6/2023, chị Đinh Thị H (Sinh năm 1986, HKTT: Khu phố A, phường B, quận B, TP .; trú tại: TDP I, phường N, TP ., tỉnh Đắc Nông) là giám đốc công ty TNHH MTV T15 mới mua của Lê Ngọc B với số lượng khoảng 120 chiếc điện thoại nhãn hiệu Viettell A10, Viettell A, Viettell A5 (chị H6 không nhớ số lượng cụ thể) với tổng số tiền là 25.200.000 đồng sau đó bán cho khách cần để kiếm lời, số tiền thu lời là 4.640.000 đồng, chị H6 đã đã tự nguyện nộp lại số tiền 4.640.000 đồng. Ngoài ra chị H6 không mua, bán hàng hóa gì khác với B, chị H6 không biết B kinh doanh hàng hóa giả mạo nhãn hiệu N.

Tại cơ quan điều tra, Trịnh Thị N1, Lâm Ngọc H1, Lê Đức A, Lê Duy T3, Lê Thị V,Chung Thị T4,Hoàng Thanh H2,Phạm Văn T5, Nguyễn Văn P, Trần Ngọc T2,Đinh Thị H khai nhận toàn B hành vi như trên, chỉ giao dịch với Lê Ngọc B với mục đích để kiếm lời, không biết việc B sử dụng điện thoại, linh kiện nhằm mục đích kinh doanh hàng hóa giả mạo nhãn hiệu N. Về nguồn gốc hàng hóa bán cho Lê Ngọc B, các cá nhân này đều mua qua mạng xã hội, thanh toán qua bên giao hàng nên không có căn cứ xác định người bán hàng, không có hóa đơn chứng từ, không có căn cứ xác minh làm rõ. Quá trình điều tra, các cá nhân này đã tự nguyện giao nộp toàn B số tiền thu lời bất chính là 89.215.000 đồng. Trịnh Thị N1, Lâm Ngọc H1, Lê Đức A, Lê Duy T3, Lê Thị V, Chung Thị T4, Hoàng Thanh H2, Phạm Văn T5, Nguyễn Văn P, Trần Ngọc T2, Đinh Thị H chỉ giao dịch với Lê Ngọc B với mục đích để kiếm lời, không biết việc B sử dụng điện thoại, linh kiện nhằm mục đích kinh doanh hàng hóa giả mạo nhãn hiệu N nên hành vi không cấu thành tội phạm.

* Đối với hoạt động kinh doanh bán điện thoại của Lê Ngọc B

- Ngày 14/11/2023 và ngày 18/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T14 có văn bản số 10613, 11561 gửi Công ty TNHH S6 yêu cầu cung cấp thông tin. Ngày 15/12/2023, Công ty TNHH S6 có văn bản trả lời số: 290/2023/SPV/BC-CAHN xác định: Ngày 12/11/2015, Lê Ngọc B có mở gian hàng “Hà Bắc S2” (sau này đổi tên thành “Hoàng B S3”) để đăng bán điện thoại N. Tính đến tháng 8/2023 Lê Ngọc B đã bán tổng cộng: 126.558 chiếc điện thoại gắn nhãn N, tổng giá trị: 24.685.980.701 đồng.

- Ngày 04/11/2023 và ngày 18/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T14 đã có văn bản số 10614, 11564 gửi Công ty TNHH R (L4) cung cấp thông tin. Ngày 26/7/2024, Công ty TNHH R (L4) đã có văn bản số CA.26.07.2024 trả lời về việc Lê Ngọc B đã lập 02 gian hàng “Hà Bắc B Store” và “Camkids Mẹ & Bé” trên sàn thương mại điện tử Lazada, tổng số 583 chiếc điện thoại gắn nhãn N, tổng giá trị: 104.242.550 đồng.

Tổng số sản phẩm Lê Ngọc B kinh doanh trên 02 sàn thương mại điện tử bán ra là: 24.790.223.251 đồng.

  • Đối với hành vi của Lê Ngọc B kinh doanh 1.256 chiếc điện thoại của nhiều nhãn hiệu khác nhau không phải nhãn hiệu N là các nhãn hiệu không đăng ký được bảo hộ, hàng hóa không rõ nguồn gốc xuất xứ, việc mua bán không có hóa đơn, chứng từ đã vi phạm Điều 17 Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ tài liệu cùng 1.256 chiếc điện thoại trên đến Đội Quản lý thị trường số A2 Cục Q xử lý theo thẩm quyền.
  • Đối với các cá nhân Trịnh Thị N1,Lâm Ngọc H1, Lê Đức A, Lê Duy T3, Lê Thị V,Chung Thị T4, Hoàng Thanh H2, Phạm Văn T5, Nguyễn Văn P đã bán sản phẩm, phụ kiện, thiết bị cho Lê Ngọc B nhưng không biết mục đích phạm tội của Lê Ngọc B nên không đủ căn cứ xử lý hình sự. Cơ quan điều tra đã có văn bản kiến nghị Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi các cá nhân có hành vi vi phạm kinh doanh hàng hóa không có nguồn gốc xuất xứ.
  • Đối với Chẻo U M1 là người có liên quan đến hoạt động mua bán điện thoại nhãn hiệu N8, V800 hiện đang vắng mặt tại địa phương, các nhãn hiệu trên không được bảo hộ theo quy định tại Việt Nam nên không có căn cứ xác minh làm rõ, xử lý.
  • Đối với vợ Lê Ngọc B là chị Hoàng Thị T10(Sinh năm: 1993): T11 có sử dụng tài khoản ngân hàng T16 số 19050035337014, mang tên Hoàng Thị T12 đăng ký sử dụng gian hàng Hà Bắc S2 chung với chồng là Lê Ngọc B. Chị T11 bán các sản phẩm ngũ cốc, sữa hạt, không biết và không tham gia hoạt động kinh doanh điện thoại của B. Lê Ngọc B có sử dụng tài khoản của T11 để chuyển khoản cho Nguyễn Văn P, Lê Duy T3, Trịnh Thị N1 và Lê Đức A tuy nhiên B không nói cho T11 biết mục đích để làm gì nên hành vi của chị T11 không không cấu thành tội phạm.
  • Đối với Trần Ngọc T2 là người được B thuê làm cộng tác viên bán hàng, T9 chỉ giới thiệu người mua điện thoại cho B để nhận thù lao, Tân không tham gia vào việc giao dịch mua bán điện thoại nên hành vi của T9 không cấu thành tội phạm.
  • Đối với người mua điện thoại của B là chị Đinh Thị H: chị H6 không biết điện thoại mua của B là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu N nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
  • Đối với Nguyễn Xuân N2 và Nguyễn Văn T6: N2 và T6 được B thuê đến làm, thực hiện theo yêu cầu của B lắp ráp các thiết bị với nhau, kiểm tra hoạt động của máy điện thoại, đóng hàng, không tham gia hoạt động bán hàng, N2 và T6 không biết việc B làm giả điện thoại nhãn hiệu N, hàng tháng T6 được nhận lương 8.000.000 đồng, N2 được nhận lương đến 9.500.000 đồng, ngoài ra không được hưởng lợi gì khác nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với N2 và T6.
  • Đối với những người mua điện thoại giả nhãn hiệu N của Lê Ngọc B: cơ quan điều tra đã đăng thông tin tìm kiếm nhưng không có cá nhân, tổ chức nào liên hệ làm việc nên không đề cập xử lý.

Về dân sự: Công ty TNHH L3 không có yêu cầu, đề nghị gì về bồi thường dân sự. Quá trình điều tra, Lê Ngọc B đã tự nguyện nộp lại số tiền 100.000.000 đồng thu lợi bất chính.

Tại Bản Cáo trạng số 287/CT-VKS-HĐ ngày 01/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố Lê Ngọc B về tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” theo điểm b, đ khoản 2 Điều 226 B luật hình sự.

Tại phiên tòa:

  • Bị cáo B đã khai nhận và thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo B. Đề nghị tuyên bố bị cáo B phạm tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”. Đề nghị áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 226; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 B luật hình sự; xử phạt từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền do B không có thu nhập ổn định. Về trách nhiệm dân sự: không đề nghị giải quyết. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 3.167 chiếc điện thoại di động có gắn nhãn hiệu N (theo biên bản giao nhận vật chứng). Đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 189.215.000 đồng đã thu giữ (trong đó 100.000.000 đồng của B và 89.215.000 đồng của những có quyền lợi nghĩa vụ liên quan). Đề nghị bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thẩm quyền: Vụ án xảy ra tại địa bàn quận H, Thành phố Hà Nội nên thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân quận Hà Đông theo quy định tại Điều 269 B luật tố tụng dân sự.

[2]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án: Việc chấp hành pháp luật của Điều tra viên, Kiểm sát viên và người tiến hành tố tụng khác trong vụ án được thực hiện đúng quy định của B luật tố tụng hình sự nên các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng trong hồ sơ vụ án được xác định là hợp pháp; các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ được thu thập đúng theo quy định của B luật tố tụng hình sự nên là chứng cứ của vụ án.

[3]. Về sự vắng mặt đại diện ủy quyền của Bị hại - Công ty L1 &G và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Xét thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của những người này và đều có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 B luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người trên.

[4]. Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo Lê Ngọc B tại phiên tòa, thấy phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, phù hợp với ý kiến của đại diện bị hại, lời khai người liên quan, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Từ năm 2018 đến ngày 29/8/2023, Lê Ngọc B tuy không được đơn vị chính hãng ủy quyền hoặc được thuê lắp ráp sản phẩm điện thoại di động nhãn hiệu N nhưng B đã có hành vi mua linh kiện, vi mạch có gắn màn hình, vỏ, bàn phím, pin, sạc, vỏ hộp của 17 loại điện thoại di động nhãn hiệu N không chính hãng (các đời máy cũ có sử dụng bàn phím, hiện hãng không còn sản xuất, gồm: N 100, N 105, N 106, N 107, N 110, N 130, N 150, N 210, N 215, N 216, N 230, N 1202, N 1280, N 6300, N C2, N C6 Pro, N C6-00) về lắp rắp, buôn bán giả mạo nhãn hiệu điện thoại N rồi bán tổng số 127.141 chiếc cho khách qua sàn thương mại điện tử S, L thu lời bất chính số tiền 100.000.000 đồng. Đến ngày 29/8/2023, tổ công tác Thanh tra B Thông tin và Truyền thông tiến hành kiểm tra Hộ kinh doanh “H” tại địa chỉ số A ngõ A Q, tổ G phường Y, quận H, TP . do Lê Ngọc B làm chủ đã phát hiện, tạm giữ 4.873 chiếc điện thoại không rõ nguồn gốc xuất xứ, không có hóa đơn chứng từ trong đó có 3.617 chiếc điện thoại di động giả nhãn hiệu N; tổng giá trị hàng hóa giả mạo nhãn hiệu là 2.714.525.973 đồng.

Hành vi nêu trên của Lê Ngọc B đã phạm vào tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” với tình tiết định khung hình phạt theo điểm b, đ khoản 2 Điều 226 B luật hình sự.

Điều 226. Tội Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp:

“1. Người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam mà đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đòng thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

b) Phạm tội 02 lần trở lên;...

đ) Hàng hóa vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên;...”

Hành vi của Lê Ngọc B là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, sử dụng về nhãn hiệu của chủ sở hữu là các công ty có đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hiệu pháp tại Việt Nam được pháp luật bảo vệ, gây thiệt hại cho người tiêu dùng, làm rối loạn thị trường. Chính vì vậy phải đưa ra xét xử bị cáo kịp thời nhằm giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo B không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 B luật hình sự. Bị cáo B được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tích cực nộp lại toàn B số tiền thu lời bất chính để nộp ngân sách Nhà nước; thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; nhân thân tốt không có tiền án, tiền sự, được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 B luật hình sự.

Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 B luật hình sự cho bị cáo được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện.

[6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 226 B luật hình sự, phạt bổ sung bị cáo 20.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện ủy quyền của Bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đều không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về biện pháp tư pháp:

  • Đối với số vật chứng của vụ án là 3.617 chiếc điện thoại di động gắn nhãn hiệu N (theo Biên bản thu giữ và Biên bản giao nhận vật chứng): Đây là các vật đã xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp nên phải cấm lưu hành, Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 B luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 B luật tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy.
  • Đối với số tiền 100.000.000 (một trăm triệu đồng) mà Lê Ngọc B nộp lại do thu lời bất chính, thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 B luật hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 B luật tố tụng hình sự.
  • Đối với tổng số tiền 89.215.000 (tám mươi chín triệu hai trăm mười lăm ngàn đồng) là số tiền có nguồn gốc những có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được hưởng lợi từ việc bán các sản phẩm, linh kiện điện thoại cho B nên cũng tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 B luật hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 B luật tố tụng hình sự, cụ thể từng người như sau: Chị Trịnh Thị N1 5.000.000 đồng; Anh Lâm Ngọc H1 4.000.000 đồng; Anh Lê Đức A 7.500.000 đồng; anh Lê Duy T3 12.500.000 đồng; Chị Lê Thị V 1.500.000 đồng; Chị Chung Thị T4 18.000.000 đồng;Anh Hoàng Thanh H2 5.500.000 đồng;Anh Phạm Văn T5 14.050.000 đồng; Anh Nguyễn Văn P 11.500.000 đồng; Anh Trần Ngọc T2 5.025.000 đồng; Chị Đinh Thị H 4.640.000 đồng.

[9] Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc B phạm tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”.
  2. Áp dụng điểm b, đ khoản 2, khoản 3 Điều 226; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 B luật hình sự:
    1. Phạt Lê Ngọc B: 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo: Lê Ngọc B cho UBND xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp những người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

    1. Phạt Lê Ngọc B 20.000.000 (hai mươi triệu đồng chẵn) để nộp ngân sách Nhà nước.
  3. Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 B luật hình sự, điểm a, b khoản 2 Điều 106 B luật tố tụng hình sự:
    1. Tịch thu tiêu hủy 3.617 (ba nghìn, sáu trăm, mười bảy) chiếc điện thoại di động gắn nhãn hiệu N, cụ thể gồm:
      • 893 chiếc gắn N 100
      • 1.027chiếc gắn N 105
      • 27 chiếc gắn N 106
      • 90 chiếc gắn N 107
      • 26 chiếc gắn N 110
      • 33 chiếc gắn N 130
      • 386 chiếc gắn N 150
      • 29 chiếc gắn N 210
      • 88 chiếc gắn N 215
      • 32 chiếc gắn N 216
      • 27 chiếc gắn N 230
      • 137 chiếc gắn N 1202
      • 738 chiếc gắn N 1280
      • 35 chiếc gắn N 6300
      • 07 chiếc gắn N C2
      • 03 chiếc gắn N C6 Pro
      • 39 chiếc gắn N C6-00

      (Toàn B 3.617 được niêm phong trong 13 thùng cattong có chữ ký của bị cáo Lê Ngọc B và Điều tra viên Kiều Việt T13. Hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/11/2024).

    2. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000.000 (một trăm triệu đồng) của Lê Ngọc B do đã thu lời bất chính.
    3. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 89.215.000 (tám mươi chín triệu hai trăm mười lăm ngàn đồng) là số tiền những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nộp lại do có nguồn gốc được hưởng lợi từ việc bán các sản phẩm, linh kiện điện thoại cho B, cụ thể từng người như sau:

      Chị Trịnh Thị N1 5.000.000 đồng; Anh Lâm Ngọc H1 4.000.000 đồng; Anh Lê Đức A 7.500.000 đồng; anh Lê Duy T3 12.500.000 đồng; Chị Lê Thị V 1.500.000 đồng; Chị Chung Thị T4 18.000.000 đồng; Anh Hoàng Thanh H2 5.500.000 đồng; Anh Phạm Văn T5 14.050.000 đồng; Anh Nguyễn Văn P 11.500.000 đồng; Anh Trần Ngọc T2 5.025.000 đồng; Chị Đinh Thị H 4.640.000 đồng.

  4. Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 B luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc Lê Ngọc B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Áp dụng Điều 331, 333 B luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo liên quan đến phần của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CTPT SƠ THẨM
Nguyễn Thị Tuyết Mai
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 343/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội về hình sự sơ thẩm về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

  • Số bản án: 343/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Ngọc B - Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger