|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 343/2024/DS-PT Ngày 24-5-2024 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | bà Huỳnh Thanh Duyên |
| Các Thẩm phán: | ông Nguyễn Văn Tửu |
| ông Lê Thành Long |
- Thư ký phiên tòa: ông Trần Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Mậu Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 847/2023/TLPT-DS ngày 19 tháng 12 năm 2023.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2021/TLPT-DS ngày 23 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 639/2024/QĐ-PT ngày 07 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 104/2024/QĐ-HPT ngày 27 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
- Ông Ninh Văn T sinh năm 1954 (đã mất);
- Bà Vũ Thị T1, sinh năm 1958 (vắng mặt);
- Ông Ninh Đức T2, sinh năm 1983 (có mặt);
- Ông Ninh Đức T3, sinh năm 1985 (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Bà Ninh Thị Thùy T4, sinh năm 1986 (có mặt);
- Ông Ninh Đức T5, sinh năm 1988 (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Bà Vũ Thị T1, sinh năm: 1958
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng:
Địa chỉ: F, tổ B, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai;
Địa chỉ: Ấp A, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai;
Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Cùng địa chỉ: phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ: F, tổ B, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn:
Bà Ngô Thị H, sinh năm 1955 (có mặt);
Địa chỉ: E, tổ B, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ - Luật sư Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt);
Địa chỉ: Phòng L, Tòa nhà A, A khu dân cư M, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đoàn Thanh T6, sinh năm 1975 (vắng mặt);
- Bà Đoàn Thị Minh C, sinh năm 1977 (vắng mặt);
- Ông Đoàn Anh K, sinh năm 1979 (vắng mặt);
- Ông Đoàn Duy L, sinh năm 1986 (vắng mặt);
- Bà Đoàn Thị Hải Y, sinh năm 1981 (vắng mặt);
- Bà Đoàn Thị Hải H1, sinh năm 1987 (vắng mặt);
- Bà Đoàn Thị Hồng L1, sinh năm 1982 (vắng mặt);
- Bà Đoàn Thị Hồng N, sinh năm: 1984 (vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ 4, khu phố Hiệp Tâm 2, thị trấn Định Quán, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai
Địa chỉ: H. BlackHawk-Dr S, CA 95828-4010, C1, USA (Mỹ).
Cùng địa chỉ: E, tổ, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: C, Tổ F, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: C, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Tổ A, Khu phố A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Ninh Văn T bà Vũ Thị T1 trình bày:
Năm 1980, ông mua diện tích đất 390m² thuộc thửa 27, tờ bản đồ 40, thị trấn Đ, được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 06 tháng 5 năm 2002. Phía tây thửa đất giáp thửa 26 của gia đình ông Đoàn T7, bà Ngô Thị H.
Sau khi ông T7 chết, tháng 6 năm 2014, bà Ngô Thị H cùng con là Đoàn Anh K làm lại nhà. Phần tường giáp nhà ông dựng bằng cột cây, xây không tô, cao 3,5m trên đóng cây và tôn nghiêng sang phần không gian của gia đình ông.
Nay ông khởi kiện yêu cầu bà Ngô Thị H và các con trả lại phần diện tích lấn chiếm là 4,09m², giới hạn bởi các mốc (A, B, 7, A) theo Bản trích lục và đo chỉnh lý thửa đất bản đồ địa chính số: 772/2016 ngày 24 tháng 02 năm 2016 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ. Đồng thời, yêu cầu bà H và các con bồi thường phần thiệt hại do việc lấn chiếm đất thành tiền là 115.815.000 đồng gồm chi phí xây dựng 68.000.000 đồng và lãi suất ngân hàng 47.775.000 đồng.
Theo đơn phản tố và tại phiên tòa, bị đơn bà Ngô Thị H trình bày:
Thửa đất số 26, tờ bản đồ số 40, địa chỉ ấp H, thị trấn Đ, huyện Đ có diện tích 381,1m² là tài sản của vợ chồng bà Ngô Thị H, ông Đoàn T7, đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2005. Việc tranh chấp quyền sử dụng đất chỉ phát sinh sau khi ông T xây nhà sát vào tường nhà bà. Khi xây chiều cao 4m thì ông T cho xây tường đè lên mái nhà bà. Bà xác định sử dụng đúng diện tích đất, không lấn chiếm thửa 27, tờ bản đồ số 40 của gia đình ông T, bà T1, do đó không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đồng thời, vào tháng 12 năm 2015, ông T và bà T1 cho người đến cắt mái tôn, hàn vỉ kèo, lợp mái tôn đè sang phần mái nhà của bà, vì vậy bà phản tố yêu cầu ông T, bà T1 phải bồi thường thiệt hại do hành vi cắt tôn làm hư hỏng mái nhà thành tiền là 2.000.000 đồng, đồng thời phải tháo dỡ phần lẫn chiếm không gian nhà và đất của bà.
Theo bản tự khai, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thanh T6, bà Đoàn Thị Minh C, ông Đoàn Anh K, ông Đoàn Duy L, bà Đoàn Thị Hải Y, bà Đoàn Thị Hải H1, bà Đoàn Thị Hồng L1, bà Đoàn Thị Hồng N trình bày:
Thửa đất số 26, tờ bản đồ số 40, địa chỉ ấp H, thị trấn Đ, huyện Đ có diện tích 381,1m² là tài sản của Ngô Thị H, ông Đoàn T7 (là cha mẹ của các ông bà) đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2005.
Các ông bà nhất trí với trình bày của bà Ngô Thị H, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà H, buộc ông T và bà T1 tháo dỡ trả lại phần không gian nhà đất lấn chiếm.
Tại Bản án số 09/2021/DS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã quyết định:
Căn cứ Điều 26, khoản 1 Điều 37, Điều 220, 227, 228, 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Áp dụng các Điều 175, 176, 468, 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 202, 203 Luật Đất đai năm 2013; Pháp lệnh về án phí và lệ phí Tòa án năm 2009.
Tuyên xử:
- Chấp nhận 1 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ninh Văn T, bà Vũ Thị T1 đối với bà Ngô Thị H về việc tranh chấp ranh giới, không gian quyền sử dụng đất.
- Chấp nhận phần yêu cầu phản tố của bà Ngô Thị H về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản, buộc ông Ninh Văn T, bà Vũ Thị T1 có trách nhiệm bồi thường số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) cho bà Ngô Thị H.
Buộc bà Ngô Thị H cùng những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm bà Đoàn Thanh T6, bà Đoàn Thị Minh C, ông Đoàn Anh K, ông Đoàn Duy L, bà Đoàn Thị Hải Y, bà Đoàn Thị Hải H1, bà Đoàn Thị Hồng L1, bà Đoàn Thị Hồng N tháo dỡ tường, tường quây bằng tôn của nhà số E, tổ B, khu phố H thuộc thửa đất số 27, tờ bản đồ số 40, thị trấn Đ, huyện Đ giáp với nhà số F, tổ B, khu phố H trả lại cho ông Ninh Văn T, bà Vũ Thị T1 phần không gian chiếu theo phương thẳng đứng xuống thửa đất số 27 có diện tích 4,09m² giới hạn bởi các điểm A, B, 7, A theo Bản Trích lục và đo chỉnh lý thửa đất bản đồ địa chính số: 772/2016 ngày 24 tháng 02 năm 2016 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ.
Không chấp nhận yêu cầu về bồi thường thiệt hại tài sản do lấn chiếm không gian của ông Ninh Văn T bà Vũ Thị T1 đối với bà Ngô Thị H.
Không chấp nhận phần yêu cầu phản tố buộc tháo dỡ công trình kiến trúc lấn chiếm không gian của bà Ngô Thị H đối với ông Ninh Văn T, bà Vũ Thị T1.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 04/5/2021 nguyên đơn ông Ninh Văn T kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm; Ngày 06/5/2021, nguyên đơn ông Ninh Văn T và bà Vũ Thị T1 kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm, cụ thể nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn diện tích đất lấn chiếm 4,09m², tháo dỡ các công trình trên diện tích đất lấn chiếm và bồi thường thiệt hại do lấn chiếm với số tiền 115.815.000 đồng
Ngày 05/5/2021 bị đơn bà Ngô Thị H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, cụ thể bà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn tranh luận: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn diện tích đất lấn chiếm 4,09m², tháo dỡ các công trình trên diện tích đất lấn chiếm và bồi thường thiệt hại do lấn chiếm với số tiền 115.815.000 đồng
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn tranh luận: Thưa Hội đồng xét xử, xét thấy đây chỉ là một vụ việc tranh chấp không gian nhỏ nhưng đã kéo dài tận 9 năm. Phía bị đơn cũng có thiện chí hoà giải nhưng khi xảy ra tranh chấp, từ các văn bản, tài liệu chứng cứ do địa phương cung cấp không làm rõ toạ độ các điểm mốc A, B, 7, A có thể dẫn đến việc khó khăn khi thi tiến hành tháo dỡ phần diện tích 4,09m². Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung: Cả nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận hiện trạng các thửa đất không thay đổi theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ chỗ của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai. Căn cứ kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và bản vẽ trích lục của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ thì không có việc lấn chiếm trên mặt đất, tuy nhiên về không gian có diện tích 4,09m² thực tế tại vị trị giới hạn A, B, 7, A thì tường nhà nguyên đơn giáp ranh thửa 26 đã xây đến chiều cao khoảng 3,9m thì không thể xây lên được nữa. Việc nguyên đơn cho rằng bị đơn lấn chiếm là có căn cứ. Các vị trí tranh chấp nhà do bị đơn xây dựng không phải kiến trúc kiên cố, trường hợp tháo dỡ không ảnh hưởng đến kết cấu căn nhà của bị đơn, phù hợp với ý kiến bà H tại biên bản hoà giải ngày 10/6/2015. Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc bồi thường số tiền 115.815.000 triệu đồng, tại phiên toà nguyên đơn xác định theo số tiền lãi giữa ông T và Ngân hàng A là 600.000.000 đồng, việc thanh lý hợp đồng giao khoán nhân công, biên bản nghiệm thu, xét thấy nguyên đơn giao kết không liên quan đến việc sửa nhà, nguyên đơn cho rằng có sử dụng 1 phần để xây nhà nhưng không có chứng cứ nào khác ngoài lời khai vì vậy không có cơ sở chấp nhận. Đối với hợp đồng giao khoán được ký kết sau thời điểm tranh chấp nên không có cơ sơ xác nhận khoản tiền trên là thiệt hại. Vì vậy có cơ sở cho rằng bản án sơ thẩm tuyên đúng quy định pháp luật. Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn, bị đơn có kháng cáo nhưng không cung cấp các tài liệu chứng cứ làm thay đổi nội dung giải quyết vụ án. Vì vậy Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- [1.1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Ninh Văn T, bà Vũ Thị T1 và bị đơn bà Ngô Thị H nộp trong thời hạn quy định của pháp luật nên hợp lệ.
- [1.2] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Do người có quyền lợi nghĩa vụ đương sự đang sinh sống ở nước ngoài và căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn Tòa án sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai theo quy định tại Điều 26, 37, 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 là đúng quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ông T chết, các đương sự tiến hành thủ tục kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông T gồm: bà Vũ Thị T1, ông Ninh Đức T2, ông Ninh Đức T3, bà Ninh Thị Thùy T4, ông Ninh Đức T5.
[2] Về nội dung:
- [2.1] Ông Ninh Văn T, bà Vũ Thị T1 được Ủy ban nhân dân huyện Đ công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 27, tờ bản đồ số 40, thị trấn Đ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V331341 ngày 06 tháng 5 năm 2002.
- [2.2] Xét kháng cáo của nguyên đơn cho rằng bị đơn lấn chiếm mặt đất phần diện tích 4,09m²:
- [2.3]. Xét kháng cáo của bị đơn không đồng ý tháo dỡ phần không gian lấn chiếm:
- [2.4] Nguyên đơn kháng cáo đối với nội dung yêu cầu bồi thường thiệt hại do lấn chiếm không gian với tổng số tiền là 115.815.000 đồng; gồm chi phí xây dựng 68.000.000 đồng và lãi suất ngân hàng N1 vay ngân hàng để xây nhà 47.775.000 đồng, nhưng do bị đơn lấn chiếm nên không xây dựng được.
- [2.5] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn về việc trả lại chi phí thu thập chứng cứ. Xét thấy, tất cả các khoản chi phí của cả nguyên đơn và bị đơn là chi phí cần thiết trong việc thu thập chứng cứ, không phải chi phí tố tụng theo quy định tại Mục 2 Chương IX của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Về nguyên tắc thì trách nhiệm thu thập chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là nghĩa vụ của đương sự. Khi toà án hỗ trợ thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự, đương sự có yêu cầu phải chịu phần chi phí hợp lý này. Bị đơn cho rằng bản thân bà không phải chịu các khoản chi phí trên do toà án tự ý chấm dứt hợp đồng với Trung tâm nghiên cứu ứng dụng công nghệ xây dựng - Đại học Bách khoa Thành phố H. Xét, đơn vị đơn đo vẽ trên là do bị đơn chỉ định, đơn vị này không thực hiện được nội dung hợp đồng theo đúng thời hạn thoả thuận, mặc dù đã được toà án gia hạn nhiều lần và cũng đã đồng ý thanh lý hợp đồng. Do đó, bị đơn phải tự chịu các chi phí đã bỏ ra cho việc thu thập chứng cứ này. Sau khi trừ các chi phí thực tế, toà án cấp sơ thẩm tuyên trả lại cho bị đơn số tiền chưa sử dụng 5.500.000 đồng là có căn cứ. Nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn về vấn đề này.
Ông Đoàn T7, bà Ngô Thị H được Ủy ban nhân dân huyện Đ công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 26, tờ bản đồ số 40, thị trấn Đ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD260643 ngày 27 tháng 6 năm 2005.
Căn cứ kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 29 tháng 12 năm 2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai (bút lục số 265-266) và kết quả đo vẽ thể hiện Bản Trích lục và đo chỉnh lý thửa đất bản đồ địa chính số: 772/2016 ngày 24 tháng 2 năm 2016 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ (bút lục số 287-288) thì giữa nhà nguyên đơn và bị đơn không có việc lấn chiếm trên mặt đất. Tuy nhiên, về không gian thì phần tường bằng tôn, khung gỗ của thửa đất số 26 (nhà số E) chiếu theo phương thẳng đứng xuống thửa 27 có diện tích 4,09m². Thực tế tại vị trí không gian bị lấn chiếm giới hạn bởi các điểm A, B, 7, A thì phần tường nhà số 60 (của nguyên đơn) giáp ranh với thửa đất số 26 đã xây đến chiều cao khoảng 3,9m thì không thể xây lên nữa. Như vậy, việc nguyên đơn cho rằng bị đơn xây tường giáp ranh đã lấn chiếm một phần không gian thuộc thửa 27 của mình là có căn cứ. Nhận định trên đồng nghĩa với việc bị đơn không có lấn chiếm trên mặt đất, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
Xét tại vị trí tranh chấp, bức tường giáp ranh của nhà số E, tổ B, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai do bị đơn xây dựng có chiều cao 4m, khung gỗ phía trên quây bằng tôn, không phải kiến trúc kiên cố, trường hợp tháo dỡ phần kiến trúc lấn chiếm không gian của bức tường này cũng không làm ảnh hưởng đến kết cấu khác của nhà số E.
Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả lại diện tích không gian 4,09m² đã lấn sang diện tích của nguyên đơn là có căn cứ. Bị đơn kháng cáo, nhưng không đưa được tài liệu chứng cứ làm thay đổi nội dung vụ án nên không được chấp nhận.
Xét, khi nguyên đơn giao kết hợp đồng tín dụng ngày 24 tháng 5 năm 2015 thì trong hợp đồng không có nội dung liên quan đến việc sửa nhà. Nguyên đơn cho rằng thực tế có sử dụng một phần tiền vay để xây nhà, nhưng không xác định được sử dụng bao nhiêu tiền vay vào việc sửa chữa nhà. Như vậy, ngoài lời khai nguyên đơn không có chứng cứ chứng minh. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải bồi thường toàn bộ khoản tiền lãi đã thanh toán cho hợp đồng tín dụng nói trên là không có căn cứ chấp nhận.
Đối với hợp đồng giao khoản ngày 07 tháng 12 năm 2015 được ký kết và thanh lý sau thời điểm phát sinh tranh chấp (tranh chấp phát sinh tháng 7 năm 2015) nên không đủ cơ sở kết luận khoản tiền thanh lý cho hợp đồng trên là phần thiệt hại về tài sản từ việc lấn chiếm không gian của bị đơn.
Do vậy, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[3] Về án phí phúc thẩm: Do nguyên đơn và bị đơn là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/6/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Ninh Văn T (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông T: Bà Vũ Thị T1, ông Ninh Đức T2, ông Ninh Đức T3, bà Ninh Thị Thùy T4, ông Ninh Đức T5), bà Vũ Thị T1 và bị đơn bà Ngô Thị H.
- Giữ nguyên Bản án sơ thẩm:
Căn cứ Điều 26, khoản 1 Điều 37, Điều 220, 227, 228, 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Áp dụng các Điều 175, 176, 468, 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 202, 203 Luật Đất đai năm 2013; Pháp lệnh về án phí và lệ phí Tòa án năm 2009.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ninh Văn T, bà Vũ Thị T1 đối với bà Ngô Thị H về việc tranh chấp ranh giới, không gian quyền sử dụng đất:
- Chấp nhận phần yêu cầu phản tố của bà Ngô Thị H về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản, buộc ông Ninh Văn T, bà Vũ Thị T1 có trách nhiệm bồi thường số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) cho bà Ngô Thị H.
- Không chấp nhận phần yêu cầu phản tố buộc tháo dỡ công trình kiến trúc lấn chiếm không gian của bà Ngô Thị H đối với ông Ninh Văn T, bà Vũ Thị T1.
- Về án phí sơ thẩm:
- Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đến khi thi hành xong khoản tiền phải trả, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Án phí phúc thẩm: Nguyên đơn ông Ninh Văn T, bà Vũ Thị T1 và bị đơn bà Ngô Thị H được miễn án phí. H2 lại 300.000 đồng cho bà Ngô Thị H tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu số 0002661 ngày 15/5/2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
Buộc bà Ngô Thị H cùng những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm bà Đoàn Thanh T6, bà Đoàn Thị Minh C, ông Đoàn Anh K, ông Đoàn Duy L, bà Đoàn Thị Hải Y, bà Đoàn Thị Hải H1, bà Đoàn Thị Hồng L1, bà Đoàn Thị Hồng N tháo dỡ tường, tường quây bằng tôn của nhà số E, tổ B, khu phố H thuộc thửa đất số 27, tờ bản đồ số 40, thị trấn Đ, huyện Đ giáp với nhà số F, tổ B, khu phố H trả lại cho ông Ninh Văn T, bà Vũ Thị T1 phần không gian chiếu theo phương thẳng đứng xuống thửa đất số 27 có diện tích 4,09m² giới hạn bởi các điểm A, B, 7, A theo Bản Trích lục và đo chỉnh lý thửa đất bản đồ địa chính số: 772/2016 ngày 24 tháng 02 năm 2016 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ.
Không chấp nhận yêu cầu về bồi thường thiệt hại tài sản do lấn chiếm không gian của ông Ninh Văn T bà Vũ Thị T1 đối với bà Ngô Thị H.
Nguyên đơn ông T, bà T1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả tạm ứng án phí 5.326.000 đồng (năm triệu ba trăm hai mươi sáu nghìn đồng) đã nộp tại các biên lai thu số 009496, 009499 cùng ngày 02 tháng 10 năm 2015 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán.
Bị đơn bà Ngô Thị H phải chịu 649.900 đồng (sáu trăm bốn mươi chín nghìn chín trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Bà H đã nộp tạm ứng án phí 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 004971 ngày 05 tháng 4 năm 2016 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai, bà H còn phải nộp tiếp 449.900 đồng (bốn trăm bốn mươi chín nghìn chín trăm đồng).
Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Huỳnh Thanh Duyên |
Bản án số 343/2024/DS-PT ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản.
- Số bản án: 343/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
