|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 343/2024/HNGĐT-ST Ngày: 12-7-2024 V/v: Tranh chấp yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thiên Kim
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Văn Công Minh
2/ Bà Lê Thị Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Đinh Thị Bích Ngọc, Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 132/2024/TLST-HNGĐ ngày 25/3/2024 về việc “Tranh chấp yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 963/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trịnh Mộng T năm 1987
Địa chỉ: Ấp D, xã K, huyện U, tỉnh Cà MauTạm trú: 772A tổ E, ấp A, xã H, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh Đ năm 1981
Địa chỉ: Ấp D, xã K, huyện U, tỉnh Cà MauTạm trú: 772A tổ E, ấp A, xã H, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ngày 18 tháng 3 năm 2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Trịnh Mộng T trình bày:
Bà và ông Nguyễn Thanh Đ sống với nhau từ năm 2007, không tổ chức đám cưới và không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình sống chung giữa bà và ông Đ ra nhiều mâu thuẩn, cải vã không thể hàn gắn được. Sau nhiều lần cho nhau cơ hội hàn gắn nhưng không có kết quả. Nay bà T định không còn tình cảm với ông Đ. Do đó, bà T yêu cầu tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng với ông Nguyễn Thanh Đ.
Về con chung: Bà T ông Đ có 01 con chung tên là Nguyễn Gia H ngày 08/4/2008. Bà T nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà T nhận không có.
1
Bị đơn ông Nguyễn Thanh Đ trình bày:
Ông Đ nhận ông và bà T sống như vợ chồng vào năm 2007 nhưng không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống, ông và bà T nhiều mâu thuẩn, thường xuyên cải vả. Ông xác định không còn tình cảm với bà T đồng ý yêu cầu của bà T đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng.
Về con chung: Ông Đ bà T 01 con chung tên là Nguyễn Gia H ngày 08/4/2008. Ông Đ ý giao con chung cho bà T tiếp nuôi dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Đ nhận bà T 1 sạp bán quần áo, nhưng đó là tài sản riêng của bà T ông Đ tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và nội dung trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng:
Qua kiểm sát giải quyết vụ án thì từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Tại phiên tòa hôm nay, đương sự có mặt đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình và tuân thủ nội quy phiên tòa. Đối với bị đơn vắng mặt không lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng về thời gian, địa điểm mở phiên tòa nên Tòa án xét xử vắng mặt là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ các Điều 14; Điều 53 và Điều 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; căn cứ vào Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa Bà Trịnh Mộng T ông Nguyễn Thanh Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Bà Trịnh Mộng T ông Nguyễn Thanh Đ chung sống như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn. Do đó, hôn nhân giữa bà T ông Đ được xác định là nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn. Nay, bà T yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng với ông Đ. Do đó, căn cứ vào khoản 8 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp giữa các bên được xác định là tranh chấp yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng. Ông Đ cư trú tại huyện N án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về yêu cầu của nguyên đơn:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Trịnh Mộng T ông Nguyễn Thanh Đ sống như vợ chồng với nhau từ năm 2007. Nhưng từ đó đến nay ông bà không đi đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền. Nay, bà Trịnh Mộng T yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với ông Nguyễn Thanh Đ ông Đ đồng ý với yêu cầu của bà T.
Hội đồng xét xử xét:
2
Căn cứ vào các giấy tờ, tài liệu do các đương sự cung cấp, căn cứ và các lời khai và sự thừa nhận của các đương sự, có đủ cơ sở để xác định: Bà Trịnh Mộng T ông Nguyễn Thanh Đ chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2007 và không có đăng ký kết hôn. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự thì việc bà T ông Đ sống chung với nhau và không đăng ký kết hôn là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh.
Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình thì bà T ông Đ có nghĩa vụ đi đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, từ ngày chung sống vào năm 2007 cho đến nay bà T ông Đ đi đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền. Do đó, pháp luật không công nhận bà T ông Đ vợ chồng.
Việc pháp luật không công nhận bà T ông Đ là vợ chồng nên hôn nhân giữa ông bà không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Nay, bà T yêu cầu chấm dứt mối quan hệ với với ông Đ nên yêu cầu Tòa án không công nhận vợ chồng với ông Đ. Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 và Điều 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì yêu cầu của bà T đề nghị Tòa án không công nhận vợ chồng với ông Nguyễn Thanh Đ là có căn cứ chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Bà T ông Đ nhận có 01 con chung tên là Nguyễn Gia H ngày 08/4/2008. Bà T đề nghị trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung, ông Đ ý.
Bà T yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà T ông Đ nhận không có tài sản chung và cũng không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 8 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; khoản 4 Điều 147; Điều 266; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 14; Điều 53 và Điều 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về quan hệ vợ chồng: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trịnh Mộng T ông Nguyễn Thanh Đ.
- Về con chung: Bà T ông Đ nhận có 01 con chung tên là Nguyễn Gia H ngày 08/4/2008. Giao con chung cho bà T tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà Trịnh Mộng T có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi khi ông Đ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Ông Đ có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở ông thực hiện quyền này.
Vì quyền lợi của con khi cần thiết, theo yêu cầu của cha mẹ, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi mức cấp dưỡng hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có
2/ Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng bà Trịnh Mộng T có nghĩa vụ phải nộp, được cấn trừ vào tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng mà ông S đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0017592 ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè. Bà T đã nộp đủ án phí.
3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
4/ Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thiên Kim |
4
Bản án số 343/2024/HNGĐT-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng
- Số bản án: 343/2024/HNGĐT-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
