Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 342/2023/HS-ST

Ngày: 06/12/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Thanh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Vương Đình Quang

Bà Trần Thị Oanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thuỳ Dung- Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Trần Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 353/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 368/2023/QĐXXST- HS ngày 22/11/2023 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Công M. Sinh ngày 17/9/2005 (Khi phạm tội 17 tuổi 11 tháng 12 ngày); Hộ khẩu thường trú: TDP X, phường X, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Công T, sinh năm 1980; Con bà: Đặng Thị Vân N, sinh năm 1980. Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con cả; Vợ; con: Chưa có.

Tiền án; tiền sự: không.

Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 01/9/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trạm giam số 1 – Công an thành phố H.

  1. Nguyễn Văn Đ. Sinh ngày 24/8/2005 (Khi phạm tội 18 tuổi 05 ngày); Hộ khẩu thường trú: TDP Hạnh, phường T, quận N, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Anh V, sinh năm 1972; Con bà: Nguyễn Thị Y, sinh năm 1977. Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con cả; Vợ; con: Chưa có.

Tiền án; tiền sự: không.

Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 01/9/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trạm giam số 1 – Công an thành phố H.

  1. Trần Hữu H. Sinh ngày 03/8/2006 (Khi phạm tội 17 tuổi 26 ngày); Hộ khẩu thường trú: TDP A M, phường T, quận N, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Hữu K, sinh năm 1973; Con bà: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1981. Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con út; Vợ; con: Chưa có.

Tiền án; tiền sự: không.

Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 01/9/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trạm giam số 1 – Công an thành phố H.

  1. Phạm Hữu T2. Sinh ngày 12/12/2005 (Khi phạm tội 17 tuổi 8 tháng 17 ngày); Hộ khẩu thường trú: Thôn V, H, N, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Hữu T3, sinh năm 1979; Con bà: Trịnh Thị P, sinh năm 1978. Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con cả; Vợ; con: Chưa có.

Tiền án; tiền sự: không.

Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 01/9/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trạm giam số 1 – Công an thành phố H.

  1. Nguyễn Văn Quang H1. Sinh ngày 16/3/2007 (Khi phạm tội 16 tuổi 05 tháng 13 ngày); Hộ khẩu thường trú: TDP C M, phường T, quận N, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn An V1, sinh năm 1972; Con bà: Nguyễn Thị T4, sinh năm 1978. Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con cả; Vợ; con: Chưa có.

Tiền án; tiền sự: không.

Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 01/9/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trạm giam số 1 – Công an thành phố H.

  1. Nguyễn Chí Huy A. Sinh ngày 03/10/2006 (Khi phạm tội 16 tuổi 10 tháng 26 ngày); Hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Chí K1, sinh năm 1986; Con bà: Nguyễn Thị X, sinh năm 1988. Bị cáo là con duy nhất; Vợ; con: Chưa có.

Tiền án; tiền sự: không.

Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 01/9/2023. Đến ngày 10/11/2023 huỷ tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

  1. Nguyễn Nam D. Sinh ngày 10/4/2007 (Khi phạm tội 16 tuổi 04 tháng 19 ngày); Hộ khẩu thường trú: Â, Hồng Q, Â, Hưng Yên; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Quang Đ1, sinh năm 1987; Con bà: Phạm Thị H2, sinh năm 1988. Bị cáo có 02 anh em. Bị cáo là con cả; Vợ; con: Chưa có.

Tiền án; tiền sự: không

Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 01/9/2023 .Hiện đang bị tạm giam tại Trạm giam số 1 – Công an thành phố H.

Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa.

Người giám hộ của các bị cáo:

  • + Bà Đặng Thị Vân N, sinh năm 1980 và ông Nguyễn Công T, sinh 1980. HKTT: TDP X, phường X, quận B, thành phố Hà Nội – Là mẹ đẻ của bị cáo Nguyễn Công M (Vắng mặt).
  • + Ông Phạm Hữu T3, sinh năm 1979. HKTT: Thôn V, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương - Bố đẻ của bị cáo Phạm Hữu T2 (Có mặt).
  • + Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1981. HKTT: TDP A M, phường T, quận N, thành phố Hà Nội – Mẹ đẻ của bị cáo Trần Hữu H (Có mặt).
  • + Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1978. HKTT: TDP C M, phường T, quận N, thành phố Hà Nội – Mẹ đẻ của bị cáo Nguyễn Văn Quang H1 (Có mặt).
  • + Ông Trần Trí T5, sinh năm 1961. HKTT: Thôn Đ, xã A, huyện H, Hà Nội – Ông nội của bị cáo Nguyễn Chí Huy A (Có mặt).
  • + Bà Phạm Thị H2, sinh năm 1988. HKTT: Thôn Â, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên – Mẹ đẻ của bị cáo Nguyễn Nam D (Có mặt).

Người bào chữa cho các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  • + Bà Nguyễn Thị N1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H – chi nhánh S. Địa chỉ: Số B, ngõ A đường L, quận N, thành phố Hà Nội – Người bào chữa cho các bị cáo Phạm Hữu T2, Trần Hữu H.
  • + Ông Nguyễn Quang Á – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H – chi nhánh S. Địa chỉ: Số B, ngõ A đường L, quận N, thành phố Hà Nội - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Quang H1, Nguyễn Chí Huy A, và Nguyễn Nam D.

Bị hại: Anh Hoàng Văn V2, sinh năm 1991. HKTT: xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ. (Bị hại có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 29/8/2023, Nguyễn Công M, Nguyễn Văn Đ, Phạm Hữu T2, Nguyễn Chí Huy A, Trần Hữu H, Nguyễn Nam D, Nguyễn Văn Quang H1, Nguyễn Long V3 (31/8/2007; HKTT: xã Q, L, Bắc Giang), Nguyễn Minh Q1, sinh ngày: 12/7/2008; HKTT: Sơn Đà, B, Hà Nội) và Nguyễn Quang H1, sinh ngày: 19/4/2008; HKTT: TỔ B M, T, N, Hà Nội cùng nhau đi ăn sinh nhật Nguyễn Long V3 tại khu vực gần công viên T B, thuộc xã A, H, Hà Nội. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Long V3 rủ cả nhóm đi xe máy lượn đường thì tất cả đều đồng ý. Trên đường đi, Nguyễn Công M nói “anh em về lấy đồ đi diễu đi” và hẹn cả nhóm sau khi lấy đồ xong sẽ quay lại tập kết ở khu vực biệt thự đang xây dựng, đối diện vườn Nhật Bản của khu đô thị V, T, N, Hà Nội tập trung thì cả nhóm đều hiểu “đồ” là hung khí, dao, kiếm nên đồng ý. V3 nói với Huy A và N “Hai chúng mày về lấy đinh ba đi” thì Huy AN đi về nhà của Huy Athôn Đ, xã A, H, Hà Nội lấy một ống tuýp sắt dài khoảng 03 mét có hàn 03 mũi nhọn (gọi là đinh ba) do Huy A tự chế từ trước đó rồi quay lại địa điểm tập kết. Trên đường đi, D nhặt thêm 01 két chứa 20 vỏ chai thủy tinh đã qua sử dụng ở bãi rác ven đường N lên xe. Trong khi đó, Q1Đ về nhà Q1ngõ A, đường H, phường Đ, N, Hà Nội lấy 01 gậy gắn dao phóng lợn (do Q1 tự chế từ trước) và 01 thanh kiếm katana dài khoảng 80cm (do cả nhóm nhặt được của một nhóm thanh niên khác đánh rơi trên đường và cất ở nhà Q1). Những người còn thì lại quay về quán internet “Boss Game” trên đường Q, phường Đ, N, Hà Nội để tháo biển kiểm soát xe máy và lấy khẩu trang (mục đích để tránh lực lượng chức năng phát hiện) rồi di chuyển đến khu vực biệt thự đang xây dựng, đối diện vườn Nhật Bản của khu đô thị V, T, N, Hà Nội tập trung như đã hẹn. Khoảng 20 phút sau thì Huy A, N, Q1Đ mang hung khí đến tập trung cùng nhóm. Tại đây, nhóm nhặt thêm được 01 gậy tuýp kim loại dài khoảng 1,5 mét bị vứt bỏ ở khu vực này.

Cả nhóm sau đó chia nhau hung khí, tháo biển kiểm soát của các xe máy

còn lại và chia nhau ngồi trên các xe máy như sau:

  • - Xe thứ nhất: Phạm Hữu T2 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen có số khung: RLHJA3923PY730424, số máy: JA39E-3159929 (xe chưa đăng ký nên chưa có biển kiểm soát) chở Nguyễn Long V3 ngồi sau cầm thanh kiếm katana.
  • - Xe thứ hai: Trần Hữu H điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS: 29L1-896.07, số khung: RLHJA3928NY722736, số máy: JA39E2904710 chở Nguyễn Công M ngồi sau cầm gậy đinh ba.
  • - Xe thứ ba: Nguyễn Chí H3 Anh điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng (xe đã tháo biển kiểm soát, không rõ số khung, số máy) chở Nguyễn Nam D ngồi sau cầm gậy tuýp sắt.
  • - Xe thứ tư: Nguyễn Quang H1 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng (xe đã tháo biển kiểm soát, không rõ số khung. số máy) chở Nguyễn Minh Q1 ngồi sau cầm gậy gắn dao phóng lợn.
  • - Xe thứ năm: Nguyễn Văn Quang H1 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng BKS: 29L1-899.21, số khung: RLHJA3926NY475605, số máy: JA39E2914289 (xe đã tháo biển kiểm soát) chở Nguyễn Văn Đ ngồi sau cầm két vỏ chai thuỷ tinh.

Sau đó cả nhóm di chuyển từ khu vực biệt thự đang xây dựng của khu đô thị V đi ra đường gom Đại lộ T hướng về Sân vận động M2. Nguyễn Công M cầm đinh ba ngồi sau xe máy do Trần Hữu H cầm lái dẫn đầu. Trên đường đi, cả nhóm đều bịt khẩu trang, không đội mũ bảo hiểm, phóng xe với tốc độ cao, dàn hàng ngang, đánh võng và hò hét, chửi bới. D ngồi sau cầm gậy tuýp sắt, Q1 ngồi sau cầm gậy gắn dao phóng lợn, Công M ngồi sau cầm đinh ba quẹt, lê xuống đường tạo ra tia lửa. Còn Đ cầm két chai thuỷ tinh đưa 01 vỏ chai cho Huy A, 02 vỏ chai cho Q1, 02 vỏ chai cho D. Sau đó, Đ, Huy A, Q1D ném những vỏ chai thuỷ tinh xuống đường hoặc tung lên trời cho vỏ chai rơi xuống đường vỡ ra tạo tiếng động lớn. Cả nhóm thực hiện những hành vi trên đi qua địa phận của các phường T, P, Mễ T6, N, Hà Nội với mục đích để gây rối, dọa người đi đường hoặc gặp không thích ai thì đuổi theo gây sự, doạ dẫm hoặc đánh để người đó sợ. Khoảng 0 giờ 30 phút ngày 30/8/2023, khi cả nhóm đi đến gần khu vực quảng trường sân vận động M2 (đối diện cổng làng P) thì xe máy của Huy AD bị tắt máy nên dừng lại còn các đối tượng khác vẫn tiếp tục đi. Khoảng 15 phút sau thì xe của Huy A và Dương nổ được máy nhưng do không theo kịp đoàn nên Huy A và Dương đi về quán internet “Boss Game” để chơi điện tử. Trên đường về quán

Internet, D đã vứt gậy tuýp sắt ở dọc đường (không rõ vị trí cụ thể, không thu giữ được).

Nhóm còn lại gồm Phạm Hữu T2, Nguyễn Long V3, Trần Hữu H, Nguyễn Công M, Nguyễn Quang H1, Nguyễn Minh Q1. Nguyễn Văn Quang H1, Nguyễn Văn Đ đi đến đoạn đường L giao đường gom Đại Lộ T, thuộc phường M, N, Hà Nội thì gặp anh Hoàng Văn V4 (Sinh năm: 1991; HKTT: M, Y, Phú Thọ) điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 19H1- 336.27 đang lưu thông cùng chiều trên đường. M thấy xe anh V4 nháy đèn xi nhan thì không thích nên bảo H “lao lên đuổi theo" thì H phóng xe máy vượt lên chặn đầu xe của anh V4. M ngồi sau xe giơ gậy đinh ba lên doạ khiến anh V4 sợ hãi dừng xe lại. Sau đó, M dùng gậy đinh ba đâm 01 cái theo phương ngang từ sau ra trước về phía anh V4. Khi anh V4 giơ tay phải lên đỡ thì bị đầu đinh ba đâm trúng vào vùng mặt sau trên khuỷu tay phải. Ngay sau đó, Phạm Hữu T2 điều khiển xe chở Nguyễn Long V3, Nguyễn Quang H1 điều khiển xe chở Nguyễn Minh Q1, Nguyễn Văn Quang H1 điều khiển xe chở Nguyễn Văn Đ đi đến. V3 cầm kiếm bằng tay phải, phần đầu mũi kiếm quay ngược về phía sau dọc cánh tay, phần lưỡi kiếm quay vào trong cánh tay rồi dùng phần lưng kiếm đánh 01 cái vào vùng lưng của anh V4 theo phương ngang, chiều từ phải sang trái, từ sau ra trước. Q1 tay phải cầm gậy tuýp sắt (là chiếc gậy gắn dao phóng lợn đã bị rơi mất lưỡi dao phóng lợn do khi đi trên đường mài xuống đất, chỉ còn gậy tuýp sắt) vụt 01 cái vào vùng lưng của anh V4 theo phương ngang rồi tiếp tục vụt 01 cái trúng vào mũ bảo hiểm của anh V4 đang đội trên đầu theo phương thẳng đứng, chiều từ trên xuống dưới và 01 cái vào sườn anh V4 theo phương ngang. Đ xuống xe dùng tay phải đấm nhiều cái vào vùng ngực anh V4 khiến anh V4 ngã xuống đường còn xe máy của anh V4 bị đổ và rút chìa khoá xe của anh V4 ném đi (không nhớ vị trí vứt chìa khóa). Thấy anh V4 ngã ra đường, H1 xuống xe dùng chân phải đạp nhiều cái vào vùng đầu anh V4. Lúc này, anh Nguyễn Hán M1 (Sinh ngày: 19/4/2005; HKTT: Phượng Vỹ, C, Phú Thọ) chở anh Hoàng Anh T7 (Sinh ngày: 02/01/2008; HKTT: Đồng Và, M, Phú Thọ - là cháu của anh V4) đi trước anh V4 một đoạn thấy vậy thì quay lại đến chỗ anh V4 để can nhóm của M và nói “em xin các anh chú em có tí rượu các anh bỏ qua” nên nhóm của M không đánh nữa và lên xe máy bỏ đi. Cả nhóm vòng lại rẽ vào đường C rồi rẽ phải vào Đại lộ T đi về khu đô thị V để cất két vỏ chai thuỷ tinh (còn 10 vỏ chai) và gậy gắn dao phóng lợn (đã bị mất lưỡi dao) vào biệt thự đang xây dựng. Sau đó, Phạm Hữu T2 đi xe máy về nhà trước, Nguyễn Long V3 sang H chở. Nguyễn Văn Quang H1, Nguyễn Quang H1, Trần Hữu H, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Minh Q1, Nguyễn Long V3, Nguyễn Công M đi xe máy về nhà Nguyễn Minh Q1ngõ A đường H, Đ để cất 01 gậy đinh ba và 01 kiếm katana, sau đó Q1 ở luôn ở nhà. Những người còn lại đi xe máy về quán B để chơi game.

Sau khi nhóm của Công M bỏ đi, anh Hoàng Anh T7 gọi người nhà đến. Anh Tú và anh M1 định đưa anh Hoàng Văn V4 đi cấp cứu nhưng anh V4 bị mất chìa khóa xe máy nên anh V4, anh T7 và anh M1 cùng đứng chờ người nhà đến đón. Khoảng 15 phút sau thì có một nhóm đối tượng khác (chưa rõ nhân thân) với khoảng 15 người đi trên khoảng 10 xe máy, nhiều người ngồi sau cầm tuýp sắt gắn dao phóng lợn vừa chửi bới vừa phóng xe đến chỗ nhóm anh V4. Thấy vậy, anh V4, anh M1, anh T7 bỏ chạy. Anh Tú bỏ chạy được khoảng 10 mét thì vấp ngã nên bị nhóm thanh niên giữ lại và nghe có thanh niên nói “thằng nào vừa chửi tao” ròi bị 01 nam thanh niên cầm gậy gắn dao phóng lợn giơ lên chém 02 cái theo phương thẳng đứng, hướng từ trên xuống dưới trúng vào đầu gối bên phải của anh T7. Cùng lúc đó, có 01 nam thanh niên khác dùng cây gậy đinh ba đâm vào chân trái anh T7 02 nhát. Anh V4 thấy anh T7 bị đánh thì đứng lên hô “tao ở đây này, đuổi tao đi” mục đích là để nhóm thanh niên kia không đánh anh T7 nữa. Nhóm thanh niên nghe thấy vậy nên đuổi theo anh V4. Trong lúc chạy, anh V4 tự ngã ra đường thì bị 01 thanh niên dùng một chiếc gậy dài kiểu dáng gậy gắn dao phóng lợn chọc 01 cái vào cẳng tay trái anh V4. Sau đó, một vài nam thanh niên dùng chân đá anh V4 một vài phát trúng vào vùng đầu và người anh V4 khiến anh V4 ngất xỉu.

Anh Nguyễn Hán M1 bỏ chạy thì bị 02 nam thanh niên đi trên 01 xe máy đuổi kịp rồi đạp vào lưng anh M1 01 cái nên anh M1 bị lao vào tấm tôn quây ở ven đường. Anh M1 quay lại thấy có 01 nam thanh niên cầm gậy gắn dao phóng lợn giơ lên về phía anh M1. Thấy vậy, anh M1 bỏ chạy vào trong bãi đất trống trên đường L thì không thấy ai đuổi theo anh M1 nữa. Khi anh M1 tiếp tục chạy vào trong bãi đất thì bị trượt chân ngã ngửa ra sau rồi đầu đập xuống đất bất tỉnh. Sau đó, anh M1 được anh Vũ Văn T8 (Sinh năm: 1998; HKTT: xóm Đ, Đ, N, Hà Nội – lái xe ôm) phát hiện và đưa vào bệnh viện H5 cấp cứu. Còn anh V4 và anh T7 được người nhà đến đón đưa đi cấp cứu.

Ngày 01/9/2023, nhận thức hành vi vi phạm pháp luật của bản thân, Nguyễn Công M, Nguyễn Văn Đ, Trần Hữu H, Phạm Hữu T2, Nguyễn Văn Quang H1, Nguyễn Chí Huy ANguyễn Nam D đã đến cơ quan công an quận N đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

* Vật chứng thu giữ:

  • - Thu giữ của Nguyễn Minh Q1: 01 ống tuýp sắt dài khoảng 03 mét có hàn 3 mũi nhọn (đinh ba); 01 ống tuýp sắt dài khoảng 1,5 mét có hàn dao bầu (phóng lợn); 01 thanh kiếm dài khoảng 80cm (kiếm Nhật Katana);
  • - Thu giữ của Nguyễn Văn Đ: 01 két đựng bên trong có 10 vỏ chai thủy tinh đã qua sử dụng;

Do thương tích nhẹ nên anh Nguyễn Hán M1 từ chối giám định thương tích, không có yêu cầu bồi thường dân sự, không có đề nghị gì khác. Anh Hoàng Văn V4 và anh Hoàng Anh T7 đề nghị xử lý các đối tượng có hành vi gây thương tích cho anh V4 và anh T7 theo quy định của pháp luật. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với của anh V4 và anh T7.

Tại biên bản thương tích ban đầu đối với anh Hoàng Văn V4 xác định: vết thương khuỷu tay phải 3cm và cẳng tay trái 5cm, sưng nề, trầy xước nhiều vùng, đau vùng thắt lưng, cổ và gáy, chấn thương phần mềm nhiều vùng cơ thể.

- Kết luận giám định số 1368/KLTTCT-TTPY ngày 27/9/2023 của Trung tâm P, kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Hoàng Văn V4 như sau:

  • + Sẹo vết thương 1/3 giữa cẳng tay trái: 02%
  • + Sẹo vết thương mặt sau trên khuỷu tay phải: 02%

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Hoàng Văn V4 là 04%

Cơ chế hình thành thương tích: Do vật có cạnh sắc gây nên.

- Kết luận giám định số 1364/KLTTCT-TTPY ngày 27/9/2023 của Trung tâm P, kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Hoàng Anh T7 như sau:

  • + Sẹo vết rách da nông mặt trước cổ tay trái: 01%
  • + Ba sẹo rách da nông mặt trước gối phải: 2,97%
  • + Sẹo sây sát da mặt trước ngoài gối trái: 01%
  • + Các vết biến đổi sắc tố da rải rác cẳng chân hai bên, cánh tay phải: 01%

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Hoàng Anh T7 là 06%.

Cơ chế hình thành thương tích: Do vật tày có cạnh, vật có cạnh tương đối sắc gây nên.

Căn cứ vào lời khai của bị hại, của các đối tượng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xác định thương tích mặt sau trên khuỷu tay phải của anh V4 là do Phạm Hữu T2, Nguyễn Quang H1, Nguyễn Minh Q1, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn Quang H1, Trần Hữu H gây ra.

Đối với thương tích còn lại của anh Hoàng Văn V4 và anh Hoàng Anh T7 quá trình điều tra anh V4 và anh T7 đều khai báo do nhóm đối tượng khác gây ra nên ngày 30/10/2023, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số 19 ngày 30/10/2023 đối với hành vi của các đối tượng đã gây thương tích cho anh V4 và anh T7 để tiếp tục xác minh, điều tra.

Ngày 06/9/2023, ngày 08/9/2023, Ủy ban nhân dân các phường T, phường P, phường M thuộc quận N có công văn về việc: đề nghị xử lý nghiêm đối với 10 đối tượng đi trên 5 xe máy (quá trình điều tra xác định là nhóm đối tượng gồm Nguyễn Công M, Nguyễn Văn Đ, Phạm Hữu T2, Nguyễn Chí Huy A, Trần Hữu H, Nguyễn Nam D, Nguyễn Văn Quang H1, Nguyễn Long V3, Nguyễn Minh Q1Nguyễn Quang H1) với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng đi trên các tuyền đường thuộc địa bàn phường M vào ngày 30/8/2023, cầm theo hung khí lê quẹt xuống đường gây rối, gây mất trật tự công cộng, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân.

Đối với Nguyễn Quang H1, Nguyễn Minh Q1, Nguyễn Long V3, do khi thực hiện hành vi phạm tội đều trong độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi (cụ thể H1: 15 tuổi 04 tháng 10 ngày; Q1: 15 tuổi 01 tháng 17 ngày; V3: 15 tuổi 11 tháng 29 ngày) nên Công an quận N đã ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng này về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” và “Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ...có khả năng gây sát thương” quy định tại điểm a, b khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Hình thức phạt: Cảnh cáo.

- Về dân sự: Anh Hoàng Văn V2 yêu cầu bồi thường số tiền 30.000.000 đồng.

- Phùng Việt H4 yêu cầu Lê Tuấn A1 bồi thường thiệt hại số tiền 30.000.000 đồng bao gồm tiền tổn tại sức khỏe, tinh thần.

Bản cáo trạng số 344/CT-VKS ngày 14/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố các bị cáo Nguyễn Công M, Nguyễn Nam D, Nguyễn Chí Huy A, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn Quang H1, Phạm Hữu T2Trần Hữu H, về tội: Gây rối trật tự công cộng, quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự;

Nguyễn Công M, Nguyễn Văn Đ, Phạm Hữu T2, Trần Hữu HNguyễn Văn Quang H1 về tội: Cố ý gây thương tích, quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ

luật Hình sự;

Tại phiên tòa: Các bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và gia đình các bị cáo Nguyễn Công M, Nguyễn Văn Đ, Phạm Hữu T2, Trần Hữu HNguyễn Văn Quang H1 đã bồi thường dân sự cho anh V2. Anh V2 đã có đơn rút yêu cầu điều tra, xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” đối với các bị cáo trên và không có yêu cầu về dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm trong phần luận tội căn cứ khoản 2 Điều 155; điểm a khoản 1 Điều 282 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị HĐXX đình chỉ vụ án đối với các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Công M, Trần Hữu H, Phạm Hữu T2, Nguyễn Văn Quang H1 về tội “ Cố ý gây thương tích theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự; giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội: Gây rối trật tự công cộng, quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Áp dụng: điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt Nguyễn Văn Đ từ 28 tháng đến 32 tháng tù.
  • + Áp dụng: điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt Nguyễn Công M từ 24 tháng đến 27 tháng tù.
  • + Áp dụng: điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt Trần Hữu H từ 24 tháng đến 27 tháng tù.
  • + Áp dụng: điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt Phạm Hữu T2 từ 24 tháng đến 27 tháng tù.
  • + Áp dụng: điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt Nguyễn Văn Quang H1 từ 24 tháng đến 27 tháng tù.
  • + Áp dụng: điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 65 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Chí H3 Anh từ 24 tháng đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 54 tháng.

Giao bị cáo cho UBND xã A, huyện H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

  • + Áp dụng: điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 65 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Nam D từ 24 tháng đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 54 tháng.

Giao bị cáo cho UBND xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Về dân sự: Bị hại không có yêu cầu về dân sự nên không đề cập.

Xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • + Tịch thu tiêu hủy:
  • - 01 ống tuýp sắt dài khoảng 03 mét có hàn 3 mũi nhọn (đinh ba);
  • - 01 ống tuýp sắt dài khoảng 1,5 mét có hàn dao bầu (phóng lợn);
  • - 01 thanh kiếm dài khoảng 80 cm (kiếm N).
  • - 01 két đựng bên trong có 10 vỏ chai thủy tinh đã qua sử dụng.

Áp dụng Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho các bị cáo Phạm Hữu T2, Trần Hữu H - bà Nguyễn Thị N1 trình bày quan điểm:

Về phần tội danh:

Nhận thấy tội danh: “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b Khoản 2 Điều 318 BLHS và tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 BLHS là có căn cứ:

Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị hại Hoàng Văn V4 đã có đơn rút toàn bộ yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử đối với bị cáo Phạm Hữu T2, Trần Hữu H về tội “Cố ý gây thương tích” do vậy, tôi đề nghị HĐXX xem xét đình chỉ đối với các bị cáo Phạm Hữu T2, Trần Hữu H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i, khoản 1, Điều 134 BLHS.

Về phần hình phạt:

Tôi đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo Phạm Hữu T2, Trần Hữu H bởi vì các lý do sau đây:

Thứ nhất: Các bị cáo khi phạm tội cả hai bị cáo đều là người chưa thành niên, bị cáo Phạm Hữu T2 mới 17 tuổi 08 tháng 17 ngày, bị cáo Trần Hữu H mới 17 tuổi 26 ngày, cộng với trình độ văn hóa thấp nên khả năng nhận thức và hiểu biết pháp luật còn rất nhiều hạn chế. Các bị cáo đang ở lứa tuổi chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, còn nhiều bồng bột nhất thời, dễ a dua theo nhau nên đã dẫn tới thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ hay phân công phân nhiệm vụ. Quá trình làm việc tại các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như được người bào chữa tư vấn giải thích pháp luật, các bị cáo đã hoàn toàn nhận thức được tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả mà hành vi do mình gây ra.

Thứ hai: Tại phiên tòa ngày hôm nay cũng như trong toàn bộ hồ sơ vụ án, các bị cáo Phạm Hữu T2Trần Hữu H đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, đều phạm tội lần đầu,thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và mong muốn được sửa chữa sai lầm cũng như nhận được sự khoan hồng của pháp luật.

Đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo Phạm Hữu T2, Trần Hữu H được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS; Các bị cáo đều ra đầu thú, do vậy, tôi đề nghị HĐXX cho các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ ở Khoản 2 Điều 51 BLHS.

Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Nam D, Nguyễn Chí Huy A, Nguyễn Văn Quang H1 – ông Nguyễn Quang Á trình bày quan điểm:

Về phần tội danh:

Nhận thấy tội danh: “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b, Khoản 2, Điều 318 BLHS và tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Văn Quang H1 và tội danh “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b, Khoản 2, Điều 318 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Nam DNguyễn Chí H3 Anh là có căn cứ.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị hại Hoàng Văn V4 đã có đơn rút toàn bộ yêu cầu đối với bị cáo Nguyễn Văn Quang H1 về tội “Cố ý gây thương tích” do vậy, tôi đề nghị HĐXX xem xét đình chỉ điều tra, truy tố, xét xử đối với bị cáo Nguyễn Văn Quang H1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i Điều 134 BLHS.

Về phần hình phạt:

Tôi đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo trên bởi vì các lý do sau đây:

Thứ nhất: Các bị cáo khi phạm tội đều là người chưa thành niên, bị cáo Nguyễn Chí H3 Anh mới 16 tuổi 10 tháng 26 ngày; bị cáo Nguyễn Nam D mới 16 tuổi 04 tháng 19 ngày; bị cáo Nguyễn Văn Quang H1 mới 16 tuổi 05 tháng 13 ngày. Do tuổi đời còn trẻ nên hiểu về biết pháp luật còn rất nhiều hạn chế. Các bị cáo đang ở lứa tuổi chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, còn nhiều bồng bột nhất thời, dễ a dua theo nhau nên đã dẫn tới thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ hay phân công phân nhiệm vụ. Quá trình làm việc tại các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như được người bào chữa tư vấn giải thích pháp luật, các bị cáo đã hoàn toàn nhận thức được tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả mà hành vi do mình gây ra.

Thứ hai: Tại phiên tòa ngày hôm nay cũng như trong toàn bộ hồ sơ vụ án, các bị cáo Nguyễn Văn Quang H1, Nguyễn Chí Huy ANguyễn Nam D đều có

nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, đều phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và mong muốn được sửa chữa sai lầm cũng như nhận được sự khoan hồng của pháp luật.

Nên đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo Nguyễn Văn Quang H1, Nguyễn Chí Huy ANguyễn Nam D được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS; Các bị cáo đều ra đầu thú, do vậy, tôi đề nghị HĐXX cho các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ ở Khoản 2 Điều 51 BLHS, đề nghị cho bị cáo Huy A và bị cáo D được cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục răn đe các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đều đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm về đoàn tụ với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 29/8/2023, Nguyễn Công M khởi xướng để Nguyễn Văn Đ, Trần Hữu H, Phạm Hữu T2, Nguyễn Văn Quang H1, Nguyễn Chí Huy A, Nguyễn Nam D chuẩn bị hung khí để đi diễu ngoài đường gây rối. Sau đó, cả nhóm mang hung khí tập hợp tại khu vực biệt thự đối diện vườn Nhật Bản khu đô thị V, N, Hà Nội. Sau khi tháo biển kiểm soát xe máy, đeo khẩu trang và chia hung khí, cả nhóm đi trên 5 xe máy đi ra đường gom Đại lộ T hướng về Sân vận động M2. Khi đi, cả nhóm không đội mũ bảo hiểm, phóng xe với tốc độ cao, dàn hàng ngang, đánh võng. Dương cầm gậy tuýp sắt, Q1 cầm gậy gắn dao phóng lợn, Công M cầm đinh ba quẹt, lê xuống đường tạo ra tia lửa. Còn Đ cầm két chai thuỷ tinh chia cho Huy A, Q1, D để ném xuống đường tạo tiếng động lớn. Khi đi đến khu vực gần quảng trường sân vận động M3 (đối diện cổng làng P), xe của Huy AD bị hỏng nên Huy A và Dương đi về

quán internet “Boss Game” để chơi điện tử, những người còn lại tiếp tục di chuyển. Khoảng 0 giờ 30 phút ngày 30/8/2023, khi đi đến đoạn đường L giao đường gom Đại Lộ T, thuộc phường M, N, Hà Nội, mặc dù không có mâu thuẫn, Nguyễn Công M,Nguyễn Văn Đ, Trần Hữu H, Phạm Hữu T2Nguyễn Văn Quang H1 đã có hành vi dùng gậy đinh ba, kiếm, gậy tuýp sắt, tay chân không đâm, đánh gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2% cho anh Hoàng Văn V4. Anh V4 có đơn yêu cầu xử lý các đối tượng đã gây thương tích cho anh V2 và yêu cầu bồi thường dân sự số tiền 30.000.000 đồng.

Tại thời điểm phạm tội, các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự do vậy, hành vi của các bị cáo Nguyễn Công M, Nguyễn Văn Đ, Trần Hữu H, Phạm Hữu T2Nguyễn Văn Quang H1 đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung là “Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hiểm cho nhiều người” và “Có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố các bị cáo theo tội danh và viện dẫn áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Công M, Nguyễn Văn Đ, Trần Hữu H, Phạm Hữu T2, Nguyễn Văn Quang H1, Nguyễn Chí Huy A, Nguyễn Nam D đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng”, với tình tiết định khung là “Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách”. Viện kiểm sát truy tố các bị cáo theo khoản 2 Điều 318 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa xét xử vụ án, anh Hoàng Văn V4 có đơn xin rút yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử đối với các bị cáo: Nguyễn Công M, Nguyễn Văn Đ, Phạm Hữu T2, Trần Hữu H, Nguyễn Văn Quang H1 về tội “Cố ý gây thương tích”. Đối với đơn yêu cầu rút đơn điều tra, truy tố, xét xử của anh V4, HĐXX xét thấy cần đình chỉ việc điều tra, truy tố, xét xử về tội danh này đối với các bị cáo Nguyễn Công M, Nguyễn Văn Đ,Phạm Hữu T2,Trần Hữu H, Nguyễn Văn Quang H1 theokhoản 2 Điều 155; điểm a khoản 1 Điều 282 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà:

Tất cả các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình gây ra. Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, sau khi phạm tội các bị cáo đều đầu thú. Bị cáo Nguyễn Văn Quang H1 có nội là người có

công với cách mạng, nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội nên cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Đối với các bị cáo Nguyễn Công M, Nguyễn Văn Đ, Trần Hữu H, Phạm Hữu T2Nguyễn Văn Quang H1 đã gây thương tích cho anh V4 là 2 %. Ngoài ra các bị cáo Nguyễn Công M, Nguyễn Văn Đ, Trần Hữu H, Phạm Hữu T2, Nguyễn Văn Quang H1, Nguyễn Chí Huy A, Nguyễn Nam D còn có hành vi điều khiển xe máy không đội mũ bảo hiểm, phóng xe với tốc độ cao, dàn hàng ngang, đánh võng, hò hét, chửi bới, cầm đinh ba quẹt, lê xuống đường tạo ra tia lửa, dùng những vỏ chai thủy tinh ném xuống đường gây ra những tiếng động lớn. Các bị cáo đã đi qua địa phận của các phường T, P, M thuộc quận N, Hà Nội với mục đích để gây rối, dọa người đi đường. Do vậy các bị cáo phải có hình phạt tương xứng đối với hành vi của các bị cáo gây ra. Cần thiết phải cách ly các bị cáo Nguyễn Công M, Nguyễn Văn Đ, Trần Hữu H, Phạm Hữu T2Nguyễn Văn Quang H1 ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ giáo dục các bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.

Xét vai trò đối với các bị cáo, HĐXX thấy rằng. Các bị cáo là đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên bị cáo Nguyễn Công M là người khởi xướng nên bị cáo có vai trò đầu vụ trong vụ án. Các bị cáo khác có mức án tương ứng với hành vi của các bị cáo gây ra. Do vậy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ điều kiện giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Đối với các bị cáo Nguyễn Chí Huy A và bị cáo Nguyễn Nam D, các bị cáo đều có nhân thân tốt, đều chưa có tiền án tiền sự, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, sau khi phạm tội các bị cáo đều đầu thú. Ông nội bị cáo Nguyễn Chí H3 Anh là người có công với cách mạng, gia đình bị cáo Huy A tự nguyện khắc phục bồi thường cho anh V4 số tiền là 5.000.000 đồng. Do vậy các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b (H), điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51. Do vậy không nhất thiết phải cách ly hai bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho hai bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục các bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Anh V2 đã nhận đủ tiền bồi thường và không có yêu cầu gì về dân sự nên HĐXX không xét xét. Ghi nhận gia đình bị cáo Nguyễn Chí Huy A tự nguyện bồi thường số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) cho anh V4.

[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Cần Tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 ống tuýp sắt dài khoảng 03 mét có hàn 3 mũi nhọn (đinh ba);
  • - 01 ống tuýp sắt dài khoảng 1,5 mét có hàn dao bầu (phóng lợn);
  • - 01 thanh kiếm dài khoảng 80 cm (kiếm N);
  • - 01 két đựng bên trong có 10 vỏ chai thủy tinh đã qua sử dụng.

[9] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự và án phí dân sự theo quy định tại Điều 21, 23, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Công M, Nguyễn Nam D, Nguyễn Chí Huy A, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn Quang H1, Phạm Hữu T2 và Trần Hữu H, về tội: Gây rối trật tự công cộng.

  • + Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 BLHS: xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2023.
  • + Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101, Điều 38 BLHS: xử phạt bị cáo Nguyễn Công M 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2023.
  • + Áp dụng: điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 38 BLHS: xử phạt bị cáo Trần Hữu H 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2023.
  • + Áp dụng: điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 38 BLHS: xử phạt bị cáo Phạm Hữu T2 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2023.
  • + Áp dụng: điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 38 BLHS: xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Quang H1 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2023.
  • + Áp dụng: điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 65 BLHS: xử phạt bị cáo Nguyễn Chí H3 Anh 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho UBND xã A, huyện H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

  • + Áp dụng: điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 65 BLHS: xử phạt bị cáo Nguyễn Nam D 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án.

Trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo Nguyễn Nam D đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về một tội nào khác.

Giao bị cáo cho UBND xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành án phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  • + Áp dụng: khoản 2 Điều 155; điểm a, khoản 1, Điều 282 Bộ luật tố tụng hình sự: Đình chỉ vụ án đối với các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Công M, Trần Hữu H, Phạm Hữu T2, Nguyễn Văn Quang H1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i, khoản 1, Điều 134 Bộ luật hình sự.

2. Về dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.

Ghi nhận bị cáo Nguyễn Chí H3 Anh bồi thường cho anh Hoàng Văn V4 số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0009194 ngày 05/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Anh Hoàng Văn V4 được nhận lại số tiền 5.000.000 đồng nêu trên.

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 ống tuýp sắt dài khoảng 03 mét có hàn 3 mũi nhọn (đinh ba);
  • - 01 ống tuýp sắt dài khoảng 1,5 mét có hàn dao bầu (phóng lợn);
  • - 01 thanh kiếm dài khoảng 80 cm (kiếm N);

- 01 két đựng bên trong có 10 vỏ chai thủy tinh đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 82 ngày 05/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm)

4. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án :

Các bị cáo Nguyễn Công M, Nguyễn Nam D, Nguyễn Chí Huy A, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn Quang H1, Phạm Hữu T2Trần Hữu H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Các bị cáo, bị hại, người bào chữa cho các bị cáo, người giám hộ cho các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người giám hộ cho bị cáo Nguyễn Công M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phan Thị Kim Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 342/2023/HS-ST ngày 06/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự về tội gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 342/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Công Minh và đồng phạm bị xét xử về tội Gây rối trật tự công cộng, Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318, điểm a, i khoản 1 Điều 134 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger