Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 342/2025/DS-PT
Ngày: 24-6-2025
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Ngọc Yến
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Bích Tuyền
Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Chiêu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tho - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 191/2025/TLPT-DS ngày 24 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 171/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Bích L, sinh năm 1981.

    Địa chỉ: Số nhà C, ấp N, xã N, thành phố T, tỉnh Long An.

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Võ Văn Ú, sinh năm 1975.

    Địa chỉ: Số B N, Phường A, thành phố T, tỉnh Long An.

    (Theo giấy ủy quyền ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Văn phòng C1).

  2. Bị đơn:
    • 2.1. Ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1996.
    • 2.2. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1948.
    • 2.3. Bà Phạm Thị Hồng H, sinh năm 1970.

    Cùng địa chỉ: Số nhà A, khu phố H, thị trấn T, huyện C, tỉnh Long An.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông T, bà H: Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1965.

Địa chỉ: số A P, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

(Theo Giấy ủy quyền ngày 07/11/2023).

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1. Ông Đặng Minh T3, sinh năm 1982.
    • Địa chỉ: Số nhà A, đường N, phường K, thành phố T, tỉnh Long An.

    • 3.2. Ông Lê Hoàng H1, sinh năm 1965.
    • Địa chỉ: Số nhà I, đường L, Phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Người làm chứng: Bà Cao Thị N, sinh năm 1967.

    Địa chỉ: xã D, huyện C, tỉnh Long An.

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Hoàng T, bà Nguyễn Thị T1, bà Phạm Thị Hồng H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 3 năm 2024 và trong quá trình tố tụng, ông Võ Văn Ú là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Do chỗ quen biết nên vào ngày 10 tháng 3 năm 2022, bà Đặng Thị Bích L có cho ông Nguyễn Hoàng T, bà Nguyễn Thị T1, bà Phạm Thị Hồng H vay số tiền 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng), thời hạn vay 60 ngày, không ghi lãi suất vào giấy mượn tiền nhưng có thỏa thuận bằng lời nói lãi suất là 2,5%/tháng.

Đến hẹn trả tiền thì ông T, bà T1, bà H không trả tiền. Do đó, bà Đặng Thị Bích L yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Hoàng T, bà Nguyễn Thị T1, bà Phạm Thị Hồng H trả tiền vay cho bà L với tổng số tiền nợ là 5.750.000.000 đồng (Năm tỷ bảy trăm năm mươi triệu đồng), trong đó tiền gốc là 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng) và tiền lãi là 750.000.000 đồng (B trăm năm mươi triệu đồng), mức lãi suất 10%/năm, thời gian tính lãi là một năm sáu tháng từ ngày vay đến ngày 10 tháng 9 năm 2023. Đồng thời, yêu cầu Hội đồng xét xử tiếp tục duy trì áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để đảm bảo thi hành án.

Bị đơn bà Phạm Thị Hồng H trình bày:

Bà không có vay tiền của bà L, giữa bà và bà L không quen biết. Do quen biết với ông Đặng Minh T3 nên bà có nhờ ông T3 giới thiệu bà với ông Lê Hoàng H1 là người chuyên cầm cố đất đai. Vào ngày 09 tháng 12 năm 2020 con bà là ông Nguyễn Hoàng T có cầm cố cho ông Lê Hoàng H1 bốn thửa đất gồm thửa đất số 159, 425, 428 và 452, cùng tờ bản đồ số 31, tọa lạc tại thị trấn T, huyện C, tỉnh Long An do ông Nguyễn Hoàng T đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài ra, ông H1 còn giữ thêm hai thửa đất là thửa số 423 và thửa đất số 225, cùng tờ bản đồ số 31 do ông Phạm Văn B là cha ruột của bà đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sáu thửa đất nêu trên ông T thế chấp cho ông Lê Hoàng H1 vay số tiền là 4.500.000.000 đồng (Bốn tỷ năm trăm triệu đồng) với mức lãi là 2,5%/tháng. Tiền hoa hồng là 6% trên số tiền 1.000.000.000 đồng/tháng. Sau khi thỏa thuận sự việc xong, ông T3 là người lo tất cả giấy tờ và hẹn ra công chứng. Sáng ngày 09 tháng 12 năm 2020, bà L đem giấy tờ mượn tiền xuống nhà bà đưa cho ông T3, ông T3 bảo mẹ bà là bà Nguyễn Thị T1, bà và con

bà là ông Nguyễn Hoàng T ký tên vào giấy nợ. Bà và con bà có hỏi ông T3 sao ký vào giấy này thì ông T3 bảo ký vào giấy vay để sau này không đóng lãi thì thương lượng với nhau và mẹ bà, bà là người bảo lãnh cho con bà vay số tiền trên vì tin tưởng với nhau, bà không nghĩ gì. Sau đó, vào lúc 02 giờ chiều cùng ngày 09 tháng 12 năm 2020 tại Văn phòng C2, thành phố T. Ông H1 đã chuyển số tiền 4.000.000.000 đồng cho ông T, còn lại 500.000.000 đồng hẹn vài ngày sau sẽ chuyển tiếp.

Số tiền 4.000.000.000 đồng bà đóng lãi trước một tháng với số tiền 100.000.000 đồng; tiền cò 6% là 240.000.000 đồng.

Vào ngày 10 tháng 3 năm 2021, bà đưa cho ông T3 200.000.000 đồng gửi đóng tiền lãi cho ông H1 và ông T3 đưa cho bà L (bà L và ông T3 2 người cùng là môi giới đất cho ông H1).

Ngày 21 tháng 3 năm 2021, ông T3 đưa 200.000.000 đồng, số tiền 500.000.000 đồng trừ số tiền 200.000.000 đồng (ông T3 đưa) còn lại 300.000.000 đồng, trừ tiếp 100.000.000 đồng tiền lãi của số tiền 4.000.000.000 đồng, còn lại 200.000.000 đồng, trừ tiếp tiền lãi 12.500.000 đồng của số tiền lãi 500.000.000 đồng và trừ tiền cò 30.000.000 đồng, số tiền còn lại là 157.500.000 đồng. Bà đóng lãi cho bà L tháng kế tiếp, bà L đã rút thẳng, có nghĩa là bà L không đưa cho bà số tiền 157.500.000 đồng mà để trừ tiếp lãi của tháng tiếp theo. Ngày 28 tháng 5 năm 2021, bà đóng lãi cho bà L số tiền 90.000.000 đồng tại đầu chợ T6.

Vào tháng 6 năm 2021, bà đóng tiền lãi cho bà L tại nhà ở phường G, thành phố T số tiền 50.000.000 đồng. Trong lúc dịch covid, bà vẫn đưa cho bà L tiền lãi số tiền 165.000.000 đồng tại cổng chào huyện C; những lần đóng tiền đều có sự chứng kiến của bà Cao Thị N. Lần đóng lãi cuối cùng là 01 tháng 12 năm 2021 với số tiền 330.000.000 đồng, bà nhờ ông Cao Hoàng T4 chuyển tiền vào tài khoản của bà L. Hiện nay, ông Cao Hoàng T4 đã bỏ địa phương đi đâu, bà không biết nên không thể cung cấp địa chỉ cho Tòa án. Mỗi khi đóng lãi, bà yêu cầu bà L ghi biên nhận; bà L nói tin tưởng nhau thôi.

Sau khi qua dịch, bà không còn khả năng trả lãi nữa, nhiều lần bà đề nghị gọi ông H1 xuống để thương lượng nhưng bà L không chịu. Bà yêu cầu bà L nói lại với ông H1 trả lại cho bà hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Phạm Văn B đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để bà làm thừa kế xong sẽ bán để trả lại số tiền mà bà đã thế chấp cho ông H1, bà L buộc bà chuộc với số tiền 6.500.000.000 đồng, bà không đồng ý. Bà rất nhiều lần yêu cầu bà L cho bà gặp ông H1 để thương lượng nhưng bà L không tạo điều kiện cho bà và yêu cầu bà những việc trái sự thật. Đồng thời, bà H cho rằng số tiền vay 5.000.000.000 đồng là số tiền rất lớn mà bà L không làm hợp đồng có công chứng là không phù hợp.

Đối với giấy mượn tiền ngày 10 tháng 3 năm 2022 thì bà chưa xác định chữ viết và chữ ký của bà. Do đó, bà không đồng ý trả tiền theo yêu cầu của bà L.

Tại bản tường trình ngày 28 tháng 10 năm 2024, bị đơn ông Nguyễn Hoàng T trình bày:

Chữ ký trên chữ Nguyễn Hoàng T trong giấy mượn tiền là chữ ký của ông, tuy nhiên các nội dung trên giấy mượn tiền không phải do ông viết. Lý do ông ký tên giấy mượn tiền là do ông có vay thế chấp giấy tờ đất cho ông H1 với số tiền là 4.500.000.000 đồng, rồi bà L là người môi giới cho ông H1 mới kêu ông ký giấy tờ mượn tiền để bảo đảm số tiền vay 4.500.000.000 đồng. Ngoài ra, ông không có mượn tiền số tiền 5.000.000.000 đồng.

Người làm chứng bà Cao Thị N là trình bày:

Bà là người làm công cho bà H, bà có đi cùng với bà H ba lần như bà H xác định là đúng nhưng bà không trực tiếp nhìn thấy bà H giao tiền lãi cho bà L, cũng không biết bà H giao cho bà L bao nhiêu tiền.

Vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải được do đại diện nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An đã quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Áp dụng các Điều 288, 357, 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự;

Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Bích L về việc buộc bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Hoàng T, bà Phạm Thị Hồng H liên đới trả tiền vay.

    Buộc bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Hoàng T, bà Phạm Thị Hồng H có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Đặng Thị Bích L với tổng số tiền nợ là 5.750.000.000 đồng (Năm tỷ bảy trăm năm mươi triệu đồng), trong đó tiền gốc là 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng) và tiền lãi là 750.000.000 đồng (B trăm năm mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền nêu trên, thì phải trả lãi phát sinh trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, tại thời điểm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  2. Về án phí: Bà Đặng Thị Bích L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bà L đã nộp tiền tạm ứng án phí với số tiền 57.750.000 đồng (Năm mươi bảy triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng), theo biên lai thu số 0008749 ngày 03 tháng 4 năm 2024 của cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Long An, được nhận lại số tiền 57.750.000 đồng (Năm mươi bảy triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Hoàng T, bà Phạm Thị Hồng H phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 113.750.000 đồng (Một trăm mười ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

  1. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Hoàng T, bà Phạm Thị Hồng H liên đới chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ với số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Buộc bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Hoàng T, bà Phạm Thị Hồng H phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho Đặng Thị Bích L chi phí xem xét thẩm định tại chỗ với số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền và thời hạn kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án đối với các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06/02/2025 và ngày 10/02/2025, các bị đơn bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Hoàng T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngày 05/02/2025, bị đơn bà Phạm Thị Hồng H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, bà H không đồng ý liên đới trách nhiệm cùng ông T, bà T1 trả cho bà Đặng Thị Bích L số tiền 5.750.000.000 đồng. Đồng thời bà L không đồng ý việc Tòa án nhân dân huyện Châu Thành áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngăn chặn đối với hai thửa đất số 423 và 225, tờ bản đồ số 31 do cha bà là ông Phạm Văn B đứng tên. Bà H đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về toàn bộ nội dung vụ án.

Bị đơn bà Nguyễn Thị T1 vẫn giữ yêu cầu kháng cáo không đồng ý liên đới trách nhiệm cùng ông T và bà H trả tiền cho bà L. Ông T2 là người đại diện theo ủy quyền của bà H và ông T thay đổi một phần kháng cáo của bà H, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì các bị đơn không có vay tiền của bà Đặng Thị Bích L như bà L trình bày.

Ông Võ Văn Ú là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Đặng Thị Bích L không đồng ý đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn vì trong quá trình tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm ông T và bà H đều thừa nhận chữ ký và ghi họ tên trên Giấy mươn tiền ngày 10/3/2022 là do ông T và bà H ký. Tại phiên tòa phúc thẩm bà T1 cũng thừa nhận bà có ký và ghi họ tên trên Giấy mượn tiền ngày 10/3/2022. Tuy nhiên các bị đơn cho rằng ký để đảm bảo cho khoản vay của ông T với ông H1 nhưng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Ngoài ra, ông Ú đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 03/2024/QĐ-BPKCTT ngày 07/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự

ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và các đương sự tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của các bị đơn được gửi đến Tòa án đúng thời hạn pháp luật quy định nên đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung vụ án: Đối với kháng cáo của bà T1 và ông T cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vắng mặt bà T1 khi bà đang điều trị tại Bệnh viện C3; ông T phải chăm sóc cho bà T1, thấy rằng: Ngày 15/01/2025, bà H có Đơn xin hoãn phiên tòa với lý do bà T1 bệnh nặng đang điều trị tại Trung tâm Y tế huyện C và được Tòa án chấp nhận. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành ra Quyết định hoãn phiên tòa, phiên tòa được mở lại vào lúc 08 giờ ngày 23/01/2025; Tòa án tống đạt quyết định trực tiếp cho bà T1, ông T, bà H. Tuy nhiên, phiên tòa ngày 23/01/2025 chỉ có bà H tham gia tố tụng, bà T1 và ông T vắng mặt cũng không có đơn xin hoãn phiên tòa nên Tòa án mở phiên tòa xét xử vắng mặt bà T1, ông T là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, kháng cáo của bà T1 và ông T cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng là không có căn cứ.

Đối với kháng cáo của bà T1, ông T và bà H đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L, thấy rằng: Bà L khởi kiện các bị đơn, yêu cầu các bị đơn trả 5.000.000.000 đồng vốn vay và tiền lãi, bà L cung cấp chứng cứ là Giấy mượn tiền ngày 10/3/2022 có chữ ký của các bị đơn dưới cụm từ “Người mượn tiền”. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T và bà H thừa nhận chữ ký và ghi họ tên trên Giấy mượn tiền ngày 10/3/2022 là của ông T, bà H. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T1 cũng thừa nhận chữ ký và ghi họ tên là của bà, tuy nhiên bà chỉ ký để đảm bảo khoản vay cho cháu ngoại bà là ông T đối với ông H1, không phải vay tiền của bà L. Tuy nhiên, các bị đơn không cung cấp được chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của mình. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị đơn đối với số tiền mà các bị đơn phải có nghĩa vụ trả cho bà L. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị T1 có yêu cầu xin miễn án phí sơ thẩm và phúc thẩm. Bà T1 là người cao tuổi nên yêu cầu miễn án phí của bà T1 là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: không chấp nhận kháng cáo của các bị đơn bà H, ông T; chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà T1 về án phí sơ thẩm; sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An về phần án phí đối với bà T1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Hoàng T, bà Phạm Thị Hồng H được thực hiện đúng quy định tại Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự và được gửi đến Tòa án trong thời hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đặng Minh T3, ông Lê Hoàng H1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông T3, ông H1.

[3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: Ngày 12/3/2024, bà Đặng Thị Bích L khởi kiện ông Lê Hoàng T5, bà Nguyễn Thị T1, bà Phạm Thị Hồng H yêu cầu Tòa án buộc các bị đơn liên đới trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền vốn vay 5.000.000.000 đồng của hợp đồng vay tài sản ngày 10/3/2022 và 750.000.000 đồng tiền lãi do các bị đơn vi phạm thời hạn trả nợ. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà T1, ông T5 và bà H có nghĩa vụ liên đới trả cho bà L số tiền 5.750.000.000 đồng. Các bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Riêng bà H kháng cáo không đồng ý việc Tòa án nhân dân huyện Châu Thành áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngăn chặn hai thửa đất số 423 và 225, tờ bản đồ số 31 do ông Phạm Văn B đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét nội dung liên quan đến kháng cáo.

[4] Xét yêu cầu kháng cáo của các bị đơn ông Lê Hoàng T5, bà Nguyễn Thị T1, bà Phạm Thị Hồng H:

[4.1] Đối với kháng cáo của ông Lê Hoàng T5, bà Phạm Thị Hồng H về việc Tòa án nhân dân huyện Châu Thành vi phạm thủ tục tố tụng, thấy rằng: Ngày 15/01/2025, bà Phạm Thị Hồng H có Đơn đề nghị Tòa án hoãn phiên tòa ngày 15/01/2025 với lý do mẹ bà là bà Nguyễn Thị Tuyết B1 nặng phải nằm điều trị tại Trung tâm Y tế huyện C, bà là người trực tiếp chăm sóc (bút lục 166), đơn do ông T5 nộp thay. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành chấp nhận yêu cầu xin hoãn phiên tòa của bà T1, phiên tòa mở lại vào lúc 08 giờ ngày 23/01/2025 theo Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QÐST-DS ngày 15/01/2025. Ngày 16/01/2025, tại nhà ông T5, bà T1, bà H, Tòa án đã tống đạt trực tiếp Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QÐST-DS ngày 15/01/2025 cho bà Phạm Thị Hồng H, bà H cam đoan giao cho ông Nguyễn Hoàng T và bà Nguyễn Thị Tuyết . Bà T1 và ông T ở chung nhà với bà H, phiên tòa ngày 23/01/2025 bà T1 và ông T không tham gia phiên tòa cũng không có đơn đề nghị hoãn phiên tòa nên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành mở phiên tòa xét xử vụ án vào ngày 23/01/2025 vắng mặt bà T1 và ông T là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, kháng cáo của bà H và ông T cho rằng Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử vụ án vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Trong quá trình tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm, ông T và bà H thừa nhận chữ ký và ghi họ tên trên Giấy mượn tiền ngày 10/3/2022 là của ông T và bà H. Tuy nhiên chữ viết trên Giấy mượn tiền không phải do ông T và bà H viết. Ngoài ra, ông T và bà H còn có lời trình bày không thống nhất, ông T thì trình bày ông có thế chấp bốn thửa đất vay của ông Nguyễn Hoàng H2 số tiền 4.500.000.000 đồng; còn bà H thì trình bày ông T thế chấp bốn thửa đất vay của ông Lê Hoàng H1 số tiền

4.500.000.000 đồng. Ông T và bà H không cung cấp được chứng cứ chứng minh chỉ vay của ông H1 số tiền 4.500.000.000 đồng, không có vay của bà L số tiền 5.000.000.000 đồng. Đối với bà Nguyễn Thị T1 không tham gia tố tụng cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tại giai đoạn sơ thẩm. Tại Biên bản giám định chuyên khoa tâm thần của Trung tâm giám định y khoa tỉnh L xác nhận ngày 01/4/2024 đối với bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1948, kết quả: Hiện tại sức khỏe tâm thần bình thường. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T1 thừa nhận chữ ký và chữ viết “Nguyễn Thị T1” trên Giấy mượn tiền ngày 10/3/2022 là do bà ký và viết tên.

Như vậy, ông T, bà T1 và bà H là người trưởng thành; có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nên phải chịu trách nhiệm đối với các giao dịch dân sự do cá nhân các ông, bà xác lập. Do đó, lời trình bày của ông T, bà T1 và bà H cho rằng không có vay tiền của bà L, chỉ ký tên trên Giấy vay tiền ngày 10/3/2022 nên không có trách nhiệm trả nợ cho bà L là không phù hợp với quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật dân sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc các bị đơn là bà T1, ông T, bà H có trách nhiệm liên đới trả cho bà L số tiền 5.000.000.000 đồng vốn vay là có căn cứ.

Đối với lời trình bày của ông Nguyễn Văn T2 là người đại diện theo ủy quyền của bà H cho rằng bà L cho các bị đơn vay số tiền 5.000.000.000 đồng là số tiền lớn mà không yêu cầu các bị đơn ra Văn phòng công chứng ký hợp đồng vay tiền là không phù hợp, thấy rằng: Pháp luật không quy định giao dịch vay tài sản giữa cá nhân với nhau bắt buộc phải ra Văn phòng công chứng mới có giá trị pháp lý. Các bị đơn đều thừa nhận có ký tên vào Giấy mượn tiền ngày 10/3/2022, số tiền 5.000.000.000 đồng. Hợp đồng vay tiền giữa bà L với ông T, bà T1, bà H là hợp đồng vay tiền có kỳ hạn, có lãi nên bà L yêu cầu các bị đơn trả tiền lãi với lãi suất 10%/năm từ ngày 10/3/2022 đến ngày 10/9/2023 là 18 tháng, thành tiền 750.000.000 đồng là có lợi cho các bị đơn nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu tính tiền lãi của bà L là có căn cứ.

Tại Bảng tường trình ngày 13/11/2024 và tại phiên tòa sơ thẩm, bà H trình bày từ năm 2020 đến năm 2021 bà đã đóng lãi cho bà L rất nhiều lần tại nhiều địa điểm khác nhau. Mỗi khi đóng tiền lãi, bà có yêu cầu bà L ghi nhận nhưng bà L nói do tin tưởng nhau thôi. Bà H không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của bà là có căn cứ, bà L không thừa nhận. Người làm chứng là bà Cao Thị N do bà H cung cấp trình bày: Bà là người làm công cho bà H, bà có đi cùng với bà H ba lần nhưng bà không trực tiếp nhìn thấy bà H giao tiền lãi cho bà L cũng không biết bà H giao cho bà L bao nhiêu tiền. Ngoài ra bà H còn trình bày lần trả tiền lãi cuối cùng là vào tháng 12/2021, số tiền 330.000.000 đồng, bà H nhờ ông Cao Hoàng Trọng C vào tài khoản của bà L. Hiện nay ông T4 đã bỏ địa phương đi đâu bà không biết nên không thể cung cấp địa chỉ cho Tòa án. Bà L không thừa nhận có nhận số tiền lãi 330.000.000 đồng như bà H trình bày và các giao dịch vay tiền giữa bà L và bà H xảy ra vào các năm 2020, 2021 đã tất toán xong. Do đó, kháng cáo của ông Nguyễn Hoàng T, bà Nguyễn Thị T1, bà Phạm Thị

Hồng H không đồng ý trả vốn vay và tiền lãi cho bà L là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4.2] Đối với kháng cáo của bà Phạm Thị Hồng H không đồng ý việc Tòa án nhân dân huyện Châu Thành áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” đối với hai thửa đất số 225, 423, tờ bản đồ số 31, tọa lạc tại thị trấn T, huyện C, tỉnh Long An do ông Phạm Văn B đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thấy rằng: Ngày 07/5/2024, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành ra Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 03/2024/QĐ-BPKCTT “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” đối với hai thửa đất số 225, tờ bản đồ số 31, diện tích 408,3m² và thửa đất số 423, tờ bản đồ số 31, diện tích 457,4m² cùng tọa lạc tại thị trấn T, huyện C, tỉnh Long An do ông Phạm Văn B (chồng bà Nguyễn Thị T1) đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi bà L đã thực hiện biện pháp bảo đảm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng dân sự. Cùng ngày 07/5/2024, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã tống đạt quyết định trên cho các bị đơn do ông Nguyễn Hoàng T nhận thay. Ngày 08/5/2024, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành thực hiện quyết định thi hành án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, bà Phạm Thị Hồng H ký tên vào biên bản và cũng không có khiếu nại đến Tòa án nhân dân huyện Châu Thành theo quy định tại Điều 140 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, kháng cáo của bà H đối với Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 03/2024/QĐ-BPKCTT ngày 07/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành không được Hội đồng xét xử xem xét.

[4.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H có yêu cầu Tòa án cho hoãn phiên tòa để bà cung cấp tài liệu chứng cứ, thấy rằng: Ngày 16/5/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Long An ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 171/2025/QĐ-PT, phiên tòa được mở vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 27/5/2025. Tuy nhiên, ông Đặng Minh T3 và ông Lê Hoàng H1 vắng mặt nên Tòa án hoãn phiên tòa, phiên tòa được mở lại vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 18/6/2025. Ngày 17/6/2025, bà Phạm Thị Hồng H có Đơn xin hoãn phiên tòa, lý do bà Nguyễn Thị T1 bị bệnh cao huyết áp phải đưa đi khám chữa bệnh tại Trạm y tế thị trấn T. Tòa án chấp nhận yêu cầu xin hoãn phiên tòa của bà H, phiên tòa được hoãn đến 13 giờ 30 phút ngày 24/6/2025. Tại phiên tòa ngày 24/6/2025 bà H tiếp tục đề nghị Tòa án xin hoãn phiên tòa là không phù hợp với quy định của pháp luật nhằm kéo dài vụ án gây ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn và những người tham gia tố tụng khác nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[4.4] Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị Tuyết X được miễn án phí sơ thẩm và phúc thẩm. Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T1, miễn tiền án phí sơ thẩm và phúc thẩm cho bà T1.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị T1 là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí. Ông Nguyễn Hoàng T, bà Phạm Thị Hồng H kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà ông Nguyễn Hoàng T, bà Phạm Thị Hồng H. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết .

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An về án phí.

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ các Điều 288, 357, 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự;

Áp dụng Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị Bích L về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với các bị đơn là ông Nguyễn Hoàng T, bà Phạm Thị Hồng H, bà Nguyễn Thị Tuyết .
    1. Buộc ông Nguyễn Hoàng T, bà Phạm Thị Hồng H, bà Nguyễn Thị T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Đặng Thị Bích L số tiền 5.750.000.000 đồng (Năm tỷ bảy trăm năm mươi triệu đồng), trong đó tiền gốc là 5.000.000.000 đồng và tiền lãi là 750.000.000 đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác.

  2. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 03/2024/QĐ-BPKCTT ngày 07/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: Phong tỏa tài sản đối với thửa đất số 225, tờ bản đồ số 31, diện tích 408,3m² và thửa đất số 423, tờ bản đồ số 31, diện tích 457,4m² cùng tọa lạc tại thị trấn T, huyện C, tỉnh Long An do ông Phạm Văn B đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện theo quy định tại Chương VIII của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Bà Đặng Thị Bích L không phải chịu án phí, hoàn trả 57.750.000 đồng (Năm mươi bảy triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà bà L đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008749 ngày 03 tháng 4 năm 2024 của cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
    2. Bà Nguyễn Thị T1 được miễn nộp án phí, số tiền 37.916.666 đồng.
    3. Ông Nguyễn Hoàng T, bà Phạm Thị Hồng H phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 75.833.332 đồng, cụ thể ông T chịu 37.916.666 đồng, bà H chịu 37.916.666 đồng.
  4. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Hoàng T, bà Phạm Thị Hồng H, bà Nguyễn Thị T1 phải liên đới chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, số tiền 4.000.000 đồng. Bà Đặng Thị Bích L đã tạm ứng nộp tiền, do đó buộc ông T, bà H, bà T1 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho bà L số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác.

  5. Về án phí dân sự phúc thẩm:
    1. Bà Nguyễn Thị T1 được miễn nộp án phí.
    2. Bà Phạm Thị Hồng H và ông Nguyễn Hoàng T mỗi người phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010744 ngày 10 tháng 02 năm 2025 và 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010745 ngày 10 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Long An sang thi hành án phí.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP. HCM;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Ngọc Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 342/2025/DS-PT ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 342/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Thị Bích L "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" Nguyễn Hoàng T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger