TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 342/2024/HS-ST Ngày: 26 tháng 9 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hào
Các hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Đỗ Thị Sinh
- 2. Bà Nguyễn Thị Minh Thảo
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Tú - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Đào Thanh Hải - Kiểm sát viên
Ngày 26/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 356/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 369/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Thế T - Sinh năm 1984 tại Thanh Hoá; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Thế D và bà: Nguyễn Thị D1; vợ: Nguyễn Thị Đ (đã ly hô) và có 02 con (con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2018); tiền án: Ngày 28/3/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 tháng tù tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 13/11/2018; Ngày 8/7/2019, Tòa án nhân dân TP Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 21/3/2020; Ngày 23/9/2021, Tòa án nhân dân TP Thanh Hóa xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 22/12/2023; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 24/8/2005, Tòa án nhân dân TP Huế xử phạt 17 tháng tù tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 9/2/2007, Tòa án nhân dân TP Huế xử phạt 20 tháng tù tội “Trộm cắp tài sản”; Bị bắt tạm giam từ ngày 28/6/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Bị hại:
+ Chị Bùi Thị Vân D2 - Sinh năm 2005 (vắng);
Trú tại: Thôn B, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
+ Chị Đỗ Thị Trà G – Sinh năm 2005(vắng);
Trú tại: Thôn C, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Đào Ngọc Q – Sinh năm 1975(vắng);
Trú tại: SN B N, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 05 phút ngày 25/6/2024, Nguyễn Thế T đi bộ từ bệnh viện đa khoa tỉnh T qua khu nhà trọ ở số nhà F L, phường Q, thành phố T mục đích để trộm cắp tài sản, phát hiện phòng trọ số 05 không khóa cửa, T đi vào trong thấy chị Bùi Thị Vân D2, sinh năm 2005, trú tại thôn B, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa và Đỗ Thị Trà G, sinh năm 2005, trú tại thôn C, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa đang ngủ, T trộm cắp 01 điện thoại Iphone 14 promax màu tím 128G của chị D2 và 01 điện thoại Iphone XSmax màu đen của chị G đang để ở giường. Sau đó, T đi ra ngoài đường thuê xe ôm của ông Phạm Văn B, sinh năm 1964, trú tại G H, phường Q, thành phố T lên đường N, phường B, thành phố T bán 02 chiếc điện thoại này cho anh Đào Ngọc Q, sinh năm 1975, trú tại B N, phường T, thành phố T ( là chủ cửu hàng điện thoại di động Q) lấy 8.500.000đ. Khi bán, T nói với anh Q là điện thoại của khách cầm đồ quá hẹn. Anh Q sử dụng số tài khoản 107869768087 mở tại ngân hàng V1 chuyển khoản cho T thông qua số tài khoản 0979092148 mở tại ngân hàng M. Toàn bộ số tiền này, T đã tiêu xài cá nhân hết.
Theo báo cáo của chị Bùi Thị Vân D2 và Đỗ Thị Trà G tài sản bị Nguyễn Thế T chiếm đoạt là 01 chiếc điện thoại Iphone 14 Promax màu tím của chị D2 mua vào khoảng tháng 2 năm 2024 có giá trị khoảng 27.500.000 đồng và 01 chiếc điện thoại Iphone XSMax màu đen của chị G mua vào khoảng tháng 6 năm 2024 có giá trị khoảng 5.000.000đ.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 57/KL-HĐĐGTS, ngày 28/06/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 01 Iphone 14 Promax và 01 chiếc điện thoại Iphone XS Max có giá trị 26.500.000đ.
Vật chứng vụ án: Ngày 27 tháng 6 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã thu giữ 02 chiếc điện thoại tại cửa hàng điện thoại Quang Mobille do anh anh Đào Ngọc Q1 (chủ cửa hàng) tự nguyện giao nộp. Ngày 14 tháng 7 năm 2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định trả lại cho chị Bùi Thị V Dung 01 điện thoại Iphone 14 promax màu tím; chị Đỗ Thị Trà G 01 điện thoại Iphone XSMAX màu đen, là chủ sở hữu hợp pháp.
Về phần dân sự: Anh Đào Ngọc Quang yêu cầu Nguyễn Thế T phải bồi thường số tiền 8.500.000đ.
Tại bản cáo trạng số: 285/CT - VKSTPTH ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá đã truy tố Nguyễn Thế T1 về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS.
Tại phiên tòa đại diện VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS. Mức hình phạt VKS đề nghị đối với bị cáo từ 36 – 42 tháng tù.
Về phần dân sự: Đại diện VKS đề nghị Toà án buộc bị cáo phải trả lại cho anh Đào Ngọc Q1 số tiền 8.500.000đ.
Về án phí: Đại diện VKS đề nghị Toà án buộc bị cáo phải chị án phí HSST và án phí DSST theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem cho bị cáo mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại không có ý kiến khiếu nại gì. Do đố hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội:
Khoảng 14h05' ngày 25/6/2024 tại phòng T2, ở số nhà F L, phường Q, thành phố T, phát hiện cửa phòng trọ không khoá, Nguyễn Thế T đã lén lút trộm cắp 01 Iphone 14 Promax của chị Bùi Thị Vân D2 và 01 chiếc điện thoại Iphone XS Max của chị Đỗ Thị Trà G, tổng trị giá tài sản trộm cắp là 26.500.000đ.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của Nguyễn Thế T có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Mặc dù giá trị tài sản bị cáo trộm cắp dưới 50.000.000 đồng, nhưng bị cáo đã có tiền án, chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết định khung “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là đúng.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt một cách nhanh nhất rồi mang tài sản đi bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy tính chất vụ án là nghiêm trọng cần phải xử lý nghiêm minh.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội đã đến cơ quan Công an đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Bị cáo có nhân thân xấu đã bị xét xử nhiều lần về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cải sửa bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Điều đó cho thấy bị cáo coi thường pháp luật, muốn hưởng thụ nhưng lười lao động. Do đó khi quyết định hình phạt cần áp dụng Điều 38 BLHS để cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.
[4] Về phần dân sự:
- Theo báo cáo của bị hại, tài sản bị cáo chiếm đoạt, chị Bùi Thị Vân D2, chị Đỗ Thị Trà G đã nhận đầy đủ và không yêu cầu gì thêm. Do đó cần công nhận phần dân sự giữa bị cáo và bị hại đã giải quyết xong.
- Đối với số tiền 8.500.000₫ anh Đào Ngọc Q1 dùng để mua lại điện thoại của bị cáo, đến nay Nguyễn Thế T chưa trả lại. Anh Q1 đề nghị Toà án buộc bị cáo phải trả lại số tiền này là có căn cứ chấp nhận, buộc bị cáo phải trả lại cho anh Đào Ngọc Q1 số tiền 8.500.000 đồng là phù hợp.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí DSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 46 BLHS; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thế T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Nguyễn Thế T 39 (ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/6/2024.
Về dân sự:
- - Công nhận phần dân sự giữa bị cáo, bị hại đã giải quyết xong.
- - Buộc bị cáo phải trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đào Ngọc Quang số tiền 8.500.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có có hiệu lực pháp luật, anh Q1 có đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan Thi hành án có quyết định thi hành, nếu bị cáo không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền trên thì phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357 BLDS.
Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST và 425.000 đồng án phí DSST.
Bị cáo phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Văn Hào |
Bản án số 342/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 342/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự
