Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 342/2021/HNGĐ-PT

Ngày: 12-4-2021

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

_________________________

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa: Bà Trần Thị Lệ Uyên
  • Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Hoàng Anh
  • Bà Võ Thị Mỹ Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Tây – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Phạm Phương Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2021/TLPT-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Do Bản án sơ thẩm số 23/2021/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện C bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 191/2021/QĐDS-PT ngày 15 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1990.
  • Địa chỉ: C14/18 A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Trần Ngọc Bảo Q, sinh năm 1981.
  • Địa chỉ: D1/26C Ấp 4, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Trần Ngọc Bảo Q

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm nội dung vụ án như sau:

* Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm T trình bày:

Bà và ông Nguyễn Trần Ngọc Bảo Q chung sống với nhau từ năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2008 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Từ năm 2019, vợ chồng đã sống riêng, không còn yêu thương, chăm sóc lẫn nhau. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Q.

Về con chung: Có hai con chung tên Nguyễn Tiến D, sinh ngày 01/3/2010 và Nguyễn Ngọc Hải M, sinh ngày 22/7/2013, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông Q cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có

* Bị đơn ông Nguyễn Trần Ngọc Bảo Q trình bày:

Ông thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị Cẩm T về quá trình chung sống, con chung, tài sản chung và nợ chung. Ông xác nhận vợ chồng có mâu thuẫn nhưng không trầm trọng, cũng có vài lần xảy ra xô xát và chỉ mới ly thân khoảng 03 tháng nay. Đối với yêu cầu của bà T, ông không đồng ý ly hôn vì ông còn yêu thương vợ con, ông đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ông đoàn tụ. Vì không đồng ý ly hôn nên ông không yêu cầu giải quyết về con chung, tài sản chung và nợ chung.

Tại Bản án sơ thẩm số 23/2021/HNGĐ-ST ngày 07/01/2021, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Cẩm T được ly hôn với ông Nguyễn Trần Ngọc Bảo Q (bà T và ông Q đã đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 25, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/11/2008)

Về con chung: Giao trẻ Nguyễn Tiến D, giới tính nam, sinh ngày 01/3/2010 và Nguyễn Ngọc Hải M, giới tính nữ, sinh ngày 22/7/2013 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông Q thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Ông Q có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn kháng cáo không đồng ý ly hôn, các nội dung khác không có đương sự nào kháng cáo. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, phạm vi xét xử phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo, các vấn đề khác không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xét.

[2] Về nội dung: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 240 ngày 17/11/2008 của Ủy ban nhân dân Phường A, Quận B, xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Cẩm T và ông Nguyễn Trần Ngọc Bảo Q là hợp pháp, có hai con chung tên Nguyễn Tiến D, sinh ngày 01/3/2010 và Nguyễn Ngọc Hải M, sinh ngày 22/7/2013.

[3] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Trần Ngọc Bảo Q, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Trong quá trình chung sống, mâu thuẫn phát sinh vì bà Nguyễn Thị Cẩm T cho rằng vợ chồng bất đồng quan điểm sống, hiện tại không còn tình cảm. Ông Nguyễn Trần Ngọc Bảo Q cũng xác nhận vợ chồng có mâu thuẫn, có xảy ra xô xát, nhưng ông còn thương yêu vợ con. Hội đồng xét xử thấy rằng cả hai đã khai thống nhất về nguyên nhân xung đột gia đình và thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng là có thật, hiện tại cuộc sống chung không hạnh phúc. Do đó, căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nhận thấy án sơ thẩm xử cho ly hôn là có cơ sở.

[3.2] Về con chung: Ông Nguyễn Trần Ngọc Bảo Q đồng ý giao hai con chung tên Nguyễn Tiến D, sinh ngày 01/3/2010 và Nguyễn Ngọc Hải M, sinh ngày 22/7/2013 cho bà Nguyễn Thị Cẩm T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận bà Nguyễn Thị Cẩm T không yêu cầu ông Nguyễn Trần Ngọc Bảo Q cấp dưỡng nuôi con.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Trần Ngọc Bảo Q.
  2. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 23/2021/HNGĐ-ST ngày 07/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện C.
  3. Về án phí: Án phí sơ thẩm bà Nguyễn Thị Cẩm T chịu 300.000 đồng. Án phí phúc thẩm ông Nguyễn Trần Ngọc Bảo Q chịu 300.000 đồng.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TPHCM;
  • - VKSND cấp cao tại TPHCM;
  • - VKSND TPHCM;
  • - Cục Thi hành án dân sự TPHCM;
  • - Tòa án nhân dân H.C;
  • - Chi cục THADS H.C;
  • - UBND Phường A, Quận B, TP.HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Trần Thị Lệ Uyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 342/2021/HNGĐ-PT ngày 12/04/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 342/2021/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/04/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn bà T khởi kiện ly hôn ông Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger