Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 342/2024/DS-ST

Ngày 08-10-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Đen
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Thắng
  • Ông Văn Công Trọn
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Linh - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 08 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 715/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 8 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 409/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị G. Sinh năm: 1955 (có mặt).
  • Địa chỉ: Ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn P (vắng mặt).
  • Bà Lâm Thị N (vắng mặt).
  • Cùng địa chỉ: Ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và tại phiên toà nguyên đơn bà Nguyễn Thị G trình bày:

Vào ngày 14/4/2012 bà Lâm Thị N, ông Nguyễn Tấn P có hỏi tôi số tiền 26.000.000 đồng sau đó có trả lần lượt được 12.000.000 đồng, hiện nay vợ chồng ông Nguyễn Tấn P và Lâm Thị N còn nợ lại tôi số tiền 14.000.000 đồng.

Sau đó, bà Lâm Thị N, ông Nguyễn Tấn P có hỏi tôi thêm số tiền là 18.000.000 đồng và có hỏi tôi thêm 10.000.000 đồng và thêm 01 chỉ vàng 24k. Tiếp đến ngày 24/4/2020 âm lịch bà Lâm Thị N có hỏi tôi thêm 10.000.000 đồng và thêm 5.000.000 đồng.

Tổng cộng vợ chồng bà Lâm Thị N và ông Nguyễn Tấn P nợ tôi là 57.000.000 đồng và 01 chỉ vàng 24k. Vào năm 2023 tôi có khởi kiện vợ chồng bà Lâm Thị N và ông Nguyễn Tấn P yêu cầu ông P và bà N trả tiền và vàng cho tôi, ông Nguyễn Tấn P và bà Lâm Thị N có hứa với tôi mỗi tháng sẽ trả cho tôi 2.000.000 đồng và thuyết phục tôi rút đơn.

Sau đó tôi đã rút đơn khởi kiện, từ ngày rút đơn khởi kiện đến nay ông Nguyễn Tấn P và bà Lâm Thị N chỉ trả cho tôi được 2.000.000 đồng và còn nợ lại 55.000.000 đồng và 01 chỉ vàng 24k đến nay vẫn không trả. Nhiều lần tôi cũng đã yêu cầu ông phát và bà N trả tiền và vàng nhưng ông P và bà N không trả.

Do đó bà G khởi kiện yêu cầu toà án giải quyết buộc vợ chồng bà Lâm Thị N, ông Nguyễn Tấn P trả cho bà G số tiền 55.000.000 đồng và 01 chỉ vàng 24K.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn Lâm Thị N, Nguyễn Tấn P đúng theo quy định pháp luật nhưng ông P, bà N không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

  • - Về thẩm quyền: Ông Nguyễn Tấn P, bà Lâm Thị N có nơi cư trú tại ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; Việc tranh chấp là hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Về quan hệ tranh chấp: Tranh chấp giữa nguyên đơn với bị đơn là tranh chấp về hợp đồng vay tài sản quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã ban hành Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và tống đạt hợp lệ cho ông Nguyễn Tấn P, bà Lâm Thị N nhưng ông P, bà N đều vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Bộ luật tố tụng dân sự; xét xử vắng mặt ông P, bà N theo quy định. Ông P, bà N không xuất trình bất kỳ tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình nên phải chịu hậu quả về việc không đưa ra chứng cứ để chứng minh theo khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị G yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Tấn P, bà Lâm Thị N trả cho bà G số tiền vay là 55.000.000 đồng và 01 chỉ vàng 24K. Không yêu cầu tính lãi suất.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình; trong giai đoạn xét xử nguyên đơn có cung cấp cho Tòa án biên nhận nợ và chữ viết trong biên nhận nợ là của bị đơn và ngày 05/10/2023 bà G có khởi kiện bà N và ông P và phía bị đơn yêu cầu nguyên đơn rút đơn kiện sẽ từ từ trả tiền cho nguyên đơn.

Từ ngày rút đơn khởi kiện đến nay ông Nguyễn Tấn P và bà Lâm Thị N chỉ trả cho bà G được 2.000.000 đồng và còn nợ lại 55.000.000 đồng và 01 chỉ vàng 24k đến nay vẫn không trả. Do đó bà G khởi kiện yêu cầu toà án giải quyết buộc vợ chồng bà Lâm Thị N, ông Nguyễn Tấn P trả cho bà G số tiền 55.000.000 đồng và 01 chỉ vàng 24K. Không yêu cầu tính lãi suất.

Xét, giao dịch vay tiền, vàng giữa bà Nguyễn Thị G và bà Lâm Thị N, ông Nguyễn Tấn P là có xảy ra. Do đó nguyên đơn khởi kiện yêu cầu toà án giải quyết buộc vợ chồng bà Lâm Thị N, ông Nguyễn Tấn P trả số tiền 55.000.000 đồng và 01 chỉ vàng 24K là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu tiền án phí sơ thẩm, nguyên đơn là người cao tuổi có đơn xin miễn nộp án phí. Bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền 55.000.000 đồng + 8.260.000 đồng (giá 01 chỉ vàng 24K tại thời điểm xét xử sơ thẩm) = 63.260.000 đồng x 5%, theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 102, Điều 147, Điều 161, Điều 162, của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 429, Điều 463, Điều 466, 468 của Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị G đối với bị đơn ông Nguyễn Tấn P, bà Lâm Thị N. Ông Nguyễn Tấn P, bà Lâm Thị N có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị G số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng) và 01 (một) chỉ vàng 24K.

    Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án mà bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ trả khoản tiền nói trên, thì hàng tháng bị đơn còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với khoản tiền nói trên tương ứng với thời gian chậm trả.

  2. Về án phí: Ông Nguyễn Tấn P, bà Lâm Thị N phải nộp số tiền 3.163.000 đồng (chưa nộp).
  3. Án xử sơ thẩm công khai: Nguyên đơn, được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

    Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Viện kiểm sát nhân dân H. Trần Văn Thời;
  • - Chi cục thi hành án dân sự H. Trần Văn Thời;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Văn Đen

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 342/2024/DS-ST ngày 08/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 342/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị G đòi tài sản cho vay
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger