Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 342/2024/HC-PT

Ngày: 24 - 4 - 2024

V/v “Khiếu kiện quyết định hành chính

trong lĩnh vực quản lý đất đai”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Toàn.

Các Thẩm phán: Ông Cao Văn Tám

Bà Bùi Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Ông Đàm Lê Nhân – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, công khai xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thụ lý số: 958/2023/TLPT-HC ngày 30 tháng 11 năm 2023, về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, do Bản án hành chính sơ thẩm số 21/2023/HC-ST ngày 14 tháng 7 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 843/2024/QĐPT, ngày 25 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị L. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang. (Vắng mặt)

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn K. Địa chỉ: Đường N, khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. (Có mặt)

  2. Người bị kiện:
    1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang
    2. Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang.

      Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng A – Chức vụ: Chủ tịch. (Vắng mặt)

      Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tấn T – Chức vụ: Phó chủ tịch. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

      Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND huyện C và Chủ tịch UBND huyện C: Ông Tiêu Minh H, chức vụ: Giám đốc trung tâm phát triển quỹ đất, huyện C. (Vắng mặt)

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nguyễn Văn T1. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang. (Vắng mặt)
    2. Bà Nguyễn Thị Ngọc N. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang. (Vắng mặt)
  4. Người làm chứng: Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn C, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P. (Vắng mặt)

Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị L

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 20/10/2022 và các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày: Vào khoảng năm 2019, cha bà L là ông Nguyễn Văn T1 có cho bà L phần đất diện tích 58,28m² đất ở nông thôn nhưng chưa tách giấy sang tên và bà L đã xây dựng nhà diện tích 58,28m² vào năm 2019, loại nhà cấp 4, đến tháng 7 năm 2020 thì bà L được cấp sổ hộ khẩu và bà L ở liên tục, ổn định đến tháng 9/2021 thì Ủy ban nhân dân huyện C ra Quyết định thu hồi toàn bộ phần đất và căn nhà của bà L. Theo Quyết định số 3538/QĐ-UBND ngày 09/9/2021 của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án: Đường ô tô trung tâm xã P (đợt 4) thì Uỷ ban chỉ bồi thường cho bà L 47% giá trị của căn nhà diện tích 57,77m² và theo Quyết định số 4970/QĐ-UBND ngày 22/11/2021 của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang về việc phê duyệt bổ sung phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án: Đường ô tô về trung tâm xã P (Tái định cư) thì Ủy ban nhân dân huyện C không cấp tái định cư cho bà L. Việc Ủy ban nhân dân huyện C không bồi thường 100% giá trị căn nhà và không cấp tái định cư cho bà L là chưa phù hợp với quy định của pháp luật nên bà L làm đơn khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C để được xem xét giải quyết.

Tại Quyết định số 2420/QĐ-UBND ngày 29/6/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị L (lần đầu) và Quyết định số 2421/QĐ-UBND ngày 29/6/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị L (lần đầu) không những không chấp nhận khiếu nại của bà L mà còn quyết định không bồi thường giá trị nhà cho bà L, thu hồi lại số tiền đã áp giá bồi thường cho bà L. Vì Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C cho rằng, căn nhà bà L xây dựng có bị lập biên bản vi phạm, xét lập luận này của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C là chưa phù hợp, bởi lẽ căn nhà của bà L được xây dựng năm 2019, còn Ủy ban nhân dân ra thông báo thu hồi đất là năm 2021 thì có lý gì bà L bị lập biên bản ghi xây dựng. Ngoài ra, nếu bà L không có chỗ ở hợp pháp thì không có việc bà L được cấp sổ hộ khẩu, mặt khác trước khi Ủy ban nhân dân áp giá bồi thường cũng đã đi xác minh hộ nào thuộc đối tượng bồi thường nên Ủy ban mới áp giá bồi thường cho bà L, khi bà L khiếu nại thì không bồi thường cho bà L nữa là bất hợp lý, làm mất lòng tin của người dân như bà L.

Xét việc Ủy ban nhân dân huyện C cũng như Chủ tịch Ủy Ban nhân dân huyện C không bồi thường 100% giá căn nhà và không cấp tái định cư cho bà L là chưa phù hợp với quy định của pháp luật.

Nay bà L yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xem xét giải quyết: (1) Hủy một phần Quyết định số 3538/QĐ-UBND ngày 09/9/2021 của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án: Đường ô tô về trung tâm xã P đợt 4 (phần liên quan đến bà Nguyễn Thị L); (2) Hủy một phần Quyết định số 4970/QĐ-UBND ngày 22/11/2021 của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang về việc phê duyệt bổ sung phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án: Đường ô tô về trung tâm xã P Tái định cư (phần liên quan đến bà Nguyễn Thị L); (3) Hủy Quyết định số 2420/QĐ-UBND ngày 29/6/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị L (lần đầu); (4) Hủy Quyết định số 2421/QĐ-UBND ngày 29/6/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị L (lần đầu).

Bà L cam đoan không đồng thời khiếu nại các quyết định trên đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.

Người bị kiện trong quá trình giải quyết vụ án vắng mặt và có văn bản ý kiến như sau: Qua nghiên cứu nội dung khởi kiện của bà Nguyễn Thị L, UBND huyện C có ý kiến như sau: Bà Nguyễn Thị L xây dựng nhà, công trình trên phần diện tích đất của cha là Nguyễn Văn T1, bị ảnh hưởng tại dự án Đường Ô về Trung tâm xã P Hữu. Hộ khẩu tại: Ấp P, xã P, huyện C. Hộ bà không bị ảnh hưởng về đất, do đó không phải là đối tượng bị thu hồi đất khi thực hiện dự án.

Về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư: Không có.

Lý do: Bà L xác định thời điểm xây dựng nhà vào năm 2019, đến năm 2020 bà cơi nới ra thêm, kết cấu nhà thống nhất biên bản kiểm đếm ngày 15/3/2021. Khoảng tháng 6/2020 bà thuê nhà tại ấp T thị trấn N sinh sống cho đến nay, nghề nghiệp nhận cuốc líp, ban bờ (xe cuốc). Lý do yêu cầu nâng giá trị từ 47% lên 100% vì xây dựng trên đất ONT của ông Nguyễn Văn T1n Te. Ngoài lời trình bày bà không cung cấp được chứng cứ nào để chứng minh. Về hỗ trợ chi phí di dời cho 03 nhân khẩu qua làm việc với cơ quan Thanh tra bà L không đưa ra được cơ sở pháp lý nào để khiếu nại nội dung này, bà cũng không đồng ý rút lại nội dung này”. Thanh tra huyện tiến hành làm việc với Chủ tịch UBND xã P xác định tính pháp lý về nhà, công trình xây dựng, các thông tin về chỗ ở, về xét tái định cư, UBND xã có báo cáo cụ thể như sau: “Trường hợp của Bà Nguyễn Thị L: xây dựng công trình (nhà) trên diện tích đất nông nghiệp của cha là ông Nguyễn Văn T1, xây dựng vào tháng 11/2020 bị lập biên bản vi phạm hành chính do xây dựng công trình sau ngày công bố Thông báo thu hồi đất của dự án Đường ô tô về trung tâm xã P (Công bố Thông báo thu hồi đất ngày 26/10/2020) Bà L không có sinh sống tại căn nhà bị lập biên bản vi phạm, thực tế bà sinh sống tại Khu Dân cư vượt lũ thị trấn N, cuộc sống ổn định. Hộ khẩu được cấp vào tháng 7/2020, không phải tại vị trí căn nhà ảnh hưởng trong dự án (nhà bị lập biên bản vi phạm). Vị trí UBND xã xác nhận chỗ ở hợp pháp để được cấp Sổ Hộ khẩu là căn nhà xây dựng trên phần đất của ông Nguyễn Văn T2 (cha chồng) cùng ấp P, xã P”. (Biên bản làm việc với ông Trần Văn C Chủ tịch UBND xã P).

Ngày 24/11/2020, UBND xã P có lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với Bà Nguyễn Thị L (xây dựng nhà ở: khung cột thép tiền chế, vách tole, nền gạch men, mái tole, diện tích xây dựng: 5,0m x 12,05m = 60,25m².

Theo biên bản kiểm đếm ngày 15/3/2021, thể hiện bà L bị ảnh hưởng nhà trệt; mỏng xây bó nền, khung cột thép tiền chế, vách tole, nền gạch men, mái tole, diện tích xây dựng 58,28m², diện tích trong phạm vi GPMB là 58,28m². Đối chiếu với biên bản vi phạm lập ngày 24/11/2020 thì công trình này có kết cấu giống nhau, diện tích tương đương.

Căn cứ biên bản vi phạm hành chính ngày 24/11/2020 do UBND xã P lập trong lĩnh vực đất đai đối với bà Nguyễn Thị L do xây dựng công trình sau ngày công bố thông báo thu hồi đất của dự án Đường ô tô về trung tâm xã P (ngày 26/10/2020).

Căn cứ khoản 2, Điều 1 Quyết định số 01/2020/QĐ-UBND, ngày 12 tháng 02 năm 2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hậu Giang ban hành kèm theo Quyết định số 26/2018/QĐ-UBND ngày 28 tháng 12 năm 2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh H quy định:

“2. Sửa đổi, bổ sung Điểm đ Khoản 3 Điều 14 như sau:

đ) Nhà (bao gồm cả nhà ở) và công trình xây dựng sau khi có thông báo thu hồi đất hoặc khi xây dựng có văn bản xử lý, ngăn chặn của cấp thẩm quyền theo quy định thì không bồi thường, không hỗ trợ.”

Căn cứ khoản 6, Điều 1 Quyết định số 01/2020/QĐ-UBND ngày 12/02/2020 của UBND tỉnh H sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hậu Giang ban hành kèm theo Quyết định số 26/2018/QĐ-UBND ngày 28 tháng 12 năm 2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh H quy định.

“6. Sửa đổi, bổ sung Điều 23 như sau:

Điều 23. Bố trí tái định cư, giao đất ở có thu tiền sử dụng đất tại khu tái định cư: 2. Thực hiện giao một (01) nền diện tích theo quy hoạch tại khu tái định cư cho các trường hợp sau đây:

c) Hộ gia đình, cá nhân (ở nhờ trên đất của người có đất bị thu hồi hoặc sống trên sông, rạch, kênh mương) bị di chuyển chỗ ở mà không có chỗ ở (nhà ở, đất ở) nào khác trong xã, phường, thị trấn tại nơi giải tỏa.

d) Các trường hợp quy định tại Điểm a, b, c Khoản này phải có Sổ hộ khẩu hoặc Sổ tạm trú tại nơi giải tỏa hoặc có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn có sinh sống liên tục tại nơi giải tỏa trước thời điểm thông báo thu hồi đất từ đủ 12 tháng trở lên”.

Đối chiếu những cơ sở trên, do nhà của bà L xây dựng trên phần đất của ông T1 bị UBND xã P lập biên bản vi phạm hành chính ngày 24/11/2020, xây dựng công trình sau ngày công bố thông báo thu hồi đất của dự án. Vào thời điểm lập biên bản vi phạm, bà L không có sinh sống tại căn nhà bị lập biên bản, thực tế bà sinh sống tại khu dân cư vượt lũ thị trấn N. Do đó bà L yêu cầu cấp tái định cư là không có cơ sở xem xét, giải quyết.

Ngày 29/5/2021, UBND xã P xác nhận pháp lý để tính bồi thường. hỗ trợ và tái định cư cụ thể như sau:

  • + Về đất: không bị ảnh hưởng.
  • + Về nhà, công trình: Nhà, công trình xây dựng trên đất nông nghiệp, xây dựng trên đất đủ điều kiện bồi thường về đất. mục đích sử dụng nhà không dùng để ở, thuộc nhà và công trình còn lại khác. Không tranh chấp, không lấn chiếm, nhà và công trình hộ sử dụng từ trước đến nay. Thời điểm xây dựng: Nhà, công trình đã hoàn thành xây dựng đưa vào sử dụng sau ngày 01/7/2006 trước ngày thông báo thu hồi đất, trên đất không đủ điều kiện bồi thường về đất ở, không bị lập biên bản, không có biên bản ngăn chặn.

Quá trình thu thập chứng cứ, ông Nguyễn Văn T1 có đơn xin xét xử vắng mặt và không tranh chấp gì với bà L.

Tại Bản án sơ thẩm số 21/2023/HC-ST ngày 14 tháng 7 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh Hậu Giang đã quyết định:

Căn cứ vào:

  • Các Điều 6, Điều 30, Điều 32, Điều 116, Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 193, Điều 206, Điều 348 của Luật tố tụng hành chính 2015;
  • Điều 62, Điều 66, Điều 67, Điều 68, Điều 69 Luật đất đai năm 2013;
  • Khoản 1 Điều 18, Điều 27, Điều 29, Điều 30, Điều 31, Điều 32 của Luật khiếu nại năm 2011;
  • Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.
  • Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ T5;
  • Quyết định số 26/2018/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 của UBND tỉnh H, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Quyết định số 01/2020/QĐ-UBND ngày 12/02/2020 của UBND tỉnh H;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L:
    • Hủy một phần Quyết định số 3538/QĐ-UBND ngày 09/9/2021 của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án: Đường ô tô về trung tâm xã P đợt 4 (phần liên quan đến bà Nguyễn Thị L);
    • Hủy Quyết định số 2421/QĐ-UBND ngày 29/6/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị L (lần đầu).
    • Huỷ quyết định số 2760/QĐ-UBND ngày 15/7/2022 của UBND huyện C về việc điều chỉnh một phần nội dung quyết định số 3538/QĐ-UBND ngày 09/9/2021 của UBND huyện C đối với hộ bà Nguyễn Thị L.
  2. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu hủy một phần Quyết định số 4970/QĐ-UBND ngày 22/11/2021 của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang về việc phê duyệt bổ sung phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án: Đường ô tô về trung tâm xã P tái định cư (phần liên quan đến bà Nguyễn Thị L) và Quyết định số 2420/QĐ-UBND ngày 29/6/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị L (lần đầu) liên quan đến yêu cầu cấp tái định cư.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 28/7/2023, người khởi kiện – bà Nguyễn Thị L có đơn kháng cáo một phần nội dung bản án sơ thẩm. Cụ thể, bà L kháng cáo phần nội dung bản án sơ thẩm tuyên bác yêu cầu khởi kiện của bà L về việc yêu cầu hủy một phần Quyết định số 4970/QĐ-UBND ngày 22/11/2021 của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang về việc phê duyệt bổ sung phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án: Đường ô tô về trung tâm xã P tái định cư (phần liên quan đến bà Nguyễn Thị L) và Quyết định số 2420/QĐ-UBND ngày 29/6/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị L (lần đầu) liên quan đến yêu cầu cấp tái định cư. Bà L trình bày: Vào năm 2019, cha của bà L là ông Nguyễn Văn T1 có cho bà L một phần đất diện tích 58,28m2, đất ở nông thôn nhưng chưa tách giấy sang tên bà L và bà L đã xây dựng nhà diện tích 58,28m2 vào năm 2019, loại nhà cấp 4, đến tháng 7 năm 2020 thì bà L được cấp sổ hộ khẩu và bà L đã ở liên tục, ổn định. Đến tháng 9 năm 2021, Ủy ban nhân dân huyện C ra Quyết định thu hồi toàn bộ phần đất và căn nhà của bà L. Khi bà L xây dựng nhà không bị lập biên bản và xây dựng trước khi có thông báo thu hồi đất, ngoài căn nhà bị thu hồi ra thì bà L không còn đất ở, nhà ở nào khác nhưng Ủy ban nhân dân huyện C không cho bà L được hưởng suất tái định cư là chưa phù hợp.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người kháng cáo – bà Nguyễn Thị L có người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo tại đơn kháng cáo của bà L, nội dung trình bày giữ nguyên tất cả lời trình bày từ trước đến nay như ở giai đoạn sơ thẩm và trong nội dung đơn kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị L làm trong hạn luật định nên hợp lệ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm.

Về nội dung: Phía người khởi kiện không đưa ra được tình tiết và chứng cứ nào mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đúng pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

  1. [1] Về tố tụng:
    1. [1.1] Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị L làm trong hạn luật định, thủ tục kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
    2. [1.2] Các đương sự có đơn xin vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 225 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
  2. [2] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu được cấp nền tái định cư:

    Căn cứ Đơn xin xác nhận chỗ ở hợp pháp lập tháng 6 năm 2020 (BL 117) của bà Nguyễn Thị L tại địa chỉ ấp P, xã P, huyện C thể hiện nhà xây dựng trên diện tích đất 7.093m2 có nguồn gốc đất nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Như vậy, căn nhà bà L xin xác nhận chỗ ở hợp pháp không phải là căn nhà trên phần đất của ông Nguyễn Văn T1 bị thu hồi; Căn cứ Biên bản xác minh nội dung khiếu nại của bà L (BL 79) có nội dung bà L trình bày từ tháng 6/2020 bà L thuê nhà tại thị trấn N, huyện C sinh sống. Từ đó có cơ sở xác định bà L không có hộ khẩu, không thực tế cư trú tại căn nhà trên phần đất bị thu hồi của ông Nguyễn Văn T1.

    Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 23 Quyết định số 26/2018/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh H quy định về việc giao đất ở tái định cư trong trường hợp hộ gia đình, cá nhân ở nhờ trên đất người khác... thì phải có sổ hộ khẩu, sổ tạm trú hoặc xác nhận ở liên tục 12 tháng trở lên, phải di chuyển chỗ ở.

    Xét thấy, bà L không có sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, xác nhận ở liên tục 12 tháng trên phần đất bị thu hồi của ông Nguyễn Văn T1, tại thời điểm thu hồi đất bà L không phải di chuyển chỗ ở. Do đó, bà L không đủ điều kiện để được cấp nền tái định cư.

    Từ các nhận định nêu trên có cơ sở xác định Ủy ban nhân dân huyện C không cấp nền tái định cư cho bà L là có căn cứ, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L về việc yêu cầu hủy một phần Quyết định số 4970/QĐ-UBND ngày 22/11/2021 của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang về việc phê duyệt bổ sung phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án: Đường ô tô về trung tâm xã P tái định cư (phần liên quan đến bà Nguyễn Thị L) và Quyết định số 2420/QĐ-UBND ngày 29/6/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị L (lần đầu) liên quan đến yêu cầu cấp tái định cư là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật.

    1. [2.3] Bà Nguyễn Thị L kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà. Nhưng trong quá trình giải quyết theo thủ tục phúc thẩm bà L không xuất trình được chứng cứ nào mới để Hội đồng xét xử xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bà L; Đối với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm đề nghị bác kháng cáo của người khởi kiện là có căn cứ, đúng pháp luật và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm số 21/2023/HC-ST ngày 14/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
  3. [3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
  4. [4] Về án phí hành chính phúc thẩm:

    Do yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị L không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí hành chính phúc thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị L. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 21/2023/HC-ST ngày 14/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang:
    1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L:
      • Hủy một phần Quyết định số 3538/QĐ-UBND ngày 09/9/2021 của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án: Đường ô tô về trung tâm xã P đợt 4 (phần liên quan đến bà Nguyễn Thị L);
      • Hủy Quyết định số 2421/QĐ-UBND ngày 29/6/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị L (lần đầu).
      • Huỷ quyết định số 2760/QĐ-UBND ngày 15/7/2022 của Ủy ban nhân dân huyện C về việc điều chỉnh một phần nội dung quyết định số 3538/QĐ-UBND ngày 09/9/2021 của Ủy ban nhân dân huyện C đối với hộ bà Nguyễn Thị L.
    2. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu hủy một phần Quyết định số 4970/QĐ-UBND ngày 22/11/2021 của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang về việc phê duyệt bổ sung phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án: Đường ô tô về trung tâm xã P tái định cư (phần liên quan đến bà Nguyễn Thị L) và Quyết định số 2420/QĐ-UBND ngày 29/6/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị L (lần đầu) liên quan đến yêu cầu cấp tái định cư.
  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
  3. Án phí hành chính phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí hành chính phúc thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được cấn trừ với số tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm mà bà L đã nộp theo Biên lai đóng tạm ứng án phí số 0000031 ngày 07 tháng 8 năm 2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang. Bà Nguyễn Thị L đã nộp đủ án phí hành chính phúc thẩm.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân Tối cao
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM
  • - Toà án nhân dân tỉnh Hậu Giang
  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Hậu Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP, 17bBDQK.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Đức Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 342/2024/HC-PT ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 342/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y Án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger