|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 342/2024/HS-ST Ngày: 10 – 12 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Thiệu Văn Kết Em
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Ngọc Giàu;
Ông Lê Văn Công.
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 400/2024/TLST- HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 414/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Dương Minh H, sinh ngày 19/9/2006; tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: số E đường G, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Dương Văn N bà Nguyễn Thị T; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/01/2024 cho đến nay.
2. Trịnh Hoàng H1, sinh ngày 24/4/2007, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Trịnh Đình T1 và bà Nguyễn Thị H2; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 19/6/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An xử phạt 02 năm 03 tháng tù tại bản án số: 181/2024/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 về tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/01/2024 cho đến nay.
3. Lê Đình C, sinh năm 2004; tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 08/12; Con ông Lê Đình H3 và bà Đoàn Thị T2; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/01/2024 cho đến nay.
4. Nguyễn Trọng L, sinh ngày 07/5/2007, tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: 2 đường V, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 07/12; Con ông Nguyễn Quốc V và bà Hồ Kim N1; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/01/2024 cho đến nay.
5. Nguyễn Cao Đ, sinh ngày 16/12/2007, tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: I, khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Nguyễn Thành S và bà Cao Thị Thu H4; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/01/2024 cho đến nay.
Các bị cáo có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Dương Minh H: Ông Dương Văn N, sinh năm 1970 bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1974; Nơi cư trú: số E đường G, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trịnh Hoàng H1: Ông Trịnh Đình T1, sinh năm 1971 bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Uỷ quyền cho ông Trịnh Đình L1, sinh năm 1995; nơi cư trú: 1 khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Trọng L: Ông Nguyễn Quốc V, sinh năm 1983 bà Hồ Kim N1, sinh năm 1990; Nơi cư trú: 2 đường V, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Cao Đ: Ông Nguyễnn Thành S1, sinh năm 1980 bà Cao Thị Thu H4, sinh năm 1983; Nơi cư trú: I, khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Dương Minh H: Ông Nguyễn Phước L2 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh B. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Trịnh Hoàng H1: Bà Nguyễn Hoàng Y - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh B. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trọng L: Ông Nguyễn Trọng T3 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh B. Có mặt.
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Cao Đ: Bà Đinh Như Ý - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh B. Có mặt.
- Bị hại:
1. Ông Trần Tiến L3, sinh năm 2002; nơi cư trú: 7 khu phố Đ, phường B, thành phố T, Bình Dương. Có mặt.
2. Ông Nguyễn Duyên H5, sinh năm 2001; nơi cư trú: 7, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Tiến L3 và Dương Minh H có mâu thuẫn với nhau trên mạng xã hội. Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 19/01/2024, L3 hẹn Minh H tại khu vực cổng công ty G, địa chỉ thuộc khu dân cư M, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương để giải quyết mâu thuẫn. Dương Minh H đồng ý và rủ Lê Đình C, Nguyễn Cao Đ, Nguyễn Trọng L, Trịnh Hoàng H1 cùng đi nhằm mục đích đánh Trần Tiến L3 thì C, Đ, L và Hoàng H1 đồng ý. Khi đi Minh H đưa cho C 01 con dao tự chế dài khoảng 40cm, Hoàng H1 mang theo 01 con dao tự chế dài khoảng 50cm cán có quấn keo màu đen và đưa cho Đ 01 con dao tự chế dài khoảng 56cm.
Khoảng 01 giờ 20 phút ngày 20/01/2024, Trần Tiến L3 điều khiển xe máy chở Nguyễn Duyên H5 đến điểm hẹn thì gặp nhóm của Dương Minh H. Lúc này, Nguyễn Trọng L điều khiển xe mô tô Wave RSX (không rõ biển số) chở theo Nguyễn Cao Đ và Trịnh Hoàng H1. Trịnh Hoàng H1 dùng dao mang theo chém một nhát vào tay trái của L3 làm cho xe của L3 và Duyên H5 té ngã vào hàng rào bên đường. Duyên Hải té xuống bị thương nằm ở bên đường, còn L3 đứng dậy bỏ chạy ra hướng đường N. Cùng lúc này, Dương Minh H điều khiển xe mô tô kiểu dáng Vairo biển số 61D2-184.68 chở theo Lê Đình C đi đến thì C xuống xe cầm con dao dài khoảng 40cm ném về phía L3 nhưng không trúng, Dương Minh H điều khiển xe chạy đụng vào người L3 nhưng không trúng làm Minh H và xe bị té ngã xuống đường. Lúc này, C đuổi theo kẹp cổ L3 và vật ngã L3 xuống đường. Đ và Hoàng H1 cầm dao xông đến chém vào người L3 2-3 nhát, Minh H dùng tay, chân đấm đá vào người L3. L3 vùng ra chạy được thì bị C nhặt con dao dưới đất tiếp tục đuổi theo chém vào lưng và vai của L3. Sau đó, cả nhóm lên xe tẩu thoát về nhà của Đ để cất dao, còn Dương Minh H chở C đến tiệm I thuộc đường L, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương để cất dao. L3 và Duyên H5 sau khi bị chém thì được người dân đưa đi cấp cứu điều trị thương tích.
Ngày 20/01/2024, ông Trần Ngọc T4 là cha của bị hại Trần Tiến L3 và ông Nguyễn Thành D là cha của bị hại Nguyễn Duyên H5 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về hành vi Cố ý gây thương tích như đã nêu trên.
Đến khoảng 17 giờ 30 phút ngày 20/01/2024, Lê Đình C, Trịnh Hoàng H1, Dương Minh H, Nguyễn Cao Đ, Nguyễn Trọng L lần lượt đến Công an phường B đầu thú hành vi phạm tội như trên và giao nộp công cụ thực hiện hành vi phạm tội.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 cây dao bằng kim loại màu trắng dài 56cm, cán màu trắng;
- - 01 cây dao bằng kim loại màu trắng dài 50cm, cán quắn băng keo màu đen.
Ngày 18/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T có Quyết định trưng cầu giám định số 1258 tiến hành trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh B giám định tỷ lệ tổn thương trên cơ thể cùng cơ chế hình thành vết thương do thương tích gây nên của bị hại Trần Tiến L3 và Nguyễn Duyên H5.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 174/2024/KLGĐ- TTPY ngày 25/3/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y1 xác định Nguyễn Duyên H5 bị: Vết thương vùng cằm 1,8 x 0,2cm, sẹo lành; Chấn thương ngực: Gãy xương sườn 3, 4, 5, 6 bên phải đã can, tràn khí màng phổi phải, đã điều trị nội khoa; Chấn thương bụng kín: Vỡ đôi vị trí phân thùy gan trái, đã phẫu thuật cắt phân thùy gan trái, vết mổ đường giữa bụng trên dưới rốn 15 x 0,5cm, vết dẫn lưu bụng trái 1,5 x 0,3cm, sẹo lành, qua đó kết luận: Tỷ lệ
tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với bị hại Nguyễn Duyên H5 là 63% (sáu mươi ba phần trăm).
Cơ chế hình thành thương tích: Vết thương vùng cằm: Sẹo bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra; Chấn thương ngực, gãy xương sườn 3, 4, 5, 6 bên phải, tràn khí màng phổi phải: Chấn thương ngực kín không có vết thương ngoài da, khả năng do vật tày gây ra; Chấn thương bụng, vỡ đôi vị trí phân thùy gan trái: Chấn thương bụng kín không có vết thương ngoài da, khả năng do vật tày gây ra.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 211/2024/KLGĐ- TTPY ngày 12/4/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y1 xác định Trần Tiến L3 bị: Chấn thương đầu, dập xuất huyết não trán trái, đã điều trị nội khoa; Vết thương lưng trái 7,5 x 0,9cm, vết thương nách phải 2,5 x 0,3cm, vết thương 1/3 dưới mặt sau cánh tay phải 6,5 x 0,5cm, sẹo lành; Vết thương vùng xương đòn phải 6 x 0,5cm, sẹo lành. Gãy xương đòn phải đã phẫu thuật kết hợp xương; 02 vết thương cổ tay trái 8,5 x 0,3cm và 1,7 x 0,3cm, đứt gân duỗi ngón 2,3,4,5 tay trái đã khâu, sẹo lành. Hiện tại vận động duỗi các ngón bàn tay trái còn đau, qua đó kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với bị hại Trần Tiến L3 là 20% (hai mươi phần trăm).
Bản Cáo trạng số: 294/CT-VKS -TA ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố các bị cáo Dương Minh H, Lê Đình C, Nguyễn Trọng L, Nguyễn Cao Đ và Trịnh Hoàng H1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 4 Điều 134 và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- - Áp dụng điểm d khoản 4 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318 điểm; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), đối với bị cáo Lê Đình C.
- - Áp dụng điểm d khoản 4 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318 điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 56, Điều 58, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trịnh Hoàng H1.
- - Áp dụng điểm d khoản 4 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318 điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Dương Minh H, Nguyễn Trọng L, Nguyễn Cao Đ.
Kiểm sát viên đề nghị xử phạt các bị cáo như sau:
Xử phạt bị cáo Lê Đình C từ 08 năm đến 09 năm tù tội “Cố ý gây thương tích” và từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt bị cáo Dương Minh H từ 06 năm 04 tháng đến 07 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” và từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 02 năm 07 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng L từ 05 năm 07 tháng đến 06 năm 04 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và từ 01 năm 10 tháng đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao Đ từ 06 năm đến 06 năm 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và từ 01 năm 10 tháng đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt bị cáo Trịnh Hoàng H1 từ 06 năm 04 tháng đến 07 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” và từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 07 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Kiểm sát viên đề nghị tổng hợp hình phạt của hai tội để buộc các bị cáo chấp hành. Ngoài ra, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt 02 năm 03 tháng tù của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đối với bị cáo Trịnh Hoàng H1.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cây dao bằng kim loại màu trắng dài 60cm, cán màu trắng và 01 cây dao bằng kim loại màu trắng dài 52cm, cán quắn băng keo màu đen là công cụ các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên Kiểm sát viên đề nghị tịch thu, tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Nguyễn Duyên H5 yêu cầu các bị cáo bồi thường các khoản tiền liên quan đến điều trị thương tích là 68.000.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần là 300.000.000 đồng. Bị hại Nguyễn Duyên H5 xác định quá trình điều tra đã nhận tiền bồi thường bị cáo Nguyễn Trọng L 5.000.000 đồng, Nguyễn Cao Đ 8.000.000 đồng và Lê Đình C 5.000.000 đồng. Riêng số tiền 30.000.000 đồng mà gia đình bị cáo Dương Minh H đã bồi thường cho bị hai thì bị hại không đồng ý vì bị hại không trực tiếp nhận số tiền này. Nếu gia đình bị cáo Dương Minh H đưa cho ai thì yêu cầu người đó trả lại, bị hại không biết đến số tiền 30.000.000 đồng này.
Bị hại Trần Tiến L3 yêu cầu các bị cáo bồi thường các khoản tiền liên quan đến điều trị thương tích và tiền tổn thất tinh thần tổng cộng là 80.000.000 đồng.
- Người bào chữa cho các bị cáo: Thống nhất tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo, người bào chữa phân tích thêm về nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức tình phạt phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi của từng bị cáo.
- Các bị cáo thống nhất nội dung bản Cáo trạng đã truy tố về tội danh, khung hình phạt, các bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo đồng ý bồi thường dân sự cho bị hại. Tuy nhiên, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định mức bồi thường cho phù hợp quy định pháp luật và thương tích thực tế của bị hại. Lời nói sau cùng các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy
định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 01 giờ 20 phút ngày 20/01/2024, tại khu vực thuộc khu dân cư M, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Trọng L điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Cao Đ và Trịnh Hoàng H1 dùng dao đuổi chém vào tay trái của Trần Tiến L3 làm cho xe của L3 và Nguyễn Duyên H5 té ngã, gây thương tích cho bị hại Nguyễn Duyên H5 với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 63%. Đồng thời, Dương Minh H, Lê Đình C, Nguyễn Trọng L, Nguyễn Cao Đ, Trịnh Hoàng H1 dùng hung khí nguy hiểm đuổi đánh, chém gây thương tích cho bị hại Trần Tiến L3 với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 20%, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của Nguyễn Duyên H5 và Trần Tiến L3 được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 4 Điều 134 và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm nhưng chỉ mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống, các bị cáo không cư xử phù hợp pháp luật và đạo đức xã hội mà bị cáo Dương Minh H lại rủ rê các bị cáo còn lại sử dụng dao là hung khí nguy hiểm rượt đuổi nhau trên đường và đâm, chém bị hại gây thương tích. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, do đó cần xử phạt các bị cáo với mức hình phạt phù hợp với hành vi của từng bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo L, Đ và C đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo L, Đ và C các bị cáo sau khi phạm tội đã tự thú là những tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[7] Về đồng phạm: Trong vụ án có vai trò đồng phạm nhưng đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công cụ thể. Bị cáo Dương Minh H là người khởi xướng, xúi giục các bị cáo còn lại thực hiện tội phạm nên khi lượng hình cũng cần phải cân nhắc cho phù hợp với hành vi của từng bị cáo.
[8] Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh và khung hình phạt là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.
[9] Người bào chữa cho các bị cáo nêu lên nguyên nhân điều kiện hoàn cảnh và các tình tiết giảm nhẹ đối với các bị cáo và đề ghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi của từng bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cây dao bằng kim loại màu trắng dài 60cm, cán màu trắng và 01 cây dao bằng kim loại màu trắng dài 52cm, cán quấn băng keo màu đen là công cụ các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội Kiểm sát viên đề nghị tịch thu, tiêu hủy là phù hợp.
Đối với các đối tượng gồm: T5, B, P, D1, Trường K mà Dương Minh H rủ đi đánh nhau nhưng không tham gia đánh, đã bỏ về. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên đề nghị cơ quan điều tra phân công giải quyết nguồn tin về tội phạm để tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý theo quy định pháp luật.
[10] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Nguyễn Duyên H5 yêu cầu các bị cáo bồi thường các khoản tiền liên quan đến điều trị thương tích là 68.000.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần là 300.000.000 đồng. Tổng cộng là 368.000.000 đồng;
Bị hại Trần Tiến L3 yêu cầu các bị cáo bồi thường các khoản tiền liên quan đến điều trị thương tích và tiền tổn thất tinh thần tổng cộng là 80.000.000 đồng.
Hội đồng xét xử nhận thấy:
Đối với yêu cầu của bị hại Nguyễn Duyên H5 liên quan đến các khoản tiền điều trị thương tích là 68.000.000 đồng, đây là các khoản tiền điều trị thương tích thực tế của Nguyễn Duyên H5 có hóa đơn chứng từ mà bị hại đã thanh toán trong quá trình điều trị thương tích nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, bị hại H5 yêu cầu các bị cáo bồi thường tổn thất tinh thần với số tiền 300.000.000 đồng là không phù hợp. Tại khoản 2 Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “ ... Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định...”. Do đó, yêu cầu của bị hại là không phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chỉ áp dụng mức tối đa cho bị hại là năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định là 50 tháng x 2.340.000 đồng = 117.000.000 đồng. Như vậy, Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Duyên H5 tổng cộng là 185.000.000 đồng. Mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường là 37.000.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Trọng L được trừ 5.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Cao Đ được trừ 8.000.000 đồng và bị cáo Lê Đình C được trừ 5.000.000 đồng.
Đối với số tiền 30.000.000 đồng mà gia đình bị cáo Dương Minh H xác định đã bồi thường cho bị hại nhưng tại phiên tòa bị hại xác định không trực tiếp nhận nên phía gia đình bị cáo Dương Minh H xác định sẽ làm việc riêng với bị hại H và người nhận tiền, các bên đề nghị không đưa vào vụ án này nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với yêu cầu của bị hại Trần Tiến L3 yêu cầu các bị cáo bồi thường các khoản tiền liên quan đến điều trị thương tích và tiền tổn thất tinh thần tổng cộng là 80.000.000 đồng. Số tiền yêu cầu này của bị hại Trần Tiến L3 là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc các bị cáo phải bồi thường cho bị hại L3 là 80.000.000 đồng, mỗi bị cáo phải bồi thường là 16.000.000 đồng.
Đối với các bị cáo chưa thành niên không có tài sản thì cha mẹ của bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường theo Điều 586 Bộ luật dân sự.
[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Áp dụng điểm d khoản 4 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318 điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lê Đình C.
Áp dụng điểm d khoản 4 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 56, Điều 58, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trịnh Hoàng H1.
Áp dụng điểm d khoản 4 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318 điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Cao Đ và bị cáo Nguyễn Trọng L.
Áp dụng điểm d khoản 4 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318 điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Dương Minh H.
- - Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- - Điều 586, Điều 590 Bộ luật dân sự 2015.
- - Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố các bị cáo Dương Minh H, Nguyễn Trọng L, Nguyễn Cao Đ, Trịnh Hoàng H1 và Lê Đình C phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng”.
1.1 - Xử phạt bị cáo Lê Đình C 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo chấp hành là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/01/2024.
1.2 - Xử phạt bị cáo Dương Minh H 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo chấp hành là 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/01/2024.
1.3 - Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng L 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo chấp hành là 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/01/2024.
1.4 - Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao Đ 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo chấp hành là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/01/2024.
1.5 - Xử phạt bị cáo Trịnh Hoàng H1 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo chấp hành là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù tại bản án số: 181/2024/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của hai bản án là 10 (mười) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/01/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Buộc ông Dương Văn N và bà Nguyễn Thị T là cha mẹ bị cáo Dương Minh H bồi thường cho bị hại Nguyễn Duyên H5 37.000.000 đồng và bồi thường cho bị hại Trần Tiến L3 16.000.000 đồng.
Buộc ông Trịnh Đình T1 và bà Nguyễn Thị H2 là cha mẹ bị cáo Trịnh Hoàng H1 bồi thường cho bị hại Nguyễn Duyên H5 37.000.000 đồng và bồi thường cho bị hại Trần Tiến L3 16.000.000 đồng.
Buộc ông Nguyễn Quốc V và bà Hồ Kim N1 là cha mẹ bị cáo Nguyễn Trọng L bồi thường cho bị hại Nguyễn Duyên H5 32.000.000 đồng và bồi thường cho bị hại Trần Tiến L3 16.000.000 đồng.
Buộc ông Nguyễn Thành S và bà Cao Thị Thu H4 là cha mẹ bị cáo Nguyễn Cao Đ bồi thường cho bị hại Nguyễn Duyên H5 29.000.000 đồng và bồi thường cho bị hại Trần Tiến L3 16.000.000 đồng.
Buộc bị cáo Lê Đình C bồi thường cho bị hại Nguyễn Duyên H5 32.000.000 đồng và bồi thường cho bị hại Trần Tiến L3 16.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
3. Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu, tiêu hủy 01 cây dao tự chế dài 50cm, cán dài 13cm được bọc băng keo đen, phần lưỡi dao thẳng dài 37cm, đầu dao bằng.
- - Tịch thu, tiêu hủy 01 cây dao tự chế dài 56cm, cán dao bằng kim loại được hàn liền với lưỡi dao dài 16cm, phần lưỡi dao dài 40cm cong.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/10/2024 giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thuận An).
4. Về án phí:
Các bị cáo Dương Minh H, Nguyễn Trọng L, Nguyễn Cao Đ, Trịnh Hoàng H1 và Lê Đình C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Ông Dương Văn N và bà Nguyễn Thị T phải chịu 2.650.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Trịnh Đình T1 và bà Nguyễn Thị H2 phải chịu 2.650.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Quốc V và bà Hồ Kim N1 phải chịu 2.400.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Thành S và bà Cao Thị Thu H4 phải chịu 2.400.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị cáo chưa thành niên, người bào chữa cho bị cáo chưa thành niên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN Thiệu Văn Kết Em |
10
Bản án số 342/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự: cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 342/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cố ý gây thương tích và Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Minh Hải và đp
