TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 343/2025/DS-PT
Ngày 05-12-2025
“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hà Ngân
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Chương và ông Nguyễn Thế Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tú - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng cơ sở 2, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 168/2025/TLPT-DS ngày 28 tháng 7 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2024/DS-ST ngày 17 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng) bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 415/2025/QĐ-PT ngày 25-8-2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 312/2025/QĐ-PT ngày 16-9-2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 337/2025/QĐ-PT ngày 30-9-2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 539/2025/TB-TA/DS ngày 28-10-2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Bích L; địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông (nay là xã C, tỉnh Lâm Đồng) - Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quang D; địa chỉ: Bon U, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông (nay là xã C, tỉnh Lâm Đồng) - Có mặt.
- Bị đơn:
- Công ty TNHH H3; địa chỉ: Số B T, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông (nay là xã C, tỉnh Lâm Đồng).
- Bà Nguyễn Thị H; chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH H3; địa chỉ: Số B T, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông (nay là xã C, tỉnh Lâm Đồng).
Người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH H3 và bà Nguyễn Thị H: Ông Nguyễn Trọng T; chức vụ: Phó Giám đốc Công ty TNHH H3 ủy quyền ngày 09-3-2025 và ngày 29-10-2025 - Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hoàng Thị Diệu H1; địa chỉ: Số D H, tổ dân phố E, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông (nay là xã C, tỉnh Lâm Đồng) - Có đơn xét xử vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Thị Bích L.
- Kháng nghị: Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 298/KN-VKS-DS ngày 30-6-2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng).
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện ngày 15-12-2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Bích L trình bày: Năm 2005 bà L làm thủ kho tại Công ty TNHH H3. Đến năm 2014 được sự tín nhiệm nên bà L được bổ nhiệm chức vụ Phó giám đốc điều hành sản xuất. Năm 2016 Công ty G1 về tài chính nên bà Nguyễn Thị H - Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty T1, nhờ bà L vay tiền giúp cho bà H để xoay sở hoạt động của công ty, trả lãi ngân hàng, phục vụ một số mục đích của gia đình và cá nhân bà H. Việc bà L vay tiền giúp cho bà H và Công ty TNHH H3 chỉ được bà H thỏa thuận miệng, có bà Dương Thị G (kế toán thu chi nội bộ của Công ty năm 2016- 2017), bà Hoàng Thị Diệu H1 (nhân viên quản lý hành chính nhân sự của công ty kiêm thủ quỹ) và ông Nguyễn Đức B (Giám đốc thời điểm năm 2018) biết. Bà L vay tiền và chuyển lại cho các đầu mối khác nhau theo sự chỉ đạo của bà H, khi chuyển tiền bà Loan B1 với bà H1 (thủ quỹ) lập phiếu thu, báo bà G (kế toán nội bộ) nhập sổ quỹ tiền mặt nội bộ của công ty để theo dõi, sau đó bà L lập bảng chi tiết thống kê việc vay và trả tiền chuyển bà H kiểm tra, ký xác nhận. Những năm đầu bà H và Công ty thanh toán cho bà L để trả cho khách hàng rất sòng phẳng, nhưng đến cuối tháng 02-2018 thì bà H và công ty không thanh toán được cho bà L, sau đó bà H hứa hẹn và tránh mặt. Số tiền bà H và công ty V1 cụ thể như sau:
- Số tiền gốc vay nhập quỹ công ty năm 2016 và năm 2017 là 19.827.000.000 đồng, bà H và công ty đã trả được 14.512.000.000 đồng tiền gốc, còn lại 5.315.000.000 đồng tiền gốc (Theo phiếu thu do thủ quỹ bà H1 lập, đóng dấu treo của Công ty; Bảng kê chi tiết số tiền mượn nhập quỹ Công ty TNHH H3 năm 2016, năm 2017 có chữ ký của bà H, đóng dấu của công ty và B2 kê chi tiết tiền gốc và lãi vay tháng (Từ tháng 8-2017 đến tháng 01-2018 và từ ngày 25-12-2017 đến ngày 31-01-2018) có chữ ký của bà H.
- Năm 2018 và năm 2019 vay số tiền 785.000.000 đồng, đã trả được 150.000.000 đồng tiền gốc, còn lại 635.000.000 đồng (Theo phiếu thu do thủ quỹ bà H1 lập, đóng dấu treo của Công ty). Bà L có lập bảng kê chi tiết nhưng bà H chưa ký. Đến ngày 02-02-2021 bà H thông qua bà O tiếp tục chuyển khoản cho bà L số tiền 20.000.000 đồng tiền gốc, nên còn nợ lại là 615.000.000 đồng
Vì vậy, bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH H3 và bà Nguyễn Thị H phải trả cho bà L số tiền gốc: 5.315.000.000 đồng+ 615.000.000 đồng = 5.930.000.000 đồng (Năm tỷ chín trăm ba mươi triệu đồng) với lãi suất theo quy định pháp luật.
- Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo pháp luật của bị đơn Công ty TNHH H3: Ông Nguyễn Bá H2; chức vụ: Giám đốc và người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Trọng T; chức vụ: Phó Giám đốc trình bày: Ngày 09-01-2020 ông H2 được bổ nhiệm làm Giám đốc Công ty TNHH H3 theo Quyết định số 03/QĐ-HĐTV. Từ ngày 09-01-2020, Công ty TNHH H3 chưa nhận bất kỳ bàn giao hoặc hóa đơn, giấy tờ về việc vay tiền bên ngoài đưa vào công ty để hoạt động sản xuất kinh doanh và Ban lãnh đạo công ty cũng không nhận được thông báo, yêu cầu của bà Lê Thị Bích L về việc giải quyết khoản tiền mà bà L khởi kiện. Trong báo cáo thuế các năm 2016, 2017, 2018, 2019 của Công ty cũng không thể hiện liên quan đến số tiền bà L khởi kiện. Do đó, Công ty TNHH H3 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L.
- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị H trình bày: Ngày 03-9-2015 bà H có bổ nhiệm và giao quyền cho bà Lê Thị Bích L làm phó Giám đốc Công ty TNHH H3. Do bà H không thường xuyên có mặt tại Công ty nên bà H đã bàn giao con dấu, chữ kí điện tử, séc ngân hàng và một số tờ giấy A4 có chữ ký sẵn của bà H cho bà Lê Thị Bích L để điều hành, vận hành sản xuất. Việc bà L vay tiền đưa vào Công ty để vận hành sản xuất kinh doanh bà H không biết rõ. Đối với số tiền bà L khởi kiện yêu cầu bà H trả 5.930.000.000đ (Năm tỷ chín trăm ba mươi triệu đồng) thì bà H không chấp nhận, do bà H không biết cụ thể số tiền đó như thế nào và bà H không vay của bà L.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị Diệu H1 trình bày: Từ năm 2006 đến khoảng tháng 10-2019, bà H1 làm nhân viên hành chính nhân sự kiêm thủ quỹ tại Công ty TNHH H3. Quá trình làm việc, bà Nguyễn Thị H (chức vụ chủ tịch Hội đồng thành viên) và bà bà Lê Thị Bích L (chức vụ Phó Giám đốc sản xuất) có chỉ đạo bà H1 lập các phiếu thu, chi (loại một liên) viết bằng tay với nội dung tiền vay, mượn từ bà Lê Thị Bích L để nhập quỹ tiền mặt với mục đích để theo dõi, báo cáo, còn cụ thể tiền mặt chuyển cho ai thì bà H1 không biết và không nhận tiền mặt từ bà L để nhập quỹ công ty. Nội dung các khoản vay, mượn giữa bà H và bà L thì bà H1 không nắm rõ nhưng có biết việc bà L mượn tiền cho bà H và Công ty TNHH H3 là đúng sự thật.
- Người làm chứng trình bày:
- Bà Dương Thị G: Từ năm 2009 đến năm 2018, bà G làm kế toán tại Công ty TNHH H3. Quá trình làm việc bà biết việc bà L vay tiền cho bà H để chi phí cho Công ty hoạt động là có thật nhưng cụ thể việc vay mượn như thế nào thì bà không biết. Bà G có vào sổ quỹ tiền mặt của Công ty trên máy tính, nhưng thời gian đã lâu nên bà G không nhớ việc lập các phiếu thu chi cụ thể như thế nào. Mọi sự điều hành công ty, quản lý tài chính do bà H quyết định.
- Ông Nguyễn Đức B: Ông được bổ nhiệm làm Giám đốc Công ty TNHH H3 ngày 05-11-2018 đến ngày 25-9-2019. Mọi vấn đề về tài chính và hoạt động của Công ty do bà Nguyễn Thị H quyết định. Thời điểm ông B làm Giám đốc có biết việc bà H vay tiền của bà L, giữa bà H, bà L và ông B có họp để thống nhất khoản vay của bà H vay của bà L nhưng chỉ nói miệng, không lập biên bản nên ông không nhớ rõ số tiền vay cụ thể. Khi vay tiền chỉ cá nhân bà H quyết định, các thành viên góp vốn không biết, không được tham gia.
- Bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2024/DS-ST ngày 17 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng) đã căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 471; Điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 55; Điều 56; Điều 57; Điều 64 của Luật doanh nghiệp năm 2014; Thông tư số: 200/2014/TT-BTC ngày 22-12-2014 của Bộ T2, tuyên xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Bích L về việc yêu cầu Công ty TNHH H3 và bà Nguyễn Thị H – Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH H3 phải trả cho bà L số tiền gốc 5.930.000.000 đồng và tiền lãi 4.250.260.617 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
- Ngày 30-6-2025, nguyên đơn bà Lê Thị Bích L kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L, buộc Công ty TNHH H3 và bà Nguyễn Thị H phải trả cho bà L số tiền gốc 5.930.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định pháp luật.
- Ngày 30-6-2025 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng) ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 298/KN-VKS-DS kháng nghị một phần bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc bị đơn bà Nguyễn Thị H phải trả cho bà L số tiền gốc 5.315.000.000 đồng (vay năm 2016 – 2017) và tiền lãi theo quy định pháp luật.
- Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn bà L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm buộc bị đơn Công ty TNHH H3 và bà Nguyễn Thị H phải trả cho bà L số tiền gốc 5.930.000.000 đồng; đối với tiền lãi thì bà L tự nguyện hỗ trợ một phần về lãi suất cho công ty và bà H, chỉ yêu cầu mức lãi suất 5%/năm, tính từ ngày không tiếp tục trả lãi đến ngày xét xử sơ thẩm, cụ thể:
- + Tiền lãi đối với số tiền gốc 5.315.000.000 đồng tính từ ngày 01-02-2018 đến ngày 11-6-2025 là 1.954.900.700 đồng.
- + Tiền lãi đối với số tiền gốc 635.000.000 đồng tính từ ngày 25-9-2019 đến ngày 02-02-2021 là 42.384.000 đồng. Ngày 02-02-2021 bà H chuyển cho bà L 20.000.000đ tiền gốc nên còn lại tiền gốc 615.000.000 đồng được tính lãi từ ngày 03-02-2021 đến ngày 11-6-2025 là 133.306.000 đồng. Tổng là 175.690.000 đồng.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của bà L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu ý kiến:
- + Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên toà phúc thẩm, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- + Về nội dung: Sau khi phân tích các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 298/KN-VKS-DS của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng) và một phần yêu cầu kháng cáo của bà L, sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc bà Nguyễn Thị H phải trả cho bà L số tiền gốc 5.315.000.000 đồng (vay năm 2016 – 2017) với mức lãi suất 5%/năm tính từ ngày 01-02-2018 đến ngày 11-6-2025.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà L trong hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét.
[2]. Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị Bích L, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
[2.1]. Về người có nghĩa vụ trả nợ cho bà L: Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, bà L khẳng định bà Nguyễn Thị H - Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty là người nhờ bà L vay tiền cho bà H để xoay sở hoạt động của công ty, trả lãi ngân hàng, phục vụ một số mục đích của gia đình và cá nhân bà H; việc bà L vay tiền giúp cho bà H chỉ được cá nhân bà H thỏa thuận miệng, không được sự thống nhất của Hội đồng thành viên công ty. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 56; điểm đ khoản 2 Điều 57 của Luật Doanh nghiệp năm 2014; điểm d khoản 2 Điều 12; Điều 13 Điều lệ Công ty TNHH H3 quy định về quyền của Hội đồng thành viên và quyền của Chủ tịch Hội đồng thành viên, cụ thể: “Hội đồng thành viên có quyền: d) Thông qua hợp đồng vay, cho vay....” và Chủ tịch Hội đồng thành viên không có quyền thông qua hợp đồng vay. Do đó, việc bà L vay tiền của người khác theo yêu cầu của bà H, không được sự đồng ý của Hội đồng thành viên thì nghĩa vụ, trách nhiệm trả tiền vay thuộc về cá nhân bà H đối với bà L. Việc bà L yêu cầu Công ty TNHH H3 phải trả tiền vay cho bà L là không được chấp nhận.
[2.2]. Xét yêu cầu của bà L về việc buộc bà Nguyễn Thị H phải trả nợ, Hội đồng xét xử xét thấy: Được sự thuyết phục và yêu cầu của bà H, bà L đã nhiều lần vay tiền giúp cho bà H để bà H xoay sở hoạt động của công ty, trả lãi ngân hàng, phục vụ một số mục đích gia đình và cá nhân bà H; mỗi lần vay tiền, bà L đều báo cho thủ quỹ là bà Hoàng Thị Diệu H1 để lập phiếu thu và báo cho kế toán bà Dương Thị G nhập sổ quỹ tiền mặt để theo dõi, báo cáo bà H. Sau đó, bà L lập B2 kê chi tiết số tiền mượn nhập quỹ Công ty TNHH H3 ghi nhận chi tiết việc vay tiền và trả tiền để trình bà H kiểm tra, ký xác nhận cho bà L.
[2.3]. Đối với khoản tiền vay năm 2016 và năm 2017 với tiền gốc 5.315.000.000 đồng: Để chứng minh bà L cung cấp 05 tài liệu, chứng cứ, cụ thể: Các Phiếu thu do bà H1 lập, có đóng dấu treo Công ty TNHH H3 (BL số 139 – 235); Sổ quỹ tiền mặt năm 2016 và năm 2017 do bà G lập, đóng dấu treo của Công ty TNHH H3 (BL số 538); Bảng kê chi tiết số tiền vay nhập quỹ Công ty TNHH H3 năm 2016 và năm 2017 có chữ ký của bà Nguyễn Thị H và đóng dấu của công ty (BL số 177-179); Bảng kê chi tiết tiền gốc và lãi vay tháng (Từ tháng 8-2017 đến tháng 01-2018 và từ ngày 25-12-2017 đến ngày 31-01-2018) có chữ ký của bà H (BL số 180) và 02 Phiếu chi số 65 và 66 ngày 12-02-2018 thể hiện việc trả lãi cho bà L số tiền 167.000.000 đồng và 104.000.000 đồng (Bản phô tô, BL số 181-182). Xét thấy:
[2.3.1]. Đối chiếu tại từng tài liệu, chứng cứ nêu trên đều ghi nhận cụ thể thời điểm (Ngày tháng năm), số tiền nhập quỹ, nội dung vay tiền cụ thể của bà L là hoàn toàn trùng khớp với nhau. Tuy các phiếu thu do thủ quỹ bà H1 lập, cũng như sổ quỹ tiền mặt do kế toán bà G lập không đúng mẫu theo Thông tư số: 200/2014/TT-BTC ngày 22-12-2014 của Bộ T2 hướng dẫn về kế toán doanh nghiệp, nhưng nội dung ghi nhận hoàn toàn phù hợp và trùng khớp với B2 kê chi tiết số tiền vay nhập quỹ Công ty TNHH H3 (năm 2016 và năm 2017) và B2 kê chi tiết tiền gốc và lãi vay tháng (Từ tháng 8-2017 đến tháng 01-2018 và từ ngày 25-12-2017 đến ngày 31-01-2018) được bà H ký xác nhận, ghi nhận cụ thể: Tổng số tiền gốc vay của bà L là 19.827.000.000 đồng, đã trả được 14.512.000.000 đồng, còn nợ lại 5.315.000.000 đồng tiền gốc. Do đó, có căn cứ xác định bà H đã nhờ bà L vay tiền vào năm 2016 và 2017 và số tiền gốc còn lại chưa trả cho bà L là 5.315.000.000 đồng.
[2.3.2]. Mặt khác, lời khai của bà L là phù hợp với lời khai của người làm chứng bà Hoàng Thị Diệu H1, bà Dương Thị G, ông Nguyễn Đức B đều xác nhận việc bà L vay tiền giúp cho bà H là đúng sự thật và phù hợp với lời khai của người đã cho bà L vay tiền là bà Nguyễn Thị Kim O, bà Trần Thị V xác nhận mục đích khi bà L hỏi vay tiền là để cho bà Nguyễn Thị H vay lại (BL số 317 -318). Hơn nữa, quá trình làm việc tại Cơ quan Cảnh sát điều tra (giải quyết đơn tố cáo của bà L đối với bà H), được kết luận tại Thông báo số: 101/TB-VPCQCSĐT ngày 28-10-2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, ghi nhận: Việc bà L vay tiền để trang trải hoạt động của Công ty TNHH H3, có xác nhận của bà H là đúng thực tế, bà H đã xác nhận, không chối bỏ công nợ. Quá trình giải quyết vụ án dân sự, tuy bà H không thừa nhận số tiền 5.315.000.000 đồng nhờ bà L vay năm 2016 và năm 2017 và cho rằng đã bàn giao con dấu, chữ kí điện tử, séc ngân hàng và một số tờ giấy A4 có chữ ký sẵn của bà H cho bà L để điều hành, vận hành sản xuất nhưng bà H không đưa ra được chứng cứ chứng minh, mâu thuẫn với các chứng cứ hợp pháp bà L đã xuất trình, cũng như lời khai của những người làm chứng.
[2.3.3]. Vì vậy, quan hệ vay nợ giữa bà H với bà L là hợp đồng vay tiền không thời hạn, có thỏa thuận lãi suất quy định tại Điều 469 của Bộ luật Dân sự. Bà L yêu cầu bà H phải trả số tiền gốc 5.315.000.000 đồng và lãi suất theo quy định pháp luật là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà L tự nguyện hỗ trợ một phần về lãi suất cho bà H, chỉ yêu cầu mức lãi suất 5%/năm tính từ ngày 01-02-2018 đến ngày 11-6-2025 (ngày bà H không tiếp tục trả lãi đến ngày xét xử sơ thẩm) với số tiền lãi là: 5.315.000.000 đồng x 07 năm 04 tháng 10 ngày x 5%/năm = 1.954.900.700 đồng. Xét thấy, yêu cầu của bà L về mức lãi suất là tự nguyện, không trái pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà L đối với khoản tiền gốc 5.315.000.000 đồng và tiền lãi 1.954.900.700 đồng (Tổng là: 7.269.900.700 đồng).
[2.3.4]. Đối với khoản vay năm 2018 và năm 2019 với tiền gốc 615.000.000 đồng và tiền lãi 175.690.000 đồng: Để chứng minh, bà L cung cấp 03 tài liệu chứng cứ sau: Các Phiếu thu do bà H1 lập, có đóng dấu treo Công ty TNHH H3 (BL số 236- 252); Bảng kê chi tiết số tiền vay nhập quỹ Công ty TNHH H3 năm 2018 và năm 2019 không có chữ ký của bà H (BL số 179); Bản ảnh chụp màn hình điện thoại thể hiện tin nhắn giữa bà Nguyễn Thị H với bà L vào ngày 20-01-2021 và ngày 03-02-2021 về việc bà H đã trả 20.000.000 đồng (BL số 17-19). Qua xem xét: Đối với các phiếu thu năm 2018 và năm 2019 do bà H1 lập trên cơ sở thông báo của bà L, không có chữ ký của bà H; Bảng kê chi tiết số tiền nhập quỹ Công ty TNHH H3 năm 2018 và năm 2019 cũng không được bà H ký xác nhận; đối với tin nhắn giữa bà H với bà L vào ngày 20-01-2021 và ngày 03-02-2021 về việc bà H đã trả 20.000.000 đồng chỉ là bản phô tô chụp màn hình điện thoại, nội dung không thể hiện trả lãi khoản vay cụ thể nào. Vì vậy, các chứng cứ do bà L cung cấp là không hợp pháp, không chứng minh được bà H vay của bà L số tiền 615.000.000 đồng. Mặt khác, bà H không thừa nhận, do đó việc bà L yêu cầu H phải trả số tiền gốc 615.000.000 đồng và lãi suất là không có căn cứ để chấp nhận.
[3]. Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L là không phù hợp. Do đó, cần chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 298/KN-VKS-DS ngày 30-6-2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng) và chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà L, sửa bản án sơ thẩm cụ thể: Buộc bà Nguyễn Thị H phải trả cho bà Lê Thị Bích L khoản tiền vay năm 2016 và năm 2017 với tiền gốc 5.315.000.000 đồng và tiền lãi 1.954.900.700 đồng (Tổng là: 7.269.900.700 đồng) và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L về việc yêu cầu Công ty TNHH H3 và bà Nguyễn Thị H phải trả khoản tiền vay năm 2018 và năm 2019 với số tiền gốc 615.000.000 đồng và tiền lãi 175.690.000 đồng (Tổng là 790.690.000 đồng).
[4]. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Nguyên đơn bà L phải chịu án phí sơ thẩm đối với số tiền 790.690.000 đồng không được chấp nhận là: 20.000.000 đồng + 4% (790.690.000 đồng – 400.000.000 đồng) = 35.627.600 đồng và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn bà H phải chịu án phí đối với số tiền 7.269.900.700 đồng phải trả cho bà L là: 112.000.000 đồng + 0,1% x (7.269.900.700 đồng – 4.000.000.000 đồng) = 115.269.900 đồng.
[5]. Về án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận một phần nên bà L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, hoàn trả cho bà L tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471; Điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 463, Điều 466, Điều 468; Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 56; Điều 57 của Luật doanh nghiệp năm 2014:
- Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 298/KN-VKS-DS ngày 30-6-2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng và chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Bích L, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2024/DS-ST ngày 17 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng), tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Bích L: Buộc bà Nguyễn Thị H phải trả cho bà Lê Thị Bích L số tiền gốc 5.315.000.000₫ và tiền lãi 1.954.900.700đ. Tổng là 7.269.900.700đ (Bảy tỷ hai trăm sáu mươi chín triệu chín trăm nghìn bảy trăm đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Bích L về việc yêu cầu Công ty TNHH H3 và bà Nguyễn Thị H trả số tiền vay năm 2018 và năm 2019 với số tiền gốc 615.000.000 đồng và lãi suất.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
- Bà Lê Thị Bích L phải chịu 35.627.600đ (Ba mươi lăm triệu sáu trăm hai mươi bảy nghìn sáu trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 56.975.000đ (Năm mươi sáu triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0000135 ngày 09-02-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 9 - Lâm Đồng). Hoàn trả cho bà Lê Thị Bích L số tiền 21.347.400₫ (Hai mươi mốt triệu ba trăm bốn mươi bảy nghìn bốn trăm đồng).
- Bà Nguyễn Thị H phải chịu 115.269.900 đồng (Một trăm mười lăm triệu hai trăm sáu mươi chín nghìn chín trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Bà Lê Thị Bích L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho bà Lê Thị Bích L số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0000295 ngày 11-7-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- - TANDTC (Vụ III);
- - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- - TAND khu vực 9- Lâm Đồng;
- - Phòng THADS khu vực 9 – Lâm Đồng;
- - Các đương sự;
- - Lưu: hồ sơ, Tổ HCTP, Tòa DS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Dương Hà Ngân |
Bản án số 343/2025/DS-PT ngày 05/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 343/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng và 1 phần kháng cáo của nguyên đơn. Sửa bản án sơ thẩm
