Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 342/2024/DS-PT

Ngày 25 - 6 - 2024

V/v tranh chấp “Quyền sử dụng

đất và mở lối đi qua bất động sản

liền kề"

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Việt Trung.

Các Thẩm phán: Ông Võ Thanh Bình.

Ông Trần Hữu Tính.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Hương – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Ngọc Thư Trúc - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 467/2023/TLPT-DS ngày 20/11/2023 về việc tranh chấp “Quyền sử dụng đất và mở lối đi qua bất động sản liền kề”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 257/2023/DS-ST ngày 25/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 955/2023/QĐ-PT ngày 27/11/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị D, sinh năm 1954 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã P, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn bà Hồ Thị D: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1966 (có mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã P, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Hồ Thị D: Luật sư Nguyễn Thanh T – Đoàn luật sư tỉnh T (có mặt).

- Bị đơn: Ông Hồ Ngọc P, sinh năm 1959 (có mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã P, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Hồ Ngọc P: Luật sư Nguyễn Hữu T1 – Văn phòng luật sư Nguyễn H – Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

* Thành viên hộ bà Hồ Thị D:

  1. Anh Hồ Phương T2, sinh năm 1982 (vắng mặt).
  2. Chị Ngô Thị L, sinh năm 1987 (có mặt).
  3. Hồ Nhật T3, sinh năm 2004 (xin vắng mặt).
  4. Anh Hồ Hoàng N, sinh năm 1983 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: ấp T, xã P, huyện G, Tiền Giang.

  1. Chị Lê Kim H1, sinh năm 1978 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện hợp phâp theo ủy quyền của chị H1: Bà Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 1973 (có mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã P, huyện G, Tiền Giang.

* Thành viên hộ ông Hồ Ngọc P:

  1. Bà Nguyễn Thị Ả, sinh năm 1961 (xin vắng mặt).
  2. Chị Hồ Thị Kim L1, sinh năm 1979 (có mặt).
  3. Chị Hồ Thị Kim D1, sinh năm 1979 (có mặt).
  4. Anh Hồ Ngọc T4, sinh năm 1985 (xin vắng mặt).
  5. Anh Hồ Ngọc H3, sinh năm 1990 (xin vắng mặt).
  6. Chị Nguyễn Ngọc T5, sinh năm 1990 (xin vắng mặt).
  7. Lê Duy T6, sinh năm 2000 (xin vắng mặt).

Cùng địa chỉ: ấp T, xã P, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

  1. Chị Hồ Thị Kim T7, sinh năm 1988 (có mặt).

Địa chỉ: ấp Việt Hùng, xã Long Hòa, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Hồ Thị D; Bị đơn ông Hồ Ngọc P.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo bản án sơ thẩm, nguyên đơn bà Hồ Thị D và ông Nguyễn Văn V - đại diện ủy quyền của nguyên đơn bà Hồ Thị D trình bày:

Hộ bà D đang quản lý, sử dụng thửa đất số 217, tờ bản đồ số 11, diện tích 953,5m² đất ở tại nông thôn và đất trồng cây lâu năm tọa lạc ấp T, xã P theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00773 do UBND huyện G cấp ngày 14/8/2014. Nguồn gốc đất do hộ gia đình bà được mẹ bà là bà Hồ Thị H4 tặng cho sử dụng từ trước năm 1975 đến năm 1996 gia đình bà được UBND huyện G cấp quyền sử dụng theo giấy chứng nhận số 00034 ngày 30/12/1996 thuộc 02 thửa số 778 diện tích 390m² và thửa 779 diện tích 1.020m² cùng tờ bản đồ số 1. Đến năm 2006, bà xin hợp 02 thửa đất số 778 và 779 thành thửa số 2205, tờ bản đồ số diện tích 1.410m² theo giấy chứng nhận số 00954/TN2 do UBND huyện G cấp ngày 08/3/2006. Trong cùng năm 2006, gia đình bà tách diện tích 400m² thành thửa số 2206 chuyển nhượng cho ông Đặng Văn C (ngụ ấp D, xã P), diện tích còn lại là 1.010m² được cấp lại thành thửa số 2207, tờ bản đồ số 01 theo giấy chứng nhận

số H 00968/TN2 do UBND huyện G cấp ngày 23/3/2006. Đến năm 2014, thửa số 2207 được cấp đổi lại thành thửa số 217 như hiện nay.

Giáp ranh hướng Bắc của thửa 217 là thửa 199 của hộ ông P và dọc theo ranh hướng Tây của thửa 217 là lối đi hiện gia đình bà và gia đình ông P sử dụng chung để đi từ nhà ra đường nhựa Thanh Nhung 2. Phần đất lối đi trước đây là đất của gia đình bà đã được UBND huyện G cấp vào năm 1996 như nêu trên, năm 2006 khi tách một phần diện tích để chuyển nhượng cho ông C sau khi hợp 02 thửa 778 và 779 thì nhà nước vẫn cấp lại phần đất này cho gia đình bà thuộc thửa số 2207. Tuy nhiên, khi V1 tiến hành đo đạc để cấp đổi sổ mới (giấy chứng nhận) thì ông P chỉ ranh lấn qua đất của bà để được cấp quyền sử dụng phần đất lối đi qua đo đạc thực tế có diện tích 163,2m² thuộc thửa số 199 cho hộ ông P. Do bà D không biết chữ nên không hay biết việc này. Khi ông P đến giành phần đất lối đi này với bà nên bà biết địa chính đã lấy phần đất này của bà để cấp cho hộ ông P. Bà gửi đơn đến UBND xã P, kết quả hòa giải: ông P thừa nhận phần đất lối đi này không phải của ông nhưng ông không trả lại đất cho bà mà chỉ đồng ý trả đất để làm lối đi công cộng nên bà khởi kiện. Vì thửa đất số 217 của bà qua các lần cấp đổi giấy chứng nhận đều thể hiện giáp với các thửa đất khác, không giáp với đường công cộng. Trước nay bà hoàn toàn không có hiến đất để làm lối đi công cộng. Lối đi này do gia đình bà sử dụng và có cho ông P đi nhờ, không phải là lối đi công cộng. Các hộ dân tại địa phương đều có lối đi khác để ra đường công cộng. Việc UBND huyện G cấp quyền sử dụng phần đất lối đi này cho hộ ông P là trái pháp luật vì đây là đất gốc của gia đình bà, đã được UBND huyện G cấp cho bà từ năm 1996 và năm 2006, hoàn toàn không liên quan đến đất của hộ ông P.

Theo đơn khởi kiện ngày 22/8/2022, bà D yêu cầu: công nhận cho hộ gia đình bà được quyền sử dụng đối với phần đất có chiều ngang 2,09m và chiều dài 60m, diện tích 125,4m² gắn liền với thửa số 217 nêu trên; Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông P giảm diện tích thửa số 199 với diện tích 125,4m² cho đúng thực tế.

Theo đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 16/6/2023, bà D yêu cầu: Buộc hộ ông P trả lại phần đất có diện tích 163,2m² thuộc thửa số 217 nêu trên.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông V - đại diện ủy quyền của bà D yêu cầu: Buộc hộ ông P trả lại phần đất qua đo đạc thực tế có diện tích 163,2m² thuộc thửa số 217; Bà D không đồng ý với yêu cầu phản tố của ông P vì ông P có thể đi đường bờ kênh để ra 02 đường công cộng khác. Đối với chi phí tố tụng, bà D yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Ngoài ra, bà D không yêu cầu gì khác.

* Bị đơn ông Hồ Ngọc P trình bày:

Hiện hộ gia đình ông đang quản lý, sử dụng thửa đất số 199, tờ bản đồ số 11, diện tích 975,2m² đất ở tại nông thôn và đất trồng cây lâu năm tọa lạc ấp T, xã P theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 04146 do UBND huyện G cấp ngày 24/12/2014. Nguồn gốc đất do hộ gia đình ông được bà nội ông là bà Hồ Thị

K sau khi chết đã tặng cho lại ông sử dụng từ năm trước năm 1996. Gia đình ông được UBND huyện G cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00121 ngày 30/12/1996 đối với 02 thửa đất: thửa số 780, diện tích 920m² và thửa số 781, diện tích 480m² cùng tờ bản đồ số 1. Năm 2013, khi VLAP đo đạc, ông xin hợp 02 thửa đất số 780 và số 781; đồng thời tách diện tích 760,4m² tặng cho con trai ông là anh Hồ Ngọc T4 thuộc thửa số 157, còn gia đình ông được cấp đổi phần diện tích còn lại thành thửa số 199 hiện nay.

Giáp ranh hướng Nam của thửa số 199 là thửa đất số 217 của hộ bà D, ông và bà D là chị em cô cậu với ông. Từ trước năm 1975, ông nội của ông đồng thời là ông ngoại của bà D sử dụng lối đi dọc theo ranh hướng Tây của thửa số 217 để đi từ nhà ra đường N, hiện lối đi hai bên đang tranh chấp. Ông ở chung nhà với ông nội của ông từ nhỏ đến nay, nên sau khi ông nội của ông chết thì gia đình ông tiếp tục sử dụng lối đi này để ra đường công cộng. Quá trình sử dụng lối đi này, ông có đổ đất san lấp cho cao ráo và đổ đá mi xanh trên bề mặt lối đi để tránh sình lầy.

Sau này bà D về sinh sống trên thửa 217 có đường đi riêng vào nhà ở vị trí dọc theo ranh hướng Đông của thửa 217 nên bà có trồng hàng rào dâm bụt và cắm trụ xi măng để phân ranh giới giữa đất của bà và lối đi này. Năm 2006, bà D tách thửa bán đất cho ông Đặng Văn C nên chuyển sang sử dụng chung lối đi hiện nay với gia đình ông. Năm 2012, bà D cùng con trai là Hồ Phương T2 (sống chung nhà với bà D) có ký giấy tay đồng ý nhường phần đất lối đi này cho gia đình ông và con cháu đời sau sử dụng, không tranh chấp nên khi VLap đến đo đạc lại đất đã cấp phần đất lối đi này cho gia đình ông thuộc thửa số 199 từ năm 2013 đến nay, gia đình bà D không ai có ý kiến. Năm 2022, bà D cho rằng phần đất lối đi này là đất của bà và bà đã chặt bỏ hàng rào dâm bụt (gốc cây hiện vẫn còn), nhổ trụ ranh xi măng trước cửa nhà ông và khởi kiện yêu cầu ông trả lại phần đất này. UBND xã P động viên hai bên sử dụng phần đất này làm lối đi công cộng và giữ nguyên hiện trạng như hiện nay nhưng bà D không đồng ý.

Nay ông xác định phần đất lối đi qua đo đạc thực tế có diện tích 163,2m² do ông bà nội của ông để lại cho gia đình ông sử dụng làm lối đi và gia đình ông đã sử dụng làm lối đi riêng từ nhà ra đường công cộng từ trước năm 1975 đến năm 2006 thì gia đình ông cho bà D sử dụng chung; hơn nữa gia đình bà D đã viết giấy tay nhường lối đi này cho gia đình ông sử dụng, ông cũng đã được cấp quyền sử dụng từ năm 2014 đến nay nên ông chỉ đồng ý trả phần đất này để làm lối đi chung (lối đi công cộng) và yêu cầu bà D giữ nguyên hiện trạng lối đi như hiện nay vì hiện gia đình ông không còn lối đi nào khác để đi từ nhà cất trên thửa 199 ra đường công cộng (đường H). Trường hợp lối đi này thuộc quyền sử dụng của bà D thì ông yêu cầu được tiếp tục sử dụng lối đi này với kích thước ngang 1,5m và dài khoảng 66,1m vì gia đình ông không còn lối đi nào khác để ra đường công cộng. Đối với chi phí đổ đất nâng cao lối đi và phần đá mi ông đã đổ để cải tạo lối đi thì ông không có yêu cầu hoàn lại. Ngoài ra, ông không yêu cầu gì khác.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hồ Phương T2 và chị Ngô Thị L thống nhất trình bày:

Anh chị thống nhất với ý kiến và yêu cầu khởi kiện nêu trên của nguyên đơn bà D. Năm 2012, anh T2 cùng bà D có ký giấy tay đồng ý cho gia đình ông P sử dụng lối đi này như ông P trình bày. Tuy nhiên phần đất này là đất của cả hộ gia đình bà D nhưng các thành viên còn lại của hộ hiện không đồng ý; hơn nữa, anh T2 và mẹ anh là bà D chỉ đồng ý cho đi nhờ chứ không phải cho sang tên. Anh T2 không đồng ý với yêu cầu phản tố của ông P.

* Bà Nguyễn Ngọc H2 - đại diện ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Kim H1 trình bày: Thống nhất với ý kiến và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà D, không đồng ý với yêu cầu phản tố của bị đơn ông P.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hồ Hoàng N xin vắng mặt và xác định không có ý kiến gì khác với ý kiến của nguyên đơn bà D.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các thành viên còn lại của hộ ông Hồ Ngọc P gồm bà Nguyễn Thị Ả, chị Hồ Thị Kim L1, chị Hồ Thị Kim D1, anh Hồ Ngọc T4, anh Hồ Ngọc H3, chị Nguyễn Ngọc T5, Lê Duy T6 và chị Hồ Thị Kim T7 thống nhất trình bày: Thống nhất với ý kiến và yêu cầu của bị đơn ông P.

* Bản án dân sự sơ thẩm số 257/2023/DS-ST ngày 25/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang, đã áp dụng Điều 163, 166, 254 và 357 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 91, 92, 147, 157, 165, 259 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 95 và Điều 171 Luật Đất đai năm 2013; Điều 2 Luật Người cao tuổi; Điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị D.

Công nhận phần đất qua đo đạc thực tế có diện tích 163,2m² thuộc thửa số 199, tờ bản đồ số 11, tọa lạc ấp T, xã P, huyện G, tỉnh Tiền Giang hiện ông Hồ Ngọc P đại diện hộ đứng tên theo Giấy chứng nhận số CH04146 do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 24/12/2014 là thuộc quyền sử dụng của hộ bà Hồ Thị D;

Buộc hộ ông Hồ Ngọc P gồm: bà Nguyễn Thị Ả, chị Hồ Thị Kim L1, chị Hồ Thị Kim D1, anh Hồ Ngọc T4, anh Hồ Ngọc H3, chị Nguyễn Ngọc T5, anh Lê Duy T6, chị Hồ Thị Kim T7 trả lại hộ bà D phần đất này với vị trí:

  • - Đông giáp đất Hồ Thị D;
  • - Tây giáp đất Trần Thị H5;
  • - Nam giáp đường H (nhựa);
  • - Bắc giáp đất Hồ Ngọc P.

(có sơ đồ đo đạc kèm theo)

2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Hồ Ngọc P.

Buộc hộ bà Hồ Thị D gồm: anh Hồ Phương T2, chị Ngô Thị L, Hồ Nhật T3, anh Hồ Hoàng N và chị Lê Kim H1 phải mở cho hộ ông Hồ Ngọc P lối đi có diện tích 99,2m² trên phần đất qua đo đạc thực tế có diện tích 163,2m² nêu trên tọa lạc ấp T, xã P, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Lối đi có vị trí:

  • - Đông giáp đất Hồ Thị D;
  • - Tây giáp đất Trần Thị H5;
  • - Nam giáp đường H (nhựa);
  • - Bắc giáp đất Hồ Ngọc P.

(có sơ đồ đo đạc kèm theo)

Đồng thời, buộc hộ ông Hồ Ngọc P gồm: bà Nguyễn Thị Ả, chị Hồ Thị Kim L1, chị Hồ Thị Kim D1, anh Hồ Ngọc T4, anh Hồ Ngọc H3, chị Nguyễn Ngọc T5, anh Lê Duy T6, chị Hồ Thị Kim T7 phải đền bù giá trị quyền sử dụng phần đất mở lối đi cho hộ bà Hồ Thị D với số tiền là 198.400.000 đồng (Một trăm chín mươi tám triệu bốn trăm nghìn đồng).

Hộ ông Hồ Ngọc P được quyền đăng ký cấp quyền sử dụng phần đất được mở lối đi là 99,2m² theo quy định tại Điều 95 Luật Đất đai năm 2013 nhưng hiện hộ ông P đã đứng tên phần đất này từ năm 2014 theo Giấy chứng nhận số CH04146 do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 24/12/2014. Nên sau khi khấu trừ vào diện tích phải trả lại cho hộ bà Hồ Thị D là 163,2m² như nêu trên thì hộ ông P còn phải tách chuyển quyền cho hộ bà D diện tích là 64m² với vị trí và kích thước theo 02 sơ đồ đo đạc kèm theo bản án.

Các bên đương sự được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để tiến hành thủ tục đăng ký biến động đất đai theo quyết định của bản án đã tuyên theo quy định của Luật đất đai hiện hành.

Việc trả đất, mở lối đi và đền bù giá trị đất như nêu trên được thực hiện ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

3. Về chi phí tố tụng:

Buộc ông Hồ Ngọc P có nghĩa vụ hoàn lại bà Hồ Thị D số tiền 4.936.522 đồng (Bốn triệu chín trăm ba mươi sáu nghìn năm trăm hai mươi hai đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà D và ông P không phải nộp án phí do thuộc diện người cao tuổi.

- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của đương sự.

* Ngày 28/9/2023, bị đơn ông Hồ Ngọc P có đơn kháng cáo yêu cầu: sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Ngày 06/10/2023, nguyên đơn bà Hồ Thị D có đơn kháng cáo yêu cầu: Buộc ông P trả lại đủ diện tích đất 163,2m² đã tự chiếm trái quy định của pháp luật; Không chấp nhận mở lối đi cho ông P qua đất của bà, vì ông P có nhiều lối đi khác thuận tiện để đi ra đường công cộng và đất của con ruột ông P vẫn mở được lối đi cho ông P đi ra đường công cộng rất thuận lợi.

* Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự trình bày:

- Ông Nguyễn Văn V – đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Hồ Thị D thay đổi yêu cầu kháng cáo; đề nghị hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định của pháp luật.

- Luật sư Nguyễn Thanh T bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Hồ Thị D có nhiều lập luận cho rằng: Căn cứ vào sơ đồ đo đạc phần đất tranh chấp thể hiện: trong diện tích đất tranh chấp đo đạc thực tế 163,2m2 có 01 phần đất bà Trần Thị H5 – hộ giáp ranh đang quản lý sử dụng. Đây là tình tiết mới phát sinh; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà D, hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định của pháp luật.

- Ông Hồ Ngọc P thay đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định của pháp luật.

- Luật sư Nguyễn Hữu T1 bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Hồ Ngọc P có nhiều lập luận cho rằng: Ông P được cấp quyền sử dụng đất đối với phần đất lối đi là 124m², trong diện tích đất tranh chấp đo đạc thực tế 163,2m², trong đó có 01 phần đất hiện đang do bà Trần Thị H5 – hộ giáp ranh quản lý sử dụng. Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông P trả cho bà D diện tích đất 163,2m² là ảnh hưởng đến quyền lợi của ông P. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phát biểu:

+ Về tố tụng: Kể từ ngày thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng tuân thủ đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung vụ án: Căn cứ vào kết quả đo đạc thực tế, trong diện tích đất tranh chấp 163,2m² có 15,1m2 đất hiện đang do bà Trần Thị H5 – hộ giáp ranh quản lý sử dụng. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và bị đơn thay đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn; hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên và những quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét xác định mối quan hệ tranh chấp, thẩm quyền và áp dụng pháp luật trong việc giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật dân sự và tố tụng dân sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: bà Nguyễn Thị Ả, anh Hồ Ngọc T4, anh Hồ Ngọc H3, chị Nguyễn Ngọc T5, Lê Duy T6, Hồ Phương T2, Hồ Nhật T3 và anh Hồ Hoàng N vắng mặt, nhưng có đơn xin vắng mặt. Căn cứ vào Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Hồ Ngọc P và bà Hồ Thị D; Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ vào sơ đồ đo đạc hiện trạng khu đất ngày 30/12/2022 thể hiện: Trong phần đất tranh chấp đo đạc thực tế có diện tích 163,2m² có diện tích đất 14,8m² và 0,3m2 = 15,1m² đang do bà Trần Thị H5 quản lý sử dụng. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông V – đại diện theo ủy quyền của bà D có yêu cầu Tòa án giải quyết: buộc bà H5 trả lại diện tích đất này. Đồng thời tại Tòa án cấp phúc thẩm, ông V – đại diện theo ủy quyền của bà D và ông P thay đổi yêu cầu kháng cáo; đề nghị hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định của pháp luật.

Xét thấy: Đây là tình tiết mới phát sinh. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và nhằm đảm bảo 02 cấp xét xử, cần thiết hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định của pháp luật. Do đó, yêu cầu kháng cáo của bà D và ông P tại phiên tòa phúc thẩm, là có căn cứ để chấp nhận.

[3] Ý kiến của Kiểm sát viên và của 02 luật sư phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Về án phí: Do hủy bản án sơ thẩm, nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; án phí dân sự sơ thẩm được xác định khi giải quyết lại vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Hồ Thị D.

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Hồ Ngọc P.

Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 257/2023/DS-ST ngày 25/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

Giao hồ sơ vụ án về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định của pháp luật.

Về án phí:

  • - Án phí dân sự sơ thẩm: Được xác định lại khi giải quyết lại vụ án.
  • - Bà Hồ Thị D và ông Hồ Ngọc P không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
  • - Bà D không có nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm.
  • - Ông P không có nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm.
  • - Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - TAND huyện Gò Công Đông;
  • - CCTHADS huyện Gò Công Đông;
  • - Đăng cổng thông tin điện tử;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
  • DSPT-2024-H

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Việt Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 342/2024/DS-PT ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp “quyền sử dụng đất và mở lối đi qua bất động sản liền kề"

  • Số bản án: 342/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp “Quyền sử dụng đất và mở lối đi qua bất động sản liền kề"
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ Thị Dung kiện Hồ Ngọc Phước tranh chấp “Quyền sử dụng đất và mở lối đi qua bất động sản liền kề”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger