Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 342/2024/HNGĐ-ST

Ngày 30 - 8 - 2024

V/v: “Tranh chấp hôn nhân

và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Duy Bảo và bà Bùi Thị Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 161dân sự 162/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 271/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1993; địa chỉ: đường K, làng H, thị trấn P, huyện C, tỉnh Đài Trung, Đài Loan; vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1995; địa chỉ: xóm M, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; hiện đang ở Đài Loan. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Lâm T1, sinh năm 1958 và bà Lê Thị L, sinh năm 1956; địa chỉ: xóm M, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt và có đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 09/4/2024 và bản tự khai đề ngày 09/4/2024, nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày:

Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn T yêu nhau trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 20/9/2019 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Thời gian đầu chung sống, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, đầm ấm, thời gian trở lại đây vợ chồng mâu thuẫn thường xuyên, không còn tiếng nói chung. Nguyên nhân do năm 2022 chị H sang Đài Loan làm ăn, cùng năm đó anh T cũng sang Đài Loan xuất khẩu lao động. Do hai vợ chồng ở hai địa điểm khác nhau, chị H cũng không nắm rõ được địa chỉ cụ thể của anh T ở Đài Loan, từ đó hai vợ chồng không còn tin tưởng nhau. Tình cảm vợ chồng không còn như trước, căng thẳng kéo dài, không thể hòa giải được. Nay chị H nhận thấy vợ chồng thân ai người đấy lo, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị T2 làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị H và anh T được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Văn T3, sinh ngày 21/4/2020. Hiện tại, con chung đang ở với ông bà nội là ông Nguyễn Lâm T1 và bà Lê Thị L (là bố mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn T) tại xóm M, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Nay ly hôn, chị H có nguyện vọng được nuôi con chung và mong muốn tạm thời nhờ ông Nguyễn Lâm T1 và bà Lê Thị L chăm sóc con chung cho đến khi chị H về nước. Chị H sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/tháng và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phạm Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn T: Do vợ chồng không liên lạc gì với nhau nên chị Phạm Thị H không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh T ở Đài Loan. Theo chị H trình bày anh T vẫn thường xuyên liên lạc về với bố mẹ đẻ là ông Nguyễn Lâm T1 và bà Lê Thị L; địa chỉ cư trú: xóm M, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An và ông T1, bà L biết địa chỉ cụ thể của anh T ở Đài Loan; đề nghị Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã gửi văn bản cho ông Nguyễn Lâm T1 và bà Lê Thị L (là bố mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn T) thông báo về việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án để ông T1, bà L thông báo cho anh T và đề nghị anh T nêu ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị H. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng bao gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, Giấy triệu tập phiên tòa tại nơi cư trú của anh T trước khi đi nước ngoài. Tuy nhiên, anh T không có ý kiến gì và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm.

Tại biên bản lấy lời khai và biên bản xác minh, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Lâm T1 và bà Lê Thị L trình bày: Ông Nguyễn Lâm T1 và bà Lê Thị L là bố mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn T. Anh Tú hiện nay đang lao động tại Đài Loan, anh T thường liên lạc về với gia đình qua ứng dụng Zalo. Việc chị H làm đơn ly hôn anh T đã biết. Vợ chồng anh T, chị H có 01 con chung là Nguyễn Văn T3, sinh ngày 21/4/2020. Cháu Trọng ở với ông bà từ nhỏ đến giờ. Nếu vợ chồng anh T, chị H ly hôn, ông bà không yêu cầu anh T, chị H phải trả chi phí nuôi dưỡng cháu T3 từ trước đến nay. Anh Tú và ông bà có nguyện vọng Tòa án giao con chung cho anh T nuôi dưỡng. Trường hợp nếu Tòa án giao con chung cho chị H nuôi dưỡng thì ông bà cam kết sẽ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu đến lúc bố mẹ của cháu về Việt Nam, không yêu cầu anh T và chị H cấp dưỡng nuôi cháu. Nếu chị H có nguyện vọng chu cấp nuôi con hàng tháng thì tùy chị H.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn T được ly hôn. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn T3, sinh ngày 21/4/2020 cho chị H chăm sóc nuôi dưỡng, tạm giao cháu T3 cho ông T1, bà L nuôi dưỡng cho đến khi chị H về Việt nam; về cấp dưỡng nuôi con: tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh T do chị H chưa có yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét do nguyên đơn không yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Phạm Thị H hiện cư trú tại Đài Loan làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T hiện cư trú ở nước ngoài; trước khi xuất cảnh, anh T có địa chỉ cư trú tại xóm M, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Văn T hiện đang ở Đài Loan, không có địa chỉ cụ thể. Ông Nguyễn Lâm T1 và bà Lê Thị L (là bố mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn T) đã thông báo cho con trai về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng liên quan theo quy định pháp luật đồng thời yêu cầu bà L1 cung cấp địa chỉ cụ thể của anh T ở Đài Loan nhưng bà không cung cấp được. Tính đến ngày mở phiên tòa xét xử lần thứ hai, Tòa án không nhận được bất cứ văn bản nào của anh T trình bày về yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị H nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết và vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Phạm Thị H hiện nay ở nước ngoài, có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và xét xử, bị đơn anh Nguyễn Văn T vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt các đương sự.

[3] Xét nội dung vụ án và các ý kiến, yêu cầu của đương sự:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện; có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống chung hạnh phúc được một thời gian thì đã phát sinh mâu thuẫn. Về nguyên nhân mâu thuẫn, do năm 2022 chị H sang Đài Loan làm ăn, cùng năm đó anh T cũng sang Đài Loan xuất khẩu lao động. Do hai vợ chồng ở hai địa điểm khác nhau, từ đó hai vợ chồng không còn tin tưởng nhau. Tình cảm vợ chồng không còn như trước, căng thẳng kéo dài, không thể hòa giải được. Nay chị H có nguyện vọng được ly hôn với anh T. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh T không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Vì vậy, nếu kéo dài cuộc hôn nhân này thì mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị H được ly hôn với anh T là phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[3.2] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Văn T3, sinh ngày 21/4/2020. Hiện tại, con chung đang ở với ông bà nội là ông Nguyễn Lâm T1 và bà Lê Thị L (là bố mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn T) tại xóm M, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Xét thấy, hiện nay anh T và chị H đang sống và làm việc tại nước ngoài. Tuy nhiên chị H có nơi cư trú hợp pháp tại Đài Loan, anh T không có địa chỉ cư trú cụ thể. Ông Nguyễn Lâm T1 và bà Lê Thị L tự nguyện cam kết tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi anh T, chị H về Việt Nam. Vì vậy, để đảm bảo điều kiện phát triển toàn diện cho cháu nên cần giao con chung cho chị H nuôi dưỡng và tạm giao con chung cho ông T1, bà L chăm sóc trong thời gian anh T, chị H ở nước ngoài là phù hợp.

Về chi phí chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn T3: ông Nguyễn Lâm T1 và bà Lê Thị L không yêu cầu tuy nhiên cần chấp nhận sự tự nguyện của chị H trợ cấp 1.000.000đ/tháng cho ông T1, bà L chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T3 trong thời gian chị H đang ở nước ngoài.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.

[4] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chị Phạm Thị H phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40, khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

    Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị H.

    • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
    • - Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Văn T3, sinh ngày 21/4/2020 cho chị Phạm Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu T3 đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm giao cháu Nguyễn Văn T3 cho ông Nguyễn Lâm T1, bà Lê Thị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị Phạm Thị H chưa về Việt Nam.
    • Về cấp dưỡng nuôi con, chị Phạm Thị H chưa yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
    • Về chi phí chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn T3: chấp nhận sự tự nguyện của chị H trợ cấp 1.000.000đ/tháng cho ông T1, bà L chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T3 trong thời gian chị H đang ở nước ngoài.
    • Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của các con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
    • - Về tài sản chung, nợ chung: Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
  2. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0012826 ngày 08 tháng 5 năm 2024.
  3. Chị Phạm Thị H, ông Nguyễn Lâm T1, bà Lê Thị L có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án; anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã T, H. T;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mỹ Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 342/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 342/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình Phạm Thị H- Nguyễn Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger