|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI ---------- |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 342/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31/07/2024
V/v: Xin ly hôn giữa chị Lê Thị Y và anh
Nguyễn Đắc L
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ- TP HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Tự Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Vinh và ông Nguyễn Đức Thành
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa- Cán bộ Toà án nhân dân huyện Thanh Trì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà: Bà Tô Thu Thủy - Kiểm sát viên
Ngày 31 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 271/2024/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 06 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXX ngày 08/07/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 37/2024/QĐ- HPT ngày 24/07/2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Lê Thị Y, sinh năm 1990
HKTT và trú tại: Thôn Í, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội
(Chị Y có mặt tại phiên tòa)
* Bị đơn: Anh Nguyễn Đắc L, sinh năm 1985
HKTT và trú tại: Thôn Í, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội
(Anh L vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn xin ly hôn và các lời khai tại Toà án nguyên đơn là chị Lê Thị Y trình bày:
- Về tình cảm: Tôi và anh Nguyễn Đắc L được tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 25/01/2013 tại UBND xã V, huyện T, TP .. Trước khi kết hôn chưa ai có vợ, có chồng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại: Thôn Í, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội. Chúng tôi sống hạnh phúc bình thường cho đến tháng 8/2014 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng tính cách không hợp, bất đồng quan điểm về nhiều mặt trong cuộc sống. Ngoài ra anh L còn thường xuyên chơi bời cờ bạc, cá độ bóng đá, lô đề không quan tâm đến gia đình, nhiều lần anh L lấy tiền, vàng, xe máy của tôi bán, cầm cố để cờ bạc. Tôi đã phải nhiều lần trả nợ cho anh L. Chủ nợ đã đến nhà và Công ty nơi tôi làm việc, nhắn tin để đòi nợ. Việc vợ chồng mâu thuẫn, gia đình hai bên đã hòa giải góp ý và bản thân tôi cũng đã tìm cách hàn gắn quan hệ vợ chồng nhưng không có kết quả. Vợ chồng tuy vẫn sống chung một nhà nhưng đã sống ly thân từ năm 2019, không ai quan tâm đến ai. Đến tháng 6/2022, tôi đã làm đơn xin ly hôn anh L đến Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì nhưng sau đó được hòa giải nên đã rút đơn về đoàn tụ, nhưng từ đó đến nay cuộc sống vợ chồng vẫn không có hạnh phúc.
Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng với anh L không còn, vợ chồng không có khả năng chung sống hạnh phúc tôi có nguyện xin được ly hôn anh L
- Về con chung: Tôi và anh L có 02 con chung là Nguyễn Đắc Kỳ P, sinh ngày 24/08/2014 và Nguyễn Đắc Phúc L1, sinh ngày 15/09/2016
Khi ly hôn tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu anh L đóng góp phí tổn nuôi con.
Hiện tôi là kỹ sư Công ty N, thu nhập hàng tháng khoảng 20 triệu đồng, thời gian làm việc từ 8 giờ đến 17 giờ nghỉ thứ 7 và chủ nhật. Tôi có đầy đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng các con tốt. Tôi được anh trai là anh Lê Bá M tạo điều kiện cho ở nhờ tại CHCC số 709C Tòa nhà G, Lô đất A13-HH1, khu A, Khu đô thị mới hai bên đường L, xã A, huyện H, TP ..
- Về tài sản chung, nhà ở chung, công nợ: Tôi và anh L không có
* Bị đơn là anh Nguyễn Đắc L, trong quá trình Toà án thụ lý giải quyết vụ án đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần để Toà án giải quyết vụ án, Thông báo về phiên họp giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ và hoà giải về việc chị Lê Thị Y xin ly hôn nhưng anh L vẫn không có mặt không có lý do
Tại phiên toà:
- Chị Lê Thị Y vẫn giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện
- Anh Nguyễn Đắc L vắng mặt không có lý do
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án như sau:
- Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ thủ tục theo quy định của pháp luật
- Đối với việc chấp hành pháp luật của đương sự:
+ Nguyên đơn chấp hành, đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự
+ Bị đơn không chấp hành đầy đủ, không có mặt, không đưa ra các tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình
* Về nội dung vụ án: Chị Y và anh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống anh chị đã xảy ra mâu thuẫn kéo dài, nguyên nhân là do vợ chồng tính cách không hợp, bất đồng quan điểm, anh L thường xuyên cờ bạc, lô đề, cá độ không có sự quan tâm chăm sóc vợ, con. Tuy vẫn ở chung một nhà nhưng vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị Y xác định tình cảm vợ chồng với anh L không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên xin ly hôn anh L.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Về tình cảm: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Y đối với anh Nguyễn Đắc L. Chị Y được ly hôn anh L
- Về con chung: Giao con chung cho chị Lê Thị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu anh L đóng góp phí tổn nuôi con nên không xem xét. Anh L được quyền thăm và chăm sóc con chung không ai được ngăn cản
- Về tài sản chung, nhà ở chung và nợ chung: Chị Y xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết do đó không xem xét
- Về án phí: Chị Y phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Lê Thị Y xin ly hôn anh Nguyễn Đắc L có hộ khẩu thường trú và trú tại: Thôn Í, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội. Toà án nhân dân huyện Thanh Trì thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự
- Về tố tụng: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện đầy đủ thủ tục theo quy định của pháp luật, bị đơn là anh Nguyễn Đắc L đã được Toà án triệu tập nhiều lần để giải quyết vụ án, để tham gia phiên hoà giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng anh L đều vắng mặt. Ngày 24/07/2024, Toà án đã mở phiên toà lần thứ nhất để xét xử vụ án nhưng anh L vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà và ấn định xét xử vào ngày 31/07/2024. Tại phiên toà ngày 31/07/2024, anh L vẫn vắng mặt, xét thấy đây là lần thứ hai anh L vắng mặt không có lý do mặc dù đã được tống đạt hợp lệ nên Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh L là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự
* Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Y và anh Nguyễn Đắc L được tự nguyện tìm hiểu đăng ký kết hôn ngày 25/01/2013 tại UBND xã V, huyện T, TP . Đây là một hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống anh chị sống hạnh phúc đến khoảng năm 2014 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng tính cách không hợp, bất đồng quan điểm. Mặt khác anh L còn chơi bời cờ bạc, cá độ bóng đá, lô đề không quan tâm đến gia đình, nhiều lần anh L lấy tiền, vàng, xe máy của chị Y đem bán, cầm cố để cờ bạc. Tuy vẫn chung sống một nhà nhưng đã sống ly thân từ năm 2019, vợ chồng không có sự quan tâm nhau. Tháng 6/2022, chị Y đã làm đơn xin ly hôn đến Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì nhưng sau đó được hòa giải nên đã rút đơn về đoàn tụ, nhưng từ đó đến nay cuộc sống vợ chồng vẫn không có hạnh phúc
Xác minh tại địa phương được cung cấp: Chị Y và anh L kết hôn năm 2013. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại Thôn Í, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn nên đã sống ly thân, nguyên nhân chủ yếu là gì thì địa phương không nắm rõ.
Quá trình giải quyết vụ án, anh L không có bất cứ lời khai nào, không xuất trình được tài liệu, chứng cứ mà có thái độ chống đối, không hợp tác với Cơ quan pháp luật để bảo vệ quyền lợi cho mình theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh L đã được Toà án tạo điều kiện để tham gia phiên hoà giải nhưng đều vắng mặt không có lý do cho thấy anh L không có mong muốn đoàn tụ với chị Y. Điều đó thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Y và anh L là trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân, tình cảm vợ chồng đã rạn nứt, không thể hàn gắn được. Vì vậy Hội đồng xét xử nhận thấy cuộc sống chung giữa chị Y và anh L không có hạnh phúc, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị Y đối với anh L là có căn cứ và phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận
* Về con chung: Chị Y và anh L có 02 con chung là Nguyễn Đắc Kỳ P, sinh ngày 24/08/2014 và Nguyễn Đắc Phúc L1, sinh ngày 15/09/2016.
Xét việc chăm sóc nuôi dưỡng con chưa thành niên là quyền và trách nhiệm của cha mẹ đối với con chưa thành niên. Khi ly hôn chị Y có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung vì chị có công việc ổn định, có thu nhập và có thời gian, trình độ để nuôi dạy con tốt. Bản thân cháu P và cháu L1 đều có nguyện vọng ở cùng chị Y. Hội đồng xét xử nhận thấy nguyện vọng của chị Y, cháu P và cháu L1 là chính đáng và phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân gia đình. Do đó nghĩ nên giao cho chị Y trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng 02 con chung thời gian kể từ tháng 7/2024 đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Y không yêu cầu anh L đóng góp phí tổn nuôi con. Tạm hoãn nghĩa vụ đóng góp phí tổn nuôi con đối với anh L cho đến khi chị Y có yêu cầu. Anh L có quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
* Về tài sản chung, nhà ở chung và nợ chung: Chị Y không đề nghị Toà án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Quá trình giải quyết vụ án cho đến khi Toà án công khai chứng cứ và Quyết định đưa vụ án ra xét xử, anh L không có yêu cầu phản tố nên Toà án không xét. Nếu sau này phát sinh tranh chấp các đương sự có quyền khởi kiện đến Toà án bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật
* Về án phí: Chị Lê Thị Y phải chịu án phí HNGĐ sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
- Về tình cảm: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Y. Chị Lê Thị Y được ly hôn Anh Nguyễn Đắc L
- Về con chung: Giao chị Lê Thị Y trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng 02 con chung là Nguyễn Đắc Kỳ P, sinh ngày 24/08/2014 và Nguyễn Đắc Phúc L1, sinh ngày 15/09/2016, thời gian kể từ tháng 7/2024 cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Y không yêu cầu anh L đóng góp phí tổn nuôi con. Tạm hoãn nghĩa vụ đóng góp phí tổn nuôi con đối với anh L cho đến khi chị Y có yêu cầu. Anh L có quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
- Về tài sản chung, nhà ở chung và nợ chung: Chị Y không yêu cầu Toà án giải quyết do đó Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu phát sinh tranh chấp các đương sự có quyền khởi kiện đến Toà án bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật
- Về án phí: Chị Lê Thị Y phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ sơ thẩm đã nộp được trừ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007250 ngày 11/06/2024 tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì.
Án xử công khai sơ thẩm, chị Y có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
Anh L vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội - VKS, Chi cục THADS huyện Thanh Trì - UBND xã Vĩnh Quỳnh số 26, quyển số 01/2013 ngày 25/01/2013 - Các đương sự - Lưu hồ sơ vụ án; VP. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Tự Hiếu |
Bản án số 342/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 342/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Y
