Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 342/2025/DS-PT

Ngày: 25-11-2025

V/v: “Tranh chấp tiền bồi

thường do Nhà nước thu hồi đất"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thanh, Ông Huỳnh Châu Thạch

Thư ký phiên tòa: Ông Mai Tất Thái – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Bà Hoàng Thị Hằng – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 25 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 253/2025/TLPT-DS ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp tiền bồi thường do Nhà nước thu hồi đất”.

Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 35/2025/DS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng) bị kháng nghị, kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 490/2025/QĐ-PT ngày 23 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 359/2025/QĐ-PT ngày 13 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lê H, sinh năm 1958. Địa chỉ: Số B đường T, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim L, sinh năm 1999. Địa chỉ liên hệ: A T, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

  2. Bị đơn: Ông Ngô Văn G, sinh năm 1965. Địa chỉ: Lô D, khu A, số B đường Đ, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

    Người đại diện hợp pháp của bị đơn:

    • Bà Ngô Bảo Y, sinh năm 1998. Địa chỉ: Lô A + A, đường T, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

    • Ông Ngô Văn T, sinh năm 1956. Địa chỉ: Số G đường T, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

    Là những người đại diện theo ủy quyền của bị đơn (Các Văn bản ủy quyền ngày 09/10/2024 và ngày 20/10/2025).

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    • - Bà Trần Thị M, sinh năm 1965. Địa chỉ: Lô D, khu A, số B đường Đ, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

      Người đại diện hợp pháp của bà M: Bà Ngô Bảo Y, sinh năm 1998. Địa chỉ: Lô A + A, đường T, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 09/10/2024). Có mặt.

    • - Ủy ban nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

      Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường X – Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

    • - Trung tâm K1 đất tỉnh Lâm Đồng. Địa chỉ: Số C đường T, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng.

      Người đại diện hợp pháp của Trung tâm K1 đất tỉnh Lâm Đồng: Ông Trần Nam L1 - Giám đốc. Là những người đại diện theo pháp luật. Vắng mặt.

    • - Bà Lê Thị T1, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số B đường H, phường B B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

    • - Ông Lê T2, sinh năm 1967. Địa chỉ: Số B, Tổ D đường T, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

    • - Ông Lê T3, sinh năm 1969. Địa chỉ : Tổ C, thôn L, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng.

Người kháng cáo: Ông Lê H – Nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn ông Lê H cùng người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Lê Thị Kim L trình bày:

Bố mẹ ông Lê H là cụ Lê T4, sinh năm 1917 (chết năm 1993), mẹ là cụ Lưu Thị X, sinh năm 1923 (chết năm 2007) có khai phá một phần diện tích đất khoảng 1.400m² thuộc một phần thửa 258, tờ bản đồ 72G (13) tại T, Phường A, thành phố Đ vào năm 1971.

Năm 1980, bố mẹ ông H đưa phần đất này vào Hợp tác xã R để canh tác tập thể. Trong thời gian hoạt động, hợp tác xã đã sử dụng 1 phần diện tích khoảng 1.200m² để dựng nhà xưởng phục vụ cho việc khai thác cao lanh, phần còn lại khoảng 400m² thì đào hồ chứa nước. Đến năm 1996 xưởng khai thác cao lanh ngừng hoạt động, gia đình có yêu cầu hợp tác xã trả lại phần diện tích đất 1.400m² này nhưng hợp tác xã chưa đồng ý trả do trên đất còn nhà xưởng chưa thanh lý được. Năm 1999 mẹ và anh trai ông H là ông Lê T5 cho ông H phần đất này, ông H đã nhiều lần yêu cầu hợp tác xã trả lại đất nhưng không được chấp nhận.

Qua tìm hiểu ông H biết năm 1998 hợp tác xã R đã thanh lý toàn bộ nhà xưởng cao lanh cho ông Ngô Văn G, đối với 1.400m² thì cho ông G thuê để trồng hoa màu. Năm 2009 UBND thành phố Đ ban hành Quyết định số 4850/QĐ-UB ngày 31/12/2009 thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân để xây dựng khu đô thị M T, Phường A, thành phố Đ, thu hồi 8.876,8m² đất nông nghiệp của ông Ngô Văn G (trong đó khoảng 1.400m² đất là của cha mẹ ông H cho ông H), thuộc các thửa đất số 2, 3, 4, 21 và một phần thửa 12 (bản đồ đo mới do trung tâm THTTĐL & ĐKQSD Đất Đà Lạt thiết lập tại Trại M) và bồi thường tiền cho ông G.

Ông H có khiếu nại đến UBND thành phố Đ yêu cầu hợp tác xã trả lại đất nhưng không được chấp nhận theo Quyết định 1366/QĐUB ngày 25/9/2002. Sau đó ông H đã khiếu nại lên Chủ tịch UBND tỉnh L và được giải quyết bằng Quyết định không chấp nhận khiếu nại số 566/QĐUB ngày 19/02/2003. Tuy nhiên tại Báo cáo số 04/BC-ĐC ngày 09/01/2003 của Sở địa chính gửi UBND tỉnh L đã xác nhận nguồn gốc đất tranh chấp là của hộ ông Lê H sản xuất từ năm 1980, sau đó đã đưa vào hợp tác xã rau Tự Phước.

Việc ông H yêu cầu được trả lại đất không được UBND tỉnh L chấp nhận là do đất được quy hoạch làm đất rừng. Nay trong diện tích đất ông G bị thu hồi đất và được bồi thường tiền trong đó có phần đất của ông H nên ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định ông H là người được hưởng số tiền bồi thường, hỗ trợ 950.000.000 đồng khi thu hồi đối với diện tích 1.109m² thuộc thửa số 2 (có diện tích 189,1m²) và thửa số 4 (có diện tích 919,9m²) cùng tờ bản đồ số 5 trong tổng diện tích thu hồi 8.876,8m² thuộc các thửa đất (3,4,12); thửa (2,4); 21 p12 bản đồ đo mới do trung tâm THTTĐL & ĐKQSD Đất Đà Lạt thiết lập tại T, Phường A, Đ.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Ngô Văn G trình bày:

Nguồn gốc đất bồi thường là của mẹ ông bà Trương Thị S khai phá 1940 có diện tích khoảng 6.000m². Khoảng năm 1981 thì bà S cho ông G một phần đất trong đó có phần đất ông H đang tranh chấp. Theo chủ trương của Nhà nước thì bà S và ông G đã đưa phần đất này vào hợp tác xã.

Năm 1998, hợp tác xã R1 P có thanh lý và cho thuê mặt bằng tại cơ sở C1. Theo quyết định cho thuê mặt bằng số 41/HTX/QĐ ngày 1/7/1998 và hợp đồng thuê đất thì hợp tác xã cho ông G thuê 1.000m² đất có vị trí tại khu đội 5 hợp tác xã. Đông giáp vườn hộ Ngô Văn C; Tây giáp đồi núi; Nam giáp vườn hộ Phan T6, Đỗ K; Bắc giáp đồi núi mương, ống nước tự chảy của hợp tác xã. Với giá cho thuê 3.000.000 đồng trong 4 năm và phải nộp 1 lần; hết thời hạn cho thuê mà hợp tác xã có nhu cầu sử dụng thì sẽ lấy lại, nếu hợp tác xã không có nhu cầu thì ông G thuê tiếp.

Ngày 27/5/1998 hợp tác xã T7 cho ông G tài sản là cơ sở K2 (bao gồm toàn bộ Cole + ván) với giá 4.000.000 đồng (đây là tài sản trên 1.000m² đất). Từ khi thuê đến nay ông G vẫn sản xuất trên đất này.

Ngày 31/12/2009 UBND tỉnh L ban hành quyết định số 4850/QĐ - UBND thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân để xây dựng khu đô thị M T mát, Phường A, Đ; theo đó thu hồi của ông phần diện tích 8.876,8m² đất nông nghiệp thuộc các thửa đất (3,4,12); thửa (2,4); 21 p12 bản đồ đo mới do trung tâm THTTĐL & ĐKQSD Đất Đà Lạt thiết lập tại Trại mát, Phường A, Đ và bồi thường tiền cho ông tổng cộng là 7.577.850.000 đồng.

Nay ông Lê H khởi kiện cho rằng ông H là người được hưởng số tiền bồi thường, hỗ trợ 950.000.000 đồng ứng với diện tích 1.109m² trong tổng diện tích 8.876,8m² UBND thành phố Đ thu hồi và bồi thường tiền cho ông thì ông không đồng ý.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị M:

Thống nhất với lời trình bày của ông G.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trung tâm K1 và Phát triển quỹ đất tỉnh Lâm Đồng trình bày:

Căn cứ Quyết định số 235/QĐ-UBND ngày 02/02/2009 của UBND tỉnh L “Về việc thu hồi đất và giao cho Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Lâm Đồng quản lý để tổ chức việc bồi thường, giải phóng mặt bằng khu đô thị M T, thành phố Đ”. Ngày 08/4/2009 Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh L (nay là Trung tâm K1 và Phát triển quỹ đất tỉnh Lâm Đồng) phối hợp cùng chủ đầu tư, U tiến hành lập biên bản kiểm tra hiện trạng và thống kê tài sản trên đất thu hồi để thực hiện dự án.

Ngày 04/8/2009 U tổ chức họp xét nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất đối với trường hợp ông Ngô Văn G, trong đó xác định nguồn gốc đất là “Đất của mẹ là bà Trương Thị S khai phá năm 1940 cho con là Ngô Văn G năm 1985, riêng phần diện tích 2.779 m² thuộc một phần thửa 24/2 tờ bản đồ dự án, (72G BĐĐC) ông G sang nhượng của ông Ngô Văn T vào ngày 27/7/2006, sử dụng ổn định từ đó đến nay không tranh chấp”. Ngoài ra qua kiểm tra hồ sơ ông G có cung cấp tại khu vực các thửa đất thu hồi đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau:

  • + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 518680 do UBND thành phố Đ cấp ngày 25/8/1997 đối với thửa 212 và 267 tờ bản đồ 72G tại Phường A có diện tích 2.740 m² loại đất trồng màu đứng tên ông Ngô Văn G.

  • + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 875933 do UBND thành phố Đ cấp ngày 25/8/1997 đối với thửa 190 tờ bản đồ 72G tại Phường A có diện tích 2.779m² loại đất trồng màu đứng tên ông Ngô Văn T.

Ngày 27/7/2006 Chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ xác nhận ông (bà) Ngô Văn G - Trần Thị Mỹ nhận chuyển nhượng toàn bộ diện tích nêu trên của ông Ngô Văn T.

Ngày 31/12/2009 Ủy ban nhân dân thành phố Đ ban hành Quyết định số 4850/QĐ-UBND “Về việc thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân để xây dựng khu đô thị M T, Phường A, thành phố Đ”. Trong đó, thu hồi của ông Ngô Văn G với diện tích 8.876,8m² đất nông nghiệp (trên đất có nhà).

Ngày 24/3/2010 UBND tỉnh L ban hành Quyết định số 673/QĐUBND “Về việc phê duyệt chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (đợt 1); dự án Khu đô thị M, T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng ” với tổng số tiền được bồi thường, hỗ trợ của ông G là 1.580.379.000 đồng. Cụ thể bồi thường, hỗ trợ như sau: Bồi thường, hỗ trợ về đất 1.183.472.000 đồng. Bồi thường, hỗ trợ về vật kiến trúc 146.548.000 đồng. Bồi thường về hoa màu 186.478.000 đồng. Các khoản hỗ trợ khác 63.880.000 đồng.

Ngày 30/6/2021 UBND thành phố Đ ban hành Quyết định 2262/QĐ-UBND bổ sung tiền chênh lệch về giá đất là 5.997.471.000 đồng. Trung tâm là trung tâm tư vấn không có trách nhiệm rà soát lại nội dung tổ chức họp xét nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất của U, thành phố Đ. Ngoài ra Trung tâm cũng không có trách nhiệm xác định nguồn gốc đất thu hồi. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 35/2025/DS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng), đã xử:

  • - Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu xác định ông Lê H là người được hưởng số tiền 344.937.000 đồng bồi thường, hỗ trợ.

  • - Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xác định ông Lê H là người được hưởng số tiền 850.063.000 đồng bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đối với diện tích 1.109m² thuộc thửa số 2 (có diện tích 189,1m²) và thửa số 4 (có diện tích 919,9m²) tờ bản đồ số 5 trong tổng diện tích thu hồi 8.876,8m² thuộc các thửa đất (3,4,12); thửa (2,4); 21 p12 bản đồ đo mới do trung tâm THTTĐL & ĐKQSD Đất Đà Lạt thiết lập tại Trại M phường A, thành phố Đ cho ông Ngô Văn G.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án của các bên đương sự.

Ngày 27/6/2025 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1), tỉnh Lâm Đồng kháng nghị hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2025/DS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng và đình chỉ giải quyết vụ án.

Ngày 24/6/2025 nguyên đơn ông Lê H kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên kháng cáo.

Bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Bảo Y không đồng ý với kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị giải quyết như bản án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị T1 thống nhất nội dung kháng cáo của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng nghị, hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng giải quyết lại theo thủ tục tố tụng hành chính.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Lâm Đồng) và đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Lê H; thủ tục kháng nghị, kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273, 278, 279, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Qua xem xét kháng nghị, kháng cáo thấy rằng:

Nguyên đơn ông Lê H khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định nguyên đơn là người được hưởng số tiền bồi thường hỗ trợ 950.000.000 đồng đối với diện tích đất 1.109m² thuộc thửa đất số 2 và số 4 cùng tờ bản đồ số 5 tại T, Phường A, thành phố Đ trong tổng diện tích đất bị thu hồi 8.876,8m² của ông Ngô Văn G theo Quyết định số 4850/QĐ-UBND ngày 31/12/2009 của UBND thành phố Đ về việc thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân để xây dựng khu đô thị M T, Phường A, thành phố Đ; Quyết định số 673/QĐ-UBND ngày 24/3/2010 của UBND tỉnh L về phê duyệt chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và Quyết định số 2262/QĐ-UBND ngày 30/6/2021 của UBND thành phố Đ về bổ sung tiền chênh lệch giá đất Dự án khu đô thị M Trại M.

Như vậy, căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông H thấy rằng: nguyên đơn khởi kiện không buộc ông Ngô Văn G có nghĩa vụ gì với nguyên đơn mà nguyên đơn không đồng ý với với việc thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ, tái định cư của UBND thành phố Đ và UBND tỉnh L theo các Quyết định nêu trên và yêu cầu được xác định là người được hưởng số tiền bồi thường hỗ trợ 950.000.000 đồng đối với diện tích đất 1.109m² thuộc thửa đất số 2 và số 4 cùng tờ bản đồ số 5 tại T, Phường A, thành phố Đ trong tổng diện tích đất bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành thu hồi.

Do đó, cần xác định đây là vụ án hành chính, đối tượng khởi kiện là các Quyết định hành chính số 673/QĐ-UBND, số 2262/QĐ-UBND và số 673/QĐ-UBND nêu trên.

Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm đã thụ lý vụ án dân sự và xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp tiền bồi thường do Nhà nước thu hồi đất”, xác định ông Ngô Văn G là bị đơn là không chính xác, vi phạm thủ tục tố tụng nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên chấp nhận một phần kháng nghị và một phần kháng cáo của nguyên đơn, hủy Bản án sơ thẩm số 35/2025/DS-ST ngày 12/6/2025, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng để giải quyết lại theo quy định của pháp luật.

Do huỷ bản án sơ thẩm nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn.

[3]. Chi phí tố tụng sẽ được xem xét khi cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

[4]. Về án phí: Do hủy án sơ thẩm nên ông H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xem xét khi cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng (Nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Lâm Đồng); Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn ông Lê H, hủy bản án dân sự sơ thẩm.

Tuyên xử:

  1. Hủy toàn bộ Bản án Dân sự sơ thẩm số 35/2025/DS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 1-Lâm Đồng về việc “Tranh chấp tiền bồi thường do Nhà nước thu hồi đất” giữa nguyên đơn ông Lê H; bị ông Ngô Văn G và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác.

    Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 1-Lâm Đồng giải quyết lại theo thủ tục chung.

  2. Chi phí tố tụng sẽ được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.

  3. Về án phí:

    • - Án phí sơ thẩm: Tòa án cấp sơ thẩm xem xét khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.

    • - Án phí phúc thẩm: Ông H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - TAND khu vực 1 – Lâm Đồng;
  • - Phòng THADS khu vực 1 – Lâm Đồng;
  • - Các đương sự;
  • - Văn phòng TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Lưu: lưu trữ, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Châu Thạch Nguyễn Thành Tâm

Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 342/2025/DS-PT ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp tiền bồi thường do nhà nước thu hồi đất

  • Số bản án: 342/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tiền bồi thường do Nhà nước thu hồi đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp tiền bồi thường Nhà nước thu hồi đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger