Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 342/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05-9-2024

V/v: “Tranh chấp ly hôn, con chung".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Chánh – Cán bộ hưu trí.

2. Bà Thiều Thị Phi Loan – Cán bộ hưu trí.

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1977/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 308/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2024 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Hồ Ngọc Hương T, sinh năm 1995.

Địa chỉ: 3, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Lê Tiến Đ, sinh năm 1993.

Địa chỉ: B - 14, chung cư T, B, đường số A, khu phố G, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai.

(Bà T có đơn xin vắng mặt, ông Đ có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn bà Hồ Ngọc Hương T trình bày:

Bà và ông Đ kết hôn vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau một thời gian sống chung thì vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, tính tình vợ chồng không hợp. Cụ thể: lúc mới cưới, ông Đ còn chịu khó đi làm. Song sau 6 tháng thì nghỉ ở nhà cho đến nay, ông Đ không lo làm ăn chỉ đam mê tiền ảo và lập team kiếm tiền từ tiền ảo, không quan tâm gia đình, lại hay ghen tuông, thường xuyên chửi bởi xúc phạm bà, thái độ và xúc phạm cả gia đình bên vợ. Mỗi lần cãi nhau ông Đ lại có hành vi bạo lực xô ngã bà và dùng những từ ngữ không ra gì để nói về bà trước mặt con. Bà đã nhiều lần bỏ qua cho ông Đ vì thương con nhỏ, mong muốn cho con có đủ tình thương của cả ba và mẹ, để ông Đ có thể vì thương con nhỏ mà thay đổi. Tuy nhiên, ông Đ vẫn chứng nào tật nấy. Đỉnh điểm mâu thuẫn là từ tháng 01/2024 đến nay. Ông Đ thường lớn tiếng quát mắng vợ con, đe dọa đánh bà khiến bà sợ hãi mỗi khi về nhà. Bà xác định tình cảm không còn và không thể hàn gắn nên đã dẫn theo con chung là cháu Lê Vĩ N về ngoại sống cho đến nay, hai vợ chồng sống ly thân từ thời gian đó cho đến nay. Nhận thấy cuộc sống gia đình không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và không còn khả năng hàn gắn nên bà đề nghị giải quyết ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Vĩ N, sinh ngày 04/8/2021. Ly hôn, bà đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai, các biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn ông Lê Tiến Đ trình bày:

Ông và bà T chung sống tự nguyện, có đăng ký kết hôn như bà T trình bày là đúng. Nay bà T có đơn xin ly hôn thì ông không đồng ý. Lý do, những nội dung mâu thuẫn mà bà T trình bày có những nội dung là đúng, cũng có những nội dung là không đúng. Ông xác định hai vợ chồng quá trình chung sống có xảy ra một số mâu thuẫn, tuy nhiên, chưa đến mức trầm trọng phải ly hôn. Ông vẫn còn tình cảm với bà T, muốn bà T có thời gian suy nghĩ lại vấn đề hôn nhân và không muốn gia đình đỗ vỡ.

Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Vĩ N, sinh ngày 04/8/2021. Ly hôn, ông đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa là phù hợp, đúng với quy định của pháp luật. Các đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Xét cuộc sống vợ chồng của bà T và ông Đ không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà T yêu cầu xin ly hôn với ông Đ là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Về con chung: Giao con chung tên Lê Vĩ N, sinh ngày 04/8/2021 cho bà T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, tạm thời ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết; Về nợ chung: Không có, không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà T phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự: Bà Hồ Ngọc Hương T yêu cầu được ly hôn với ông Lê Tiến Đ, yêu cầu nuôi con chung. Căn cứ vào Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn, con chung”; bà Hồ Ngọc Hương T là nguyên đơn, ông Lê Tiến Đ là bị đơn.

[2] Về thẩm quyền giải quyết và thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Lê Tiến Đ hiện đang cư trú tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Nguyên đơn bà T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ theo qui định tại các Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành đưa vụ án xét xử vắng mặt bà T.

[3] Về nội dung khởi kiện:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Ngọc Hương T và ông Lê Tiến Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đã được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B cấp giấy chứng nhận kết hôn số 120/2019 ngày 20/11/2019 nên căn cứ Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn được một thời gian thì hai vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống. Nguyên nhân do quan điểm sống của hai vợ chồng bất đồng, không tìm được tiếng nói chung, vì vậy thường xuyên cãi vã, không tôn trọng lẫn nhau. Hai vợ chồng hiện đã sống ly thân. Nay bà T xác định tình cảm không còn, hạnh phúc hôn nhân không đạt được nên xin ly hôn với ông Đ.

Trong quá trình giải quyết vụ án tại bản tự khai, các biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn ông Đ cũng thừa nhận trong cuộc sống hôn nhân của hai vợ chồng có xảy ra một số mâu thuẫn, tuy nhiên theo ông chưa đến mức trầm trọng phải ly hôn. Ông đã tìm nhiều cách để giải quyết nhưng không được. Hiện nay cả hai đã sống ly thân. Ông xác định vẫn còn tình cảm với bà T nên không đồng ý ly hôn.

Ông Đ không không đồng ý ly hôn tuy nhiên lại không đưa ra được phương án nào để vợ chồng đoàn tụ thể hiện việc ông Đ không tích cực trong việc hòa giải, hàn gắn quan hệ vợ chồng với bà T.

Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông Đ tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B thể hiện nội dung: “Địa phương không nắm được mâu thuẫn giữa vợ chồng bà T và ông Đ”.

Từ đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông Đ là có thật, đều được các bên thừa nhận, mục đích hôn nhân không đạt được, các bên hiện đã sống ly thân, bà T kiên quyết không muốn hòa giải để về chung sống với ông Đ. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T, giải quyết cho bà T được ly hôn với ông Đ là phù hợp.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Vĩ N, sinh ngày 04/8/2021. Ly hôn, bà T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Đ cũng có nguyện vọng muốn được trực tiếp chăm sóc và giáo dục con chung. Không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

Qua xem xét hồ sơ vụ án, lời khai của các bên thể hiện con chung hiện đang sống cùng bà T. Quá trình giải quyết vụ án bà T cung cấp cho Tòa án 01 hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần P, mức lương hàng tháng là: 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng). Thời gian làm việc theo giờ hành chính.

Tại phiên tòa, ông Đ trình bày: Ông làm công việc tự do, cụ thể là làm các dự án, lương ông sẽ được nhận một lần sau khi kết thúc dự án nên ông không cung cấp được xác nhận lương bảng cho Tòa án. Tuy nhiên, thu nhập của ông đảm bảo để nuôi con mà không cần bà T phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, điều kiện chăm sóc con chung của các bên đều đảm bảo. Tuy nhiên, hiện nay con chung đang sống cùng bà T ổn định, phát triển bình thường về thể chất và tinh thần. Bà T có thu nhập ổn định, công việc làm giờ hành chính đảm bảo ổn định việc chăm sóc cho con chung. Hơn nữa, cháu N hiện đang rất nhỏ (tròn 3 tuổi) nên rất cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định của con chung, không làm thay đổi môi trường sống của trẻ xét thấy cần giao con chung cho bà T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Tạm thời ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do bà T không yêu cầu.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về nợ chung: Các bên trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[4] Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015;

Áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Ngọc Hương T. Bà Hồ Ngọc Hương T được ly hôn với ông Lê Tiến Đ.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Lê Vĩ N, sinh ngày 04/8/2021 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Vì không trực tiếp nuôi con nên ông Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không đặt ra xem xét, giải quyết.
  4. Về nợ chung: Không có, không đặt ra xem xét, giải quyết.
  5. Về án phí: Bà Hồ Ngọc Hương T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ tiền vào tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000480 ngày 16/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà T đã nộp xong án phí.

Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo qui định của pháp luật. Bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKS ND tỉnh Đồng Nai;
  • - T.H.A dân sự TP. Biên Hoà;
  • - VKS TP Biên Hoà;
  • - Các đương sự.
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 342/2024/HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn, con chung

  • Số bản án: 342/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trang - Đạt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger