Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 343/2025/DS-PT

Ngày 25-6-2025

V/v tranh chấp tài sản chung và

thừa kế về tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Bích Diệp
- Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thắm
Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quốc Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Nữ - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 80/2025/TLPT-DS ngày 19 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp tài sản chung và thừa kế về tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 144/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 285/2025/QĐ-PT, ngày 14 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Trần Thị Phương N, sinh năm 1972; địa chỉ: số E đường P, tổ I, khu phố A, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  • Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Vũ Thị Kim Á, sinh năm 1989; địa chỉ: số F đường Đ, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 05/03/2021 và ngày 30/6/2021); có mặt.
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1962; địa chỉ: ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.
  • Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1958; địa chỉ: số A đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 14/11/2024); có mặt.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Lý Thị Thu N1, sinh năm 1965; địa chỉ: ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
    2. Ông Nguyễn Thế H1, sinh năm 1990; địa chỉ: ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
    3. Ông Nguyễn Quang V, sinh năm 1997; địa chỉ: ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; có mặt.
    4. Ông Nguyễn Thanh H2, sinh năm 1975 (đã chết).

      Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của ông H2:

      • Bà Trần Thị Bích T, sinh năm 1981; địa chỉ: ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
      • Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1996; địa chỉ: ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt
      • Ông Nguyễn Thành T1, sinh năm 2006; địa chỉ: ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt
    5. Ông Phạm Đức H3, sinh năm 1974; địa chỉ: khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt
    6. Ông Phạm Nhật P, sinh năm 1998; địa chỉ: số E P, tổ I, khu phố A, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
    7. Ông Trần Hoàng N2, sinh năm 1966; địa chỉ: ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
    8. Ông Trần Hoàng D1, sinh năm 1968; địa chỉ: ấp G, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt
    9. Bà Trần Thị Thu P1, sinh năm 1970; địa chỉ: tổ A, khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương; văng mặt.
    10. Ông Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1981 (đã chết)

      Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của ông Nguyễn Ngọc T2:

      • Bà Khúc Thị H4, sinh năm 1981; địa chỉ: ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt
      • Ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 2000; địa chỉ: ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; văng mặt
  • Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Trần Thị Phương N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 18/3/2021, khởi kiện bổ sung ngày 21/5/2021 và ngày 05/4/2024, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn là bà Vũ Thị Kim Á trình bày: Bà Nguyễn Thị T3 (chết năm 2008) và ông Nguyễn Văn L1 (chết năm 1990) khai phá đất tại xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương nhưng chưa được Ủy ban nhân dân huyện D2 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 1997, ông Nguyễn Văn H (con ruột của bà T3 và ông L1) tự ý đi kê khai toàn bộ đất đai do cha mẹ chết để lại tại xã T, huyện B (nay là huyện D), tỉnh Bình Dương và đã được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 770578, số vào sổ 00515/QSDĐ diện tích 17.433m² cho hộ ông Nguyễn Văn H vào ngày 24/11/1997. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì hộ ông Nguyễn Văn H gồm có 11 thành viên là bà Nguyễn Thị Ê, sinh năm 1938 là chủ hộ (mẹ nguyên đơn), bà Nguyễn Thị N3, sinh năm 1945 (em gái), ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1962 (em trai), bà Trần Thị Phương N, sinh năm 1972 (nguyên đơn, là con gái), ông Nguyễn Thanh H2, sinh năm 1975 (cháu), Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1981 (cháu, chết năm 2005), bà Lý Thị Thu N1, sinh năm 1965 (em dâu), ông Nguyễn Thế H1, sinh năm 1990 (cháu), ông Nguyễn Quang V, sinh năm 1997 (cháu), ông Phạm Đức H5, sinh năm 1974 (con rể), ông Phạm Nhật P, sinh năm 1998 (cháu). Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Nguyễn Quang V và Phạm Nhật P còn nhỏ không có công sức đóng góp chung của hộ gia đình nên không có phần, tài sản chung của 09 người. Nay bà N yêu cầu chia tài sản chung diện tích 17.433m² (diện tích đo đạc thực tế 17.497,7m²), phần bà N được chia có diện tích đất 1.942m².

Về phần tài sản của bà Nguyễn Thị Ê là phần đất được chia trong hộ có diện tích 1.942m². Do bà Ê chết không để lại di chúc nên bà N yêu cầu chia di sản thừa kế của bà Ê theo quy định pháp luật. Hàng thừa kế thứ nhất của bà Ê gồm có cha là ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1914 (chết năm 1990, không có giấy chứng tử), mẹ là Nguyễn Thị T3, sinh năm 1919 (chết năm 2008), chồng bà Ê là Trần Văn T4, sinh năm 1937 (chết năm 1972) và 04 người con ruột của bà Ê là Trần Hoàng N2, sinh năm 1966, Trần Hoàng D1, sinh năm 1968, Trần Thị Thu P1, sinh năm 1970 và nguyên đơn là Trần Thị Phương N, sinh năm 1972. Như vậy hàng thừa kế thứ nhất của bà Ê có 04 người con là ông D1, ông N2, bà P1 và nguyên đơn bà N nên phần di sản của bà Ê được chia thành 04 phần bằng nhau, mỗi người được nhận diện tích đất 485,5m².

Như vậy bà N yêu cầu được chia phần tài sản chung là diện tích đất 1.942m² và được hưởng phần di sản thừa kế có diện tích 485,5m², tổng cộng diện tích đất bà N yêu cầu được nhận là 2.427,5m² (215m² đất ở, còn lại cây lâu năm và đất lúa).

- Tại bản tự khai ngày 04/5/2021, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Văn H (đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) là ông Nguyễn Quang V trình bày: Ông H cùng gia đình sống chung với ông bà nội là ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị T3 (ông bà nội đã chết), sau khi ông L1 mất thì bà T3 có họp gia đình gồm các anh chị em của ông H gồm cô hai là bà Nguyễn Thị I (đã chết), cô ba là Nguyễn Thị Ê (đã chết, mẹ của bà N), cô năm là Nguyễn Thị L2, cô sáu tên là Nguyễn Thị N4 (đã chết) và bác là Nguyễn Văn D để giải quyết cho ông H phần đất ruộng (phần đất hiện đang tranh chấp), ông H được quyền đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông H phải có nhiệm vụ làm nơi thờ cúng ông bà, chăm sóc mồ mả, đất đai. Hiện nay trên phần đất này đều có mồ mả của ông L1, bà T3 và của bà con dòng họ. Sau đó bà T3 làm thủ tục cho ông H phần đất này và ông H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay tất cả mọi người trong gia đình không ai có ý kiến, chỉ có bà N yêu cầu chia đất.

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà N thì ông H không đồng ý, vì là tài sản riêng của ông H do cha mẹ để lại cho ông H, ông H đã cất nhà trên phần đất này, ông H đã quản lý, sử dụng ổn định gần 30 năm nay.

- Tại bản tự khai ngày 18/7/2023, quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lý Thị Thu N1 trình bày: Bà Lý Thị Thu N1 là vợ của ông Nguyễn Văn H. Bà Lý Thị Thu N1 thống nhất với lời trình bày của ông Nguyễn Văn H.

- Quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thế H1: Không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt không có lý do.

- Tại đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, quá trình tố tụng, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của ông Nguyễn Thanh H2 là bà Trần Thị Bích T, Nguyễn Thanh S, ông Nguyễn Thành T1 trình bày: không có ý kiến, đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

- Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 02/7/2021, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Đức H3 trình bày: Ông H3 và bà N là vợ chồng nhưng đã ly hôn và chuyển đi nơi khác sinh sống. Vào năm 1996 hộ gia đình bà Ê có ông H3 nhưng ông H3 chỉ có tên trong hộ khẩu mà không có công sức đóng góp gì. Vì vậy, ông H3 không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà N.

- Quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Nhật P: Không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt không có lý do.

- Quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Hoàng N2 trình bày: Không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt không có lý do.

- Quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Hoàng D1 trình bày: Không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt không có lý do.

- Quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thu P1 trình bày: Nguồn gốc đất là của bà Nguyễn Thị T3 để lại, bà P1 thống nhất hàng thừa kế của bà Ê gồm 04 người con là bà P1, ông D1, ông N2 và bà N. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà N thì bà P1 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

- Tại đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của ông Nguyễn Ngọc T2 là bà Khúc Thị H4 trình bày: Bà H4 không có yêu cầu giải quyết quyền lợi cho bà H4. Bà H4 đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

- Quá trình tố tụng, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của ông Nguyễn Ngọc T2 là ông Nguyễn Ngọc L trình bày: Không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt không có lý do.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 144/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Phương N đối với bị đơn ông Nguyễn Văn H về việc “Tranh chấp tài sản chung và thừa kế về tài sản” đối với phần đất 1.448,2m² thuộc thửa đất số 202, tờ bản đồ số 370; phần đất có diện tích 16.031,5m² thuộc các thửa đất số 489, 490, 491, 492, 493, 494, 495, 519, 520, 521, 522, 541, 542, 543, 544, 545 cùng tờ bản đồ số 40, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00515/QSDĐ do Ủy ban nhân huyện B (nay là huyện D) cấp ngày 24/11/1997 cho hộ ông Nguyễn Văn H, tại ấp D (nay là ấp C), xã T, huyện B (nay là huyện D), tỉnh Bình Dương.

Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn bà Trần Thị Phương N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Về thủ tục tố tụng, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xử là có căn cứ nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lý Thị Thu N1, ông Nguyễn Thế H1, bà Trần Thị Bích T, ông Nguyễn Thanh S, ông Nguyễn Thành T1, ông Phạm Đức H3, ông Phạm Nhật P, ông Trần Hoàng N2, ông Trần Hoàng D1, bà Trần Thị Thu P1, bà Khúc Thị H4, ông Nguyễn Ngọc L vắng mặt nhưng được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
  2. [2] Về nội dung vụ án: Các đương sự tranh chấp phần đất 1.546m² (thuộc thửa đất số 202, tờ bản đồ số 370), đo đạc thực tế có diện tích 1.448,2m²; phần đất 15.887m² (thuộc các thửa đất số 489, 490, 491, 492, 493, 494, 495, 519, 520, 521, 522, 541, 542, 543, 544, 545, tờ bản đồ số 40), đo đạc thực tế 16.031,5 m² tại ấp D (nay là ấp C), xã T, huyện B (nay là huyện D), tỉnh Bình Dương. Những phần đất này có nguồn gốc của ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị T3 là cha, mẹ của bà Nguyễn Thị Ê và bị đơn ông Nguyễn Văn H. Bà Nguyễn Thị Ê là mẹ ruột của nguyên đơn bà Trần Thị Phương N và là chị ruột của bị đơn Nguyễn Văn H, về nguồn gốc đất và quan hệ huyết thống như đã nói trên, các đương sự đều thừa nhận nên là tình tiết chứng cứ không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị T3 chết thì ông Nguyễn Văn H nộp giấy ủy quyền lập ngày 04/8/1990 để đăng ký kê khai đất và được Ủy ban nhân dân huyện B (nay huyện D) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00515/QSDĐ ngày 24/11/1997 cho hộ gia đình của ông Nguyễn Văn H, gồm có bà Nguyễn Thị Ê, sinh năm 1938 là chủ hộ (mẹ nguyên đơn bà N), Nguyễn Thị N3, sinh năm 1945 (em gái), Nguyễn Văn H, sinh năm 1962 (em trai), bà Trần Thị Phương N (nguyên đơn), sinh năm 1972 (con ruột), Nguyễn Thanh H2, sinh năm 1975 (cháu), Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1981 (cháu, chết năm 2005, chưa có vợ con), bà Lý Thị Thu N1, sinh năm 1965 (em dâu), Nguyễn Thế H1, sinh năm 1990 (cháu), Nguyễn Quang V, sinh năm 1997 (cháu), Phạm Đức H5, sinh năm 1974 (con rể), Phạm Nhật P, sinh năm 1998 (cháu). Do đó, nguyên đơn cho rằng phần đất nêu trên là của ông bà chết để lại, Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho cả hộ gia đình trong đó có phần của nguyên đơn nên nguyên đơn yêu cầu chia tổng diện tích đất 17.497,7m² cho 09 phần, trong đó nguyên đơn một phần với diện tích 1.942m². Đồng thời yêu cầu chia di sản của bà Nguyễn Thị Ê trong khối tài sản chung với diện tích 1.942m² cho 04 người con gồm có nguyên đơn bà Trần Thị Phương N, bà Trần Thị Thu P1, ông Trần Hoàng D1 và ông Trần Hoàng N2, trong đó nguyên đơn yêu cầu được nhận diện tích đất 485,5m². Bị đơn ông Nguyễn Văn H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Phương N, vì ông Nguyễn Văn H cho rằng: mặc dù nguồn gốc đất của ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị T3 nhưng bà Nguyễn Thị T3 đã làm giấy ủy quyền cho ông Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Văn H cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên đây là tài sản của riêng ông Nguyễn Văn H.
  3. Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án xét thấy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00515/QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện B (nay là huyện D) cấp ngày 24/11/1997 cho hộ của ông Nguyễn Văn H. Phần diện tích đất này có nguồn gốc của cha mẹ ông H chết để lại, chưa phân chia cho các con và khi chết, ông L1 và bà T3 cũng không lập di chúc cho ai. Thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1997, đất được cấp cho hộ gia đình do bà Nguyễn Thị Ê là chủ hộ; bà Trần Thị Phương N có thời gian sinh sống trên đất, đến năm 2014 bà N mới chuyển về Thủ Dầu Một sinh sống. Ông Nguyễn Văn H cho rằng bà Nguyễn Thị T3 đã ủy quyền cho ông Nguyễn Văn H theo tờ giấy lập ngày 04/8/1990 nên quyền sử dụng đất của riêng ông Nguyễn Văn H. Tuy nhiên, tờ giấy ủy quyền lập ngày 04/8/1990 không phải là bản chính nên không được xem là chứng cứ để giải quyết theo quy định tại Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự. Mặt khác, ngoài phần đất tranh chấp này thì ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị T3 không có tài sản nào khác, cũng chưa chia cho các con phần nào, việc giao hết toàn bộ phần đất tranh chấp cho ông Nguyễn Văn H là không đảm bảo quyền lợi của những người khác trong hộ gia đình. Hơn nữa, ông Nguyễn Văn H cho rằng sau khi bà Nguyễn Thị T3 chết, tất cả thành viên trong hộ gia đình có họp mặt lại để giao toàn bộ đất tranh chấp cho ông Nguyễn Văn H quản lý, ông H có nghĩa vụ thờ cúng ông bà nhưng bà Trần Thị Phương N không thừa nhận có sự việc này, ông Nguyễn Văn H cũng không có chứng cứ chứng minh nên lời khai của ông Nguyễn Văn H không có cơ sở chấp nhận. Từ những chứng cứ đã phân tích trên, có căn cứ xác định tài sản đang tranh chấp là tài sản chung của hộ gia đình nên nguyên đơn yêu cầu chia tài sản chung là có cơ sở. Đối với phần di sản của bà Ê cần phải chia cho 04 người con gồm bà Trần Thị Phương N, bà Trần Thị Thu P1, ông Trần Hoàng D1 và ông Trần Hoàng N2. Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xét xử, phần di sản của bà Ê không được chia cho bà Trần Thị Thu P1, bà Trần Thị Phương N, ông Trần Hoàng N2 và ông Trần Hoàng D1 nhưng ông D1, ông N2 và bà P1 không kháng cáo nên Tòa án cấp phúc thẩm không có căn cứ để xem xét chia cho những người này.
  4. Như vậy phần tài sản của bà Trần Thị Phương N được chia có diện tích 1.942m² và phần di sản của bà Ê chia cho bà Trần Thị Phương N được hưởng có diện tích 485,5m² nên giao cho bà Trần Thị Phương N sử dụng diện tích đất 2.427,5m² (thuộc các thửa đất số 487, 489, 490 và 491, tờ bản đồ số 40). Nhưng tổng diện tích các thửa đất này là 2.292,8m², thiếu diện tích 134,7m² so với diện tích đất bà Trần Thị Phương N được nhận, cho nên ông Nguyễn Văn H phải bồi hoàn cho bà Trần Thị Phương N giá trị diện tích đất 134,7m² x 250.000 đồng = 33.675.000 đồng. Mặc dù thửa đất số 492 liền ranh với thửa đất số 490 và 491 nhưng không thể giao cho bà Trần Thị Phương N sử dụng thửa đất số 492, vì thửa đất số 492 có diện tích 725,7m² nên nếu giao cho bà Trần Thị Phương N sử dụng thửa đất số 492 thì diện tích dư quá nhiều. Do đó, tính toán bồi hoàn giá trị đất là phù hợp. Toàn bộ diện tích đất tranh chấp trong đó có 300m² là đất ở nên giao cho ông Nguyễn Văn H quản lý là phù hợp, vì ông Nguyễn Văn H có thời gian dài quản lý sử dụng đất và bỏ ra chi phí để làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  5. Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Phương N và có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị Phương N, sửa bản án sơ thẩm.
  6. [3] Ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm là chưa phù hợp.
  7. [4] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc, định giá tài sản số tiền 16.500.000 đồng (Mười sáu triệu năm trăm ngàn đồng). Bà Trần Thị Phương N và ông Nguyễn Văn H mỗi người phải nộp số tiền 8.250.000 đồng nhưng do bà Trần Thị Phương N đã tạm ứng nên ông Nguyễn Văn H có trách nhiệm thanh toán lại cho bà Trần Thị Phương N.
  8. [5] Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Phương N phải nộp theo quy định pháp luật.
  9. [6] Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo bà Trần Thị Phương N không phải nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 148 và khoản 2 Điều 308 Điều Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị Phương N.
  2. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 144/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương;
    1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Phương N đối với bị đơn ông Nguyễn Văn H về việc tranh chấp tài sản chung và thừa kế về tài sản.

      Bà Trần Thị Phương N được quyền quản lý sử dụng diện tích đất 2.292,8m², thuộc các thửa đất số 487, 489, 490 và 491 tờ bản đồ số 40, tại ấp D (nay là ấp C), xã T, huyện B (nay là huyện D), tỉnh Bình Dương (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

      Ông Nguyễn Văn H có trách nhiệm thanh toán cho bà Trần Thị Phương N số tiền 33.675.000 đồng (Ba mươi ba triệu sáu trăm bảy mươi lăm ngàn đồng).

      Bà Trần Thị Phương N có nghĩa vụ đăng ký kê khai để được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất được chia.

      Kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện D2 hoặc cơ quan có thẩm quyền thu hồi các thửa đất số 487, 489, 490 và 491 tờ bản đồ số 40, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00515/QSDĐ do Ủy ban nhân huyện B (nay là huyện D) cấp ngày 24/11/1997 cho hộ ông Nguyễn Văn H.

      Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản: Bà Trần Thị Phương N và ông Nguyễn Văn H mỗi người phải nộp số tiền 8.250.000 đồng, nhưng do bà Trần Thị Phương N đã tạm ứng nên ông Nguyễn Văn H có trách nhiệm thanh toán lại cho bà Trần Thị Phương N.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Trần Thị Phương N phải nộp số tiền 28.275.000 đồng (Hai mươi tám triệu, hai trăm bảy mươi lăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu số AA/2021/0045886 ngày 13/4/2021; số tiền 4.251.000 đồng (Bốn triệu hai trăm năm mươi mốt ngàn đồng) theo Biên lai số AA/2016/0057889 ngày 04/6/2021 và số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu số 0004990 ngày 16/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện D, tỉnh Bình Dương. Nguyên đơn bà Trần Thị Phương N còn phải nộp số tiền 21.224.000 đồng (Hai mươi mốt triệu, hai trăm hai mươi bốn ngàn đồng).
  5. Án phí dân sự phúc thẩm: Chi cục Thi hành án dân sự huyện D, tỉnh Bình Dương hoàn trả cho Trần Thị Phương N số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0000615 ngày 15/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện D, tỉnh Bình Dương.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS huyện D;
  • - TAND huyện D;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HCTP, HSVA, Tòa Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Ngô Thị Bích Diệp

10

SƠ ĐỒ BẢN VẼ KÈM THEO BẢN ÁN DÂN SỰ PHÚC THẨM SỐ 343/2025/DS-PT

NGÀY 25/6/2025 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

[Sơ đồ bản vẽ kèm theo - Map Diagram Content (Graphical representation omitted)]

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS huyện D;
  • - TAND huyện D;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HCTP, HSVA, Tòa Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Ngô Thị Bích Diệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 343/2025/DS-PT ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp tài sản chung và thừa kế về tài sản

  • Số bản án: 343/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tài sản chung và thừa kế về tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger