|
TÒA ÁN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 343/2025/HSST
Ngày: 28-5-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Phước
Ông Bùi Quang Chính
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 263/2025/HSST ngày 22 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 340/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thành L, sinh năm 1996; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: 5 đường số I, khu phố A, đường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số D, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12, Nghề nghiệp: Tự do; Con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1967; Có vợ Hồ Ngọc Thảo V (chưa đăng ký kết hôn) và 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 12/12/2016, bị áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy tự nguyện tại cộng đồng theo Quyết định số 688/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân phường L; Ngày 16/06/2017, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng theo Quyết định số 190/2017/QĐ-TA của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; Ngày 06/01/2020, bị Công an phường L xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 0019780/QĐ-XPHC; Bị bắt tạm giam từ ngày 25 tháng 10 năm 2024. (Có mặt)
Bị hại: Chị Phạm Nguyễn Gia U; Địa chỉ: 1 đường L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phạm Minh N; Địa chỉ: B đường A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
- Anh Vũ Khắc T; Địa chỉ: H, Quốc lộ A, Khu phố B, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
- Chị Hồ Ngọc Thảo V; Địa chỉ: 5 đường I, Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
- Bà Trần Thị S; Địa chỉ: Tổ A đường L, Khu phố D, Ấp H, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bản thân là người nghiện ma túy, lại không có nghề nghiệp ổn định, cần tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng. Vào khoảng 14 giờ ngày 17/10/2024, Nguyễn Thành L điều khiển xe mô tô màu xanh biển số 72-615.CE đến tiệm Internet tại số F, Đường A, Khu phố G, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để chơi game, ngồi bàn máy game số 22. Chơi được một lúc, L phát hiện phía sau bàn máy game số 28 trên ghế có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Apple, loại Iphone 11 màu trắng của chị Phạm Nguyễn Gia U, lợi dụng lúc chị U ra ngoài, xung quanh không có người trông coi nên L lén lút lấy trộm chiếc điện thoại Iphone 11 màu trắng của chị U bỏ vào túi quần rồi nhanh chóng tẩu thoát điều khiển xe chạy về phòng trọ của L tại số D, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương cất giấu. Sau đó, L lướt mạng xã hội facebook thì thấy tài khoản tên "Pham Nhat” thu mua điện thoại giá cao, có để số điện thoại 0832.782.xxx của Phạm Minh N. L liên hệ số điện thoại trên qua Zalo chào bán chiếc điện thoại nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 màu trắng đã lấy trộm được với giá 800.000 đồng. N gọi Z cho Vũ Khắc T đến gặp L mua điện thoại. Nhận hàng xong, T chuyển khoản số tiền 800.000 đồng vào tài khoản M mang tên Hồ Ngọc Thảo V là vợ của L bằng tài khoản M1 của T. Khi mua điện thoại N và T không biết tài sản do L phạm tội mà có.
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 20/10/2024, chị Phạm Nguyễn Gia U đến Công an phường L trình báo về việc bị mất trộm tài sản trên. Qua truy xét, ngày 22/10/2024 Cơ quan điều tra bắt giữ được Nguyễn Thành L. Tại Cơ quan điều tra, L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Kết luận định giá tài sản số 57-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 24/10/2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thành phố T: 01 điện thoại di động Iphone 11 màu trắng 128GB đã qua sử dụng có giá trị 4.467.000 đồng.
Vật chứng, tài liệu đồ vật thu giữ:
01 điện thoại di động Iphone 11 màu trắng 128GB, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại Phạm Nguyễn Gia U.
01 điện thoại S1 9, màu xanh dương; 01 xe gắn máy nhãn hiệu Honda C50 biển số: 72-615CE màu xanh dương, 01 áo thun ngắn tay màu đen phía trước và phía sau có in chữ “SÀI GÒN”; 01 quần Jean ống dài màu đen, phía sau có in dòng chữ AMIRI của Nguyễn Thành L.
Số tiền 800.000 đồng do Hồ Ngọc Thảo V giao nộp là số tiền mua bán điện thoại chuyển khoản vào tài khoản của Hồ Ngọc Thảo V.
01 điện thoại di động Iphone 13 Promax màu xanh dương; 01 điện thoại Iphone XS màu trắng của Vũ Khắc T.
01 điện thoại Iphone 15 Promax màu bạc của Phạm Minh N.
01 USB bên trong chứa hình ảnh có nội dung liên quan đến vụ án trộm cắp tài sản đã lưu vào hồ sơ vụ án.
Trách nhiệm dân sự: Chị Phạm Nguyễn Gia U đã nhận lại tài sản không có yêu cầu bồi thường gì khác và làm đơn bãi nại.
Bản cáo trạng số 263/CT-VKSTPTĐ ngày 17/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố Nguyễn Thành L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Thành L về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Thành L mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù; Về xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng; Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên và không tự bào chữa; Bị cáo nói lời sau cùng biết lỗi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa có căn cứ để kết luận, vào ngày 17 tháng 10 năm 2024 tại tiệm Internet số 68A đường A, Khu phố G, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Thành L đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 màu trắng, dung lượng 128GB có trị giá 4.467.000 đồng chị Phạm Nguyễn Gia U. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích muốn thỏa mãn động cơ cá nhân, muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên vẫn cố tình phạm tội với lỗi cố ý. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp với sự thật khách quan của vụ án đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, giá trị tài sản là 4.467.000 đồng.
[3] Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với bị cáo Nguyễn Thành L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân và gây mất trật tự, an toàn xã hội, bị cáo có nhân thân xấu do đó cần thiết phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật, có một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã thu hồi trả cho bị hại, bị hại có đơn xin không xử lý hình sự nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[7] Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động Iphone 11 màu trắng 128GB, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
01 điện thoại S1 9, màu xanh dương của Nguyễn Thành L là công cụ phương tiện phạm tội cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước; 01 áo thun ngắn tay màu đen phía trước và phía sau có in chữ “SÀI GÒN”; 01 quần Jean ống dài màu đen, phía sau có in dòng chữ AMIRI của Nguyễn Thành L không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy. 01 xe gắn máy nhãn hiệu Honda C50 biển số: 72-615CE màu xanh dương số máy: C50E6821537, số khung: C508621496 của bà Trần Thị S cho Nguyễn Thành L mượn sử dụng đi làm, không biết việc L sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bà Trần Thị S.
Số tiền 800.000 đồng là tiền do phạm tội mà có cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
01 điện thoại di động Iphone 13 Promax màu xanh dương; 01 điện thoại Iphone XS màu trắng không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Thành L nên cần trả cho Vũ Khắc T.
01 điện thoại Iphone 15 Promax màu bạc không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Thành L nên cần trả cho Phạm Minh N.
01 USB bên trong chứa hình ảnh có nội dung liên quan đến vụ án trộm cắp tài sản tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.
[8] Về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu bồi thường gì khác nên không xem xét.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 173 của Bộ luật hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 173; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 01 (Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2024.
- Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 800.000 (Tám trăm nghìn) đồng. (Giấy nộp tiền mặt vào Kho bạc nhà nước T1 ngày 21/4/2025 tại Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Đ1 theo Quyết định chuyển vật chứng số 193/QĐ-VKSTPTĐ ngày 11/4/2025)
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại S1 9, màu xanh dương.
Tịch thu, tiêu hủy 01 áo thun ngắn tay màu đen phía trước và phía sau có in chữ “SÀI GÒN”; 01 quần Jean ống dài màu đen, phía sau có in dòng chữ AMIRI.
Trả lại cho Trần Thị S 01 xe gắn máy nhãn hiệu Honda C50 biển số 72-615CE màu xanh dương; số máy: C50E 6821537, số khung: C50 8621496.
Trả lại cho Vũ Khắc T 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax màu xanh dương; 01 điện thoại Iphone XS màu trắng.
Trả lại cho Phạm Minh N 01 điện thoại Iphone 15 Promax màu bạc.
Tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án 01 USB bên trong chứa hình ảnh có nội dung liên quan đến vụ án trộm cắp tài sản.
(Quyết định chuyển vật chứng số 193/QĐ-VKSTPTĐ ngày 11/4/2025; Phiếu nhập kho, Biên bản giao nhận tang, tài vật số 303C ngày 21/4/2025)
- Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Thành L phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án sơ thẩm có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thái Bình |
Bản án số 343/2025/HSST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 343/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành Long
