Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 342/2024/HS-PT

Ngày: 14/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Yên
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Thanh Dũng
Ông Phạm Trí Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Phương, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Văn Vâng, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 1046/2023/TLPT-HS ngày 29 tháng 12 năm 2023 do có kháng kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 544/2023/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Phạm Văn T; Sinh ngày 06 tháng 8 năm 1991 tại tỉnh Thanh Hóa; Thường trú: Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn H và bà Bùi Thị H1; Bị cáo có vợ tên Thái Thị Kim D và 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị bắt, tạm giam từ ngày 21/5/2022 - Có mặt.

    Người bào chữa cho bị cáo T:

    Ông Nguyễn Trung C là luật sư của Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H– Có mặt.

  2. Nguyễn Thái S; Sinh ngày 25 tháng 02 năm 1990 tại tỉnh Ninh Thuận; Thường trú: Thôn T, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn G và bà Nguyễn Thị L; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị bắt, tạm giam từ ngày 21/5/2022 - Có mặt.

  3. Nguyễn Công D1; Sinh ngày 06 tháng 12 năm 1979 tại Thành phố Hà Nội; Thường trú: Số B ngách E H, phường V, quận B, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Diễn viên; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình C1 (chết) và bà Vũ Thị T1; Bị cáo có vợ (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị bắt, tạm giam từ ngày 23/11/2022 - Có mặt.

    Người bào chữa cho bị cáo D1:

    Ông Nguyễn Như Thái D2 là luật sư của Văn phòng L2 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo Nguyễn Công D1 – Có mặt.

Bị hại:

Ông Triệu Vĩ S1; Sinh năm 1990

Thường trú: 95 Mạc Vân, Phường 12, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Chỗ ở: 489B/24/8 Hậu Giang, Phường 11, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thái S, Phạm Văn T và ông Triệu Vĩ S1, là bạn bè quen biết từ năm 2018. Ngày 24/4/2022, T đã liên lạc với ông S1 đến ở nhờ nhà ông S1 tại số D Hậu Giang, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh, ông S1 đồng ý và ông S1 cho T mượn một túi xách để đựng máy tính xách tay của T. Sau khi sử dụng túi xách thấy bên trong túi xách có 01 tờ giấy khổ A4 trên giấy có hàng chữ viết bằng tiếng Anh (khoảng 12 chữ, T không nhớ các chữ số trên), do có hiểu biết trong lĩnh vực tiền điện tử, T biết đây là mã khôi phục tài khoản của ví tiền điện tử. T liền lấy điện thoại di động của mình mở ứng dụng “Trust”, sau đó nhập hàng chữ viết bằng tiếng Anh thì mở được ví tiền điện tử của ông S1 và trong ví có 07 bitcoin. Sau đó, T để giấy lại vào trong túi xách, tắt điện thoại và vẫn ở nhờ nhà của ông S1 sinh hoạt như bình thường. Ngày 29/4/2022, T về nhà và nhiều lần kiểm tra ví tiền điện tử vẫn có 07 bitcoin. Đến 10 giờ 10 ngày 08/5/2022, tại quán cà phê ven đường (không rõ địa chỉ), do đang cần tiền tiêu xài, nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt 07 bitcoin để chuyển đổi ra tiền Việt Nam đồng. T sử dụng điện thoại di động của mình, vào ứng dụng “Trust”, đăng nhập vào ví tiền điện tử của ông S1, rồi thực hiện thao tác chuyển 07 bitcoin của ông S1 vào ví tiền điện tử của T cũng trong ứng dụng “Trust”. Khi ví tiền điện tử của T có 07 bitcoin, T tạo thêm 03 ví tiền điện tử khác rồi chuyển 07 bitcoin này vào 03 ví, cụ thể: 01 ví có 2,5 bitcoin, 01 ví có 3,2 bitcoin và 01 ví có 1,3 bitcoin, sau khi thực hiện xong thì T tắt điện thoại, rồi đi về nhà.

Cùng thời điểm 10 giờ 10 phút ngày 08/5/2022, ông S1 nhận được tin nhắn từ ví tiền điện tử của ứng dụng Blockchain báo tin đã trừ 07 bitcoin sang tài khoản khác. Do ông S1 không thực hiện giao dịch, nên đã vào ứng dụng B để kiểm tra lại ví tiền điện tử thì phát hiện bị mất 07 bitcoin. Ông S1 nghi ngờ Phạm Văn T là người chiếm đoạt bitcoin, nên ông S1 liên lạc cho T nhưng không liên lạc được. Ông S1 đã thông qua tất cả các mối quan hệ bạn bè để nhờ người tìm T, trong đó, ông S1 liên lạc với Nguyễn Thái S và kể cho S nghe việc bị T chiếm đoạt 07 bitcoin. Đến ngày 09/5/2022, ông S1 đến trình báo Phòng C2 Công an Thành phố H.

Sau khi được ông S1 thông báo sự việc trên, S đã gặp Nguyễn Công D1 và kể lại vụ việc cho D1 nghe. Chiều ngày 08/5/2022, S điện thoại cho chị Thái Thị Kim D3 (vợ của T) hỏi thăm về T, được chị D3 đưa điện thoại cho T nói chuyện, S nói với T là ông S1 đã cho địa chỉ nhà của T, nên T tạm thời đi ở chỗ khác để tránh trường hợp ông S1 đưa người đến tìm. Sau đó, S nói T đến khách sạn G1 địa chỉ số B Â, Phường C, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh để ở. Trên đường đi, T điện thoại hỏi S bây giờ vụ việc này phải xử lý như thế nào, nên S điện thoại hỏi D1 về vụ việc của T. Khoảng 02 tiếng sau, S rủ D1 vào Thành phố Hồ Chí Minh để tìm hiểu và hỗ trợ T trong việc xử lý vụ việc này, D1 đồng ý.

Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 09/5/2022, S và D1 đến khách sạn G1 gặp T. T thừa nhận có chiếm đoạt của ông S1 07 bitcoin, rồi nhờ S và D1 giúp. Lúc này, T mới đề nghị cả S và D1 giúp cho T giải quyết vụ việc. Sau khi trao đổi, S và D1 đồng ý giải quyết vụ việc giúp T, nhưng yêu cầu T phải trả chi phí 4,3 bitcoin cho S và D1, T đồng ý. Lúc này, T lấy điện thoại di động đăng nhập vào tài khoản tiền điện tử của T, thực hiện thao tác chuyển 4,3 bitcoin sang ví tiền điện tử của D1 ở sàn Binance.

Đến sáng ngày 09/5/2022, S dùng điện thoại di động của D1 thực hiện 02 lệnh chuyển 1,8 bitcoin thành 50.000 USDT và bán 25.000 USDT được 535.365.705 đồng, số tiền này chuyển vào tài khoản của D1 tại Ngân hàng TMCP N (V). Sau đó, S chuyển 10.000 USDT từ ví tiền điện tử của D1 sang ví tiền điện tử của S ở sàn Binance. S thực hiện lệnh bán 10.000 USDT này được 240.000.000 đồng, rồi rút về tài khoản của S tại Ngân hàng TMCP Á (A), S chuyển số tiền này sang tài khoản của D1 tại Ngân hàng V. Nên, trong tài khoản tại Ngân hàng V của D1 có tổng số tiền 775.365.705 đồng, đồng thời trong tài khoản tiền điện tử của D1 còn khoảng 15.000 USDT và khoảng 2,5 bitcoin. S tiếp tục dùng tài khoản tiền điện tử của D1 bán 1,27 bitcoin được khoảng 45.000 USDT, cộng với 15.000 USDT còn dư, tài khoản tiền điện tử của D1 có 60.000 USDT và 1,23 bitcoin. Sau đó, S, D1 và T đến Ngân hàng V trên đường T, Quận A để D1 rút 240.000.000 đồng đưa cho T 200.000.000 đồng, còn 40.000.000 đồng, S nói D1 cất giữ để tiêu xài. Nhận tiền xong, S nói T đến nhà của S tại thôn N, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng để trốn tránh ông S1. Sau đó, T đi đến nhà của S tại tỉnh Lâm Đồng, còn S và D1 vẫn ở lại Thành phố Hồ Chí Minh. Trong ngày 09 và ngày 11/5/2022, S có sử dụng điện thoại di động của D1 để thao tác chuyển toàn bộ số tiền điện tử là 60.000 USDT và 1,23 bitcoin từ tài khoản tiền điện tử của D1 sang tài khoản tiền điện tử của S ở sàn Binance. Sau đó, S đã dùng toàn bộ số tiền điện tử này để đầu tư tiền điện tử ở sàn Binance và bị thua hết. Ngày 11/5/2022, S và D1 đến gặp T, trên đường đi S ném bỏ laptop và điện thoại di động của T xuống sông gần nhà mẹ S. Tại nhà mẹ S, khi gặp T thì S và D1 nói T đi sang Campuchia để trốn, T đồng ý. Tuy nhiên, T điện thoại cho ông S1, hẹn về Thành phố Hồ Chí Minh để thỏa thuận, giải quyết vụ việc. Trên đường T đến nhà ông S1 thì bị Phòng An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an Thành phố H đưa về trụ sở làm việc và T khai nhận hành vi nêu trên.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 544/2023/HSST ngày 22-11-2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

  1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 290; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 13 (mười ba) năm tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 21/5/2022.

  2. Căn cứ điểm a, b khoản 3 Điều 323; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái S 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày 21/5/2022.

  3. Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 323; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Công D1 10 (mười) năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/11/2022.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 24-11-2023, bị cáo Nguyễn Thái S có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 27-11-2023, bị cáo Nguyễn Công D1 có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 05-12-2023, bị cáo Phạm Văn T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 01-12-2023, bị hại Triệu Vỹ S2 có đơn kháng cáo về phần dân sự, đề nghị buộc các bị cáo hoàn trả số tiền điện tử đã chiếm giữ.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo Phạm Văn T, Nguyễn Thái S, Nguyễn Công D1 vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã quy kết.

Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn T trình bày: thời điểm chuyển từ bitcion thành tiền VNĐ đó là thời điểm hành vi phạm tội của bị cáo đã đạt và hoàn thành, bị cáo T không phải là người đã chuyển thành tiền VNĐ mà do S, D1. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo T.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Công D1 trình bày: sau khi xét xử sơ thẩm, gia đình bị cáo có cung cấp huân chương. Bị cáo D1 có thành tích xuất sắc trong công tác, bị cáo D1 chưa được hưởng những tình tiết giảm nhẹ này. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm những tình tiết giảm nhẹ này để giảm hình phạt cho bị cáo dưới mức khởi điểm.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo D1; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T với bị cáo S, không chấp kháng cáo của bị hại và sửa bản án hình sự sơ thẩm số 544/2023/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về hình thức đơn kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định nên chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

  1. Ngày 24 tháng 11 năm 2023, bị cáo Nguyễn Thái S có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
  2. Ngày 27 tháng 11 năm 2023, bị cáo Nguyễn Công D1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
  3. Ngày 05 tháng 12 năm 2023, bị cáo Phạm Văn T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
  4. Ngày 01 tháng 12 năm 2023, bị hại Triệu Vỹ S2 có đơn kháng cáo về phần dân sự, đề nghị buộc các bị cáo Nguyễn Thái S, Nguyễn Công D1 hoàn trả số tiền điện tử đã chiếm giữ.

[1] Nội dung vụ án: Sau khi đăng nhập trái phép tài khoản ví điện tử của bị hại Triệu Vĩ S1, bị cáo T đã chiếm đoạt 07 Bitcion, T đã chuyển 4,3 Bitcoin vào ví điện tử của D1 rồi S thực hiện lệnh chuyển đổi Bitcoin thành USDT, sau đó bán 35.000 USDT được số tiền 775.365.705 đồng để chuyển vào tài khoản của D1 tại ngân hàng V. Xét số tiền 775.365.705 đồng là thiệt hại thực tế có được từ việc quy đổi tiền điện tử mà bị cáo T đã chiếm đoạt của bị hại Sâm, cho nên hành vi của bị cáo T đã phạm vào tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 290 BLHS. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thới S3, Nguyễn Công D1 đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 323 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 mà cấp sơ thẩm đã xét xử là đúng người, đúng tội.

[2] Xét về phần lượng hình: Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm chế độ quản lý an ninh mạng về công nghệ thông tin được nhà nước bảo hộ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Các bị cáo đều là người thành niên và có học thức nhưng vì tư lợi mà cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử phạt các bị cáo ở mức hình phạt nghiêm mới đảm bảo tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi lượng hình, cấp sơ thẩm cũng đã xem xét vai trò của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, hoàn cảnh và nhân thân của các bị cáo như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đã bồi thường thiệt hại nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét đơn kháng cáo của các bị cáo T, S3D1: mặc dù các bị cáo đã khắc phục hậu quả cho bị hại nhưng hành vi của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, cấp sơ thẩm cũng đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo T, S3 và bị cáo D1.

Đối với kháng cáo về phần dân sự của bị hại Triệu Vỹ S2, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong vụ án này, bị cáo Phạm Văn T là người đăng nhập trái phép tài khoản ví điện tử của bị hại Sâm, chuyển thành công 7 Bicion sang ví tiền điện tử của T. Sau đó, T chuyển 4,3 Bitcion sang ví của D1 để S3 quy đổi 3,07 Bitcion thành 95.000 USDT, rồi quy đổi 35.000 USDT được 775.365.705 đồng. Số tiền điện tử còn lại gồm 1,23 Bitcion và 60.000 USDT có trong ví của D1 được S3 sang ví của S3. Sau đó, S3 sử dụng số tiền điện tử này để kinh doanh các loại tiền khác nhau nhưng đã bị thua lỗ hết. Do pháp luật Việt Nam chưa chấp nhận B1 và các loại tiền ảo tương tự khác là tiền tệ cũng như là phương tiện thanh toán hợp pháp nên đối với số Bitcion chưa thu hồi được thì không có căn cứ để xem xét buộc các bị cáo phải bồi thường cho bị hại Sâm. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại Triệu Vỹ S2.

[3] Tại phiên tòa ngày hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát cấp cao đề nghị giảm hình phạt đối với phần kháng cáo của bị cáo D1 và sửa bản án hình sự sơ thẩm số 544/2023/HS-ST ngày 22/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh không phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

  1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo: Phạm Văn T, Nguyễn Thái SNguyễn Công D1;

    Không chấp nhận kháng cáo về phần dân sự của bị hại Triệu Vĩ S1;

    Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 544/2023/HS-ST ngày 22/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

    Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”; các bị cáo Nguyễn Thái S, Nguyễn Công D1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

    + Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 290; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 50 của Bộ Luật hình sự 2015

    Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/5/2022

    + Căn cứ điểm a, b khoản 3 Điều 323; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 50, Điều 58 của Bộ Luật hình sự 2015

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái S 08 (tám) 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù được tính từ ngày 21/5/2022.

    + Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 323; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 50, Điều 58 của Bộ Luật hình sự 2015

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Công D1 10 (mười) năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù được tính từ ngày 23/11/2022.

    Tiếp tục tam giam các bị cáo để đảm bảo thi hành án.

  2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo T, SD1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Các thẩm phán

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Thanh Dũng

Phan Văn Yên

Phạm Trí Tuấn

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - TAND TP Hồ Chí Minh;
  • - Phòng thi hành án hình sự- TAND TP Hồ Chí Minh (3);
  • - VKSND TP Hồ Chí Minh;
  • - Cục THADS TP Hồ Chí Minh;
  • - Trại Tạm giam CA TP Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo (qua BGT Trại TG 3);
  • - Bị hại (theo đ/c);
  • - Lưu hồ sơ 01, HCTP 5 (DTTP 19b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Văn Yên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 342/2024/HS-PT ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 342/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm,
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger