TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 342/2025/DSST Ngày: 27/6/2025 V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân.
- 1. Ông Võ Thành Viên
- 2. Bà Châu Thị Lệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thảo Nguyên là Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Duy Bảo Chinh- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1541/2024/TLST-DS ngày 31 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 220/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 210/2025/QĐST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng T1 (tên cũ Ngân hàng T2; trụ sở: Số A đường H, Phường B, thành phố T, Tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T, bà Phạm Ngọc Ý V, bà Võ Lý Trúc Q, ông Hồ Minh L, ông Bùi Tiến V1 (Giấy ủy quyền số 723/2025/QUQ-VCBNeo ngày 13/5/2025)
2. Bị đơn: Ông Vũ Văn Q1, sinh năm 1984; địa chỉ: Số H đường N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
(Phiên tòa có mặt bà V đại diện nguyên đơn, vắng mặt ông Q1)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 05/12/2024, bản tự khai và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn trình bày:
Ông Vũ Văn Q1 có ký với Ngân hàng T1 (Sau đây viết tắt là "VCBNeo") Hợp đồng tín dụng số: 13/2022/22206/07.HĐTD/620 ngày 20/07/2022 và Giấy đề nghị rút vốn kiêm giấy nhận nợ kiêm đề xuất rút vốn số: 13/2022/22206/DNRV 1/620 ngày 25/07/2022. Theo đó, VCBNeo cho ông Vũ Văn Q1 vay số tiền 4.300.000.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm triệu đồng), mục đích vay: bù đắp tiền mua nhà ở đất ở, thời hạn vay: 240 tháng (từ ngày 25/07/2022 đến ngày 25/07/2042), lãi suất vay ban đầu: 7,3%/năm, lãi suất quá hạn gốc: 150% lãi suất cho vay trong hạn, lãi chậm trả: được tính bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lịch trả nợ gốc, lãi vào ngay ngày 25 hàng tháng, kỳ thanh toán đầu tiên là ngày 25/8/2022.
Tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cùng toàn bộ các quyền và lợi ích phát sinh từ tài sản thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 18, địa chỉ: Xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk, diện tích: 942 m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CU 361035, số vào số cấp GCN: CS 01608 do Sở TN&MT tỉnh Đ cấp ngày 22/05/2020. Cập nhật biến động ngày 14/07/2022.
Tài sản trên được thế chấp tại VCBNeo theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 13/2022/22206/02. HĐTC/620 ngày 21/07/2022 được công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Đắk Lắk, (số công chứng: 00012047, quyển số 03/2022/TP/CC-SCC/HĐGD), đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B ngày 21/07/2022.
Tính đến ngày 27/06/2025, ông Vũ Văn Q1 đã trả cho VCBNeo tổng số tiền là: 727.831.735 đồng (Bảy trăm hai mươi bảy triệu tám trăm ba mươi mốt nghìn bảy trăm ba mươi lăm đồng), trong đó: Nợ gốc đã trả là 231.214.303 đồng, nợ lãi đã trả là 496.617.432 đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Vũ Văn Q1 đã vi phạm Hợp đồng tín dụng đã ký. Do đó, ngày 02/10/2024, VCBNeo đã ban hành Thông báo về việc chấm dứt việc cho vay và thu hồi nợ trước hạn số 2460/2024/TB-CB đối với ông Vũ Văn Q1.
Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ tính đến ngày 27/6/2025 là: 4.910.333.823 đồng (Bốn tỷ chín trăm mười triệu ba trăm ba mươi nghìn tám trăm hai mươi ba đồng), trong đó: Dư nợ gốc là 4.068.785.697 đồng, lãi trong hạn là 667.888.163 đồng, lãi quá hạn là 159.703.955 đồng, lãi chậm trả lãi là 13.956.008 đồng. Trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 28/06/2025 ông Vũ Văn Q1 còn phải thanh toán toàn bộ nợ lãi và phí phát sinh đối với toàn bộ số nợ còn lại theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số: 13/2022/22206/07.HĐTD/620 ngày 20/07/2022 đã ký kết với VCBNeo cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Trường hợp ông Vũ Văn Q1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ trên đây thì VCBNeo được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản đã thế chấp cho VCBNeo để thu hồi nợ, cụ thể là:
Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cùng toàn bộ các quyền và lợi ích phát sinh từ tài sản thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 18, địa chỉ: Xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk, diện tích: 942 m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CU 361035, số vào số cấp GCN: CS01608 do Sở TN&MT tỉnh Đ cấp ngày 22/05/2020. Cập nhật biến động ngày 14/07/2022.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản bảo đảm nêu trên được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Vũ Văn Q1 đối với VCBNeo. Nếu số tiền phát mãi tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ của ông Vũ Văn Q1 tại VCBNeo thì ông Vũ Văn Q1 có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ cho đến khi trả hết khoản nợ nêu trên cho VCBNeo.
Hiện nay Ngân hàng đang giữ bản chính các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của tài sản thế chấp. Sau khi bị đơn trả hết số nợ trên thì Ngân hàng sẽ trả lại bản chính giấy tờ trên cho ông Q1.
Đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ mà nguyên đơn đã đóng đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật để giải quyết.
Bị đơn là ông Vũ Văn Q1 mặc dù đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập đến tòa lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Q1 không đến nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông Q1 về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về phiên toà sơ thẩm.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án và thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại thời điểm ký Hợp đồng tín dụng ông Vũ Văn Q1 khai địa chỉ hiện tại ông Vũ Văn Q1 là A N, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh và địa chỉ thường trú là 8 N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo kết quả trả xác minh của Công an P, quận T ngày 24/02/2025 thì ông Vũ Văn Q1, sinh năm 1984 không đăng ký thường trú, không đăng ký tạm trú và không thực thế cư trú tại số A N, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo kết quả trả xác minh của Công an P1, quận G ngày 03/01/2025 thì ông Vũ Văn Q1, sinh năm 1984 có hộ khẩu thường trú tại số H N, khu phố B, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh hiện không thực tế cư trú tại số H N, khu phố B, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh .
Như vậy bị đơn có hộ khẩu thường trú tại số H N, khu phố B, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Mặc dù bị đơn không còn cư trú tại địa chỉ trên nhưng nguyên đơn không biết địa chỉ nào khác của bị đơn nên căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 5 và khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, có cơ sở xác định đơn khởi kiện của nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của bị đơn mà người khởi kiện biết được gần nhất, tính đến thời điểm khởi kiện và được cơ quan có thẩm quyền cấp, xác nhận.
Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì việc ông Vũ Văn Q1 thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện nghĩa vụ theo Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng mà không thông báo cho Ngân hàng biết về nơi cư trú mới được coi là cố tình giấu địa chỉ, nên xác định bị đơn có nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ số H N, khu phố B, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Ông Q1 là bị đơn đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Q1 theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa, ông Q1 đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không có lời khai và các tài liệu, chứng cứ giao nộp cho Tòa án để thể hiện sự phản đối yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, ông Q1 đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình nên phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử căn cứ các chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để xem xét giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Hợp đồng tín dụng số: 13/2022/22206/07.HĐTD/620 ngày 20/07/2022 và Giấy đề nghị rút vốn kiêm giấy nhận nợ kiêm đề xuất rút vốn số: 13/2022/22206/DNRV 1/620 ngày 25/07/2022 thể hiện ông Q1 có vay VCBNeo số tiền 4.300.000.000 đồng, mục đích vay là để bù đắp tiền mua nhà ở đất ở, thời hạn vay là 240 tháng (từ ngày 25/07/2022 đến ngày 25/07/2042), lãi suất vay ban đầu là 7,3%/năm, lãi suất quá hạn gốc là 150% lãi suất cho vay trong hạn, lãi chậm trả được tính bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lịch trả nợ gốc và lãi vào ngày 25 hàng tháng, kỳ thanh toán đầu tiên vào ngày 25/8/2022.
Thực hiện hợp đồng nêu trên VCBNeo đã giải ngân khoản vay theo Giấy đề nghị rút vốn kiêm giấy nhận nợ kiêm đề xuất rút vốn số: 13/2022/22206/DNRV1/620 ngày 25/07/2022.
Việc xác lập giao dịch tín dụng giữa Ngân hàng và ông Q1 phù hợp theo quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Sau khi được giải ngân số tiền vay 4.300.000.000 đồng ông Q1 chỉ thanh toán cho VCBNeo số tiền nợ gốc là 231.214.303 đồng, nợ lãi là 496.617.432 đồng rồi ngưng không thanh toán nữa.
Như vậy ông Q1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận nên VCBNeo đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 02/10/2024.
Do đó nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Vũ Văn Q1 thanh toán số tiền nợ tính đến đó 27/6/2025 là: 4.910.333.823 đồng (Bốn tỷ chín trăm mười triệu ba trăm ba mươi nghìn tám trăm hai mươi ba đồng), trong đó nợ gốc là 4.068.785.697 đồng, lãi trong hạn là 667.888.163 đồng, lãi quá hạn là 159.703.955 đồng, lãi chậm trả lãi là 13.956.008 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 1 điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về thời hạn thanh toán: Do ông Q1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên yêu cầu của nguyên đơn buộc ông Q1 trả số tiền trên cho nguyên đơn làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Kể từ ngày 28/6/2025 ông Q1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Q1 phải tiếp tục phải thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Xét yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 13/2022/22206/02 HĐTC/620 ngày 21/07/2022 được công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Đắk Lắk, số công chứng: 00012047, quyển số 03/2022/TP/CC-SCC/HĐGD), đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B ngày 21/07/2022 thì ông Q1 đã dùng tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 192, tờ bản đồ số 18, địa chỉ: Xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk của mình để bảo đảm cho khoản vay trên của ông Q1 tại VCBNeo.
Tại khoản 2.1 Điều 2 của Hợp đồng thế chấp quy định nghĩa vụ được bảo đảm theo hợp đồng là toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của bên thế chấp với Ngân hàng (gồm nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí, phạt, các khoản phải trả, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ khác) theo Hợp đồng tín dụng số: 13/2022/22206/07.HĐTC/620 ngày 20/07/2022.
Tại khoản 6.1 Điều 6 Hợp đồng thế chấp các bên thỏa thuận các trường hợp xử lý tài sản thế chấp gồm: Khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm theo quy định tại khoản 2.1 Điều 2 của Hợp đồng (bao gồm cả trường hợp thu hồi nợ trước hạn) mà bên thế chấp không trả nợ đầy đủ, đúng hạn theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và các văn bản liên quan thì Ngân hàng được quyền xử lý tài sản thế chấp.
Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28/3/2025 thì hiện trạng thửa đất thửa đất số 192, tờ bản đồ số 18, địa chỉ: Xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk không thay đổi so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CU 361035, số vào số cấp GCN: CS 01608 do Sở TN&MT tỉnh Đ cấp ngày 22/05/2020. Cập nhật biến động ngày 14/07/2022.
Do đó yêu cầu phát mãi tài sản của nguyên đơn trong trường hợp nếu đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà ông Q1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ là phù hợp với thỏa thuận của các bên trong hợp đồng và phù hợp với quy định tại Điều 335 và Điều 342 Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Sau khi ông Q1 thanh toán hết số tiền nêu trên thì VCBNeo có trách nhiệm trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất liên quan đến tài sản thế chấp trên ông Q1.
[3]. Về chi phí tố tụng khác:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải hoàn trả lại cho nguyên đơn chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 19.900.000 đồng theo quy định tại Điều 157, Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Về án phí:
Căn cứ quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên ông Q1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 119.910.334 đồng.
Hoàn tiền tạm nộp án phí cho nguyên đơn.
[5] Về quyền kháng cáo:
- Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Ông Q1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp về việc giải quyết vụ án là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b, g khoản 1 Điều 40, Điều 91, Điều 92, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 335, Điều 342, khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 1, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tôi cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1.1. Buộc ông Vũ Văn Q1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng T1 Công nghệ số số tiền nợ tính đến ngày 27/6/2025 là 4.910.333.823 đồng (Bốn tỷ chín trăm mười triệu ba trăm ba mươi nghìn tám trăm hai mươi ba đồng), trong đó nợ gốc là 4.068.785.697 đồng, lãi trong hạn là 667.888.163 đồng, lãi quá hạn là 159.703.955 đồng, lãi chậm trả lãi là 13.956.008 đồng. Trả ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 28/6/2025 ông Q1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Q1 phải tiếp tục phải thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
1.2. Sau khi ông Vũ Văn Q1 thanh toán hết số tiền nêu trên thì Ngân hàng T1 có trách nhiệm trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CU 361035, số vào số cấp GCN: CS01608 do Sở TN&MT tỉnh Đ cấp ngày 22/05/2020. Cập nhật biến động ngày 14/07/2022 cho ông Vũ Văn Q1.
1.3 Đến hạn trả nợ nêu trên mà ông Vũ Văn Q1 không trả thì Ngân hàng T1 Công nghệ số được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất thửa đất số 192, tờ bản đồ số 18, địa chỉ: Xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CU 361035, số vào số cấp GCN: CS01608 do Sở TN&MT tỉnh Đ cấp ngày 22/05/2020. Cập nhật biến động ngày 14/07/2022.
Sau khi xử lý xong tài sản bảo đảm nêu trên mà không đủ để tất toán khoản vay thì ông Vũ Văn Q1 vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng T1.
1.4. Về chi phí tố tụng: Ông Vũ Văn Q1 có trách nhiệm hoàn lại cho Ngân hàng T1 chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 19.900.000 đồng.
Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Về án phí:
- Ông Vũ Văn Q1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 119.910.334 đồng
- Hoàn lại cho Ngân hàng T1 Công nghệ số số tiền tạm nộp án phí là 56.145.871 đồng (Năm mươi sáu triệu một trăm bốn mươi lăm ngàn tám trăm bảy mươi mốt đồng) theo biên lai thu tiền số: 0012637 ngày 27/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về quyền kháng cáo:
- Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Ông Vũ Văn Q1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
Tại Điều 5 Hợp đồng thế chấp quy định Bên nhận thế chấp có quyền xử lý tài sản thể chấp khi Bên nhận thế chấp thông báo cho Bên thế chấp biết Bên được bảo đảm vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm. Bên được bảo đảm không thực hiện kịp thời, đầy đủ nghĩa vụ được bảo đảm khi đến hạn theo quy định tại Hợp đồng cấp tín dụng.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Huệ |
Bản án số 342/2025/DSST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 342/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CHấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
