Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 3125/2024/DS-ST

Ngày: 16-07-2024.

V/v: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thực.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Võ Văn Lợi.
  • Bà Võ Thị Gái.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bích – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 929/2023/TLST-DS ngày 20 tháng 06 năm 2023 về “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 4355/2024/QĐXXST-DS ngày 17/6/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng N1.

Địa chỉ: Số B đường L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Văn N, Chức vụ: Phó giám đốc; địa chỉ: Số E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh làm đại diện theo ủy quyền (theo giấy ủy quyền số 794/NHNo-ĐSG ngày 23/4/2024).

Bị đơn: Ông Lê Hoàng T.

Địa chỉ: B đường D, tổ A, Khu phố B, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị V, sinh năm: 1950.

Địa chỉ: Số A, tổ B, ấp B, xã H, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông N có đơn xin vắng mặt, ông T và bà V vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng N1 trình bày:

Ngày 23/12/2019, giữa ông Lê Hoàng T và Ngân hàng N1 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng A) có ký kết Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-201902374 với nội dung: Số tiền cho vay theo hợp đồng tín dụng là 2.000.000.000 đồng; Khoản vay trên được đảm bảo bằng tài sản là: Quyền sử dụng đất tại Xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, diện tích 1.000 m2 theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CM 384081, số vào sổ cấp GCN CH01049 do UBND huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/08/2018, chủ tài sản là bà Phạm Thị V.

Từ khi vay vốn cho đến nay, ông T đã thanh toán cho Ngân hàng A được số tiền là: 916.477.754 đồng. Trong đó:

+ Trả gốc: 309.010.000 đồng.

+ Trả lãi: 607.467.754 đồng.

Từ ngày 16/02/2023 đến nay, ông T không thanh toán nợ cho Ngân hàng A theo cam kết trong hợp đồng tín dụng. Ngân hàng A đã cử cán bộ làm việc, đôn đốc nhiều lần nhưng ông T vẫn không trả nợ.

Tổng nợ gốc và lãi trong hạn, quá hạn tạm tính đến hết ngày 17/06/2024 là: 1.957.209.645 đồng. Trong đó:

+ Nợ gốc: 1.690.990.000đồng.

+ Nợ lãi trong hạn: 261.186.351 đồng.

+ Nợ lãi quá hạn: 5.033.294 đồng.

Nay Ngân hàng A yêu cầu Tòa án:

  1. Buộc ông Lê Hoàng T thanh toán cho Ngân hàng A tổng nợ gốc và lãi trong hạn, quá hạn tạm tính đến hết ngày 16/07/2024 với số tiền: 1.957.209.645 đồng. Trong đó:

    + Nợ gốc: 1.690.990.000đồng.

    + Nợ lãi trong hạn: 261.186.351 đồng.

    + Nợ lãi quá hạn: 5.033.294 đồng.

  2. Ông T chịu lãi trong hạn và lãi phạt quá hạn phát sinh kể từ ngày 17/07/2024, tính theo lãi suất được thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-20190237423/12/2019cho đến khi trả dứt nợ.
  3. Ông T phải chịu các chi phí phát sinh trong quá trình tố tụng như án phí và trả cho Ngân hàng A chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là: 15.000.000 đồng.
  4. Trong trường hợp ông T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên, nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành việc kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất tại xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, diện tích 1.000 m2, theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CM 384081, số vào sổ cấp GCN CH01049 do UBND huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/08/2018. Chủ tài sản là bà Phạm Thị V theo hợp đồng thế chấp số 6280-LCP-201902365 ngày 24/12/2019, để thu hồi nợ theo quy định của Pháp luật.
  5. Trường hợp sau khi phát mãi tài sản đảm bảo vẫn không đủ thanh toán hết khoản nợ thì khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với khoản nợ còn lại.

Bị đơn ông Lê Hoàng T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị V vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có lời trình bày.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, ông T, bà V vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, có vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Ông T đã vi phạm các nghĩa vụ trong Hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết, Hợp đồng thế chấp và các thủ tục thế chấp được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán các khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng, do đó quan hệ tranh chấp trong vụ án này được xác định là: “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”, quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố T nên căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Ông N đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông T, bà V vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm không có lý do mặc dù đã được Tòa án tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng. Xét thấy việc vắng mặt của đương sự, người đại diện hợp pháp của các đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

Về thời hiệu khởi kiện: Các đương sự, người đại diện hợp pháp của các đương sự không yêu cầu Tòa án xem xét về thời hiệu khởi kiện. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án không xem xét về thời hiệu khởi kiện vụ án.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa và lời trình bày, xác nhận của người đại diện hợp pháp của các đương sự, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Ngày 23/12/2019, giữa ông T và Ngân hàng N1 có ký kết Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-201902374 và Phụ lục với nội dung: Số tiền cho vay theo hợp đồng tín dụng là 2.000.000.000 đồng, thời hạn vay 240 tháng, trả theo định kỳ hàng tháng tiền gốc, các bên còn thỏa thuận về việc trả tiền lãi, lãi suất, biện pháp bảo đảm, quyền nghĩa vụ giữa các bên và một số thỏa thuận khác.

Khoản vay trên được đảm bảo bằng tài sản là: Quyền sử dụng đất tại Xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, có diện tích 1.000 m2 theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CM 384081, số vào sổ cấp GCN CH01049 do UBND huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 01/08/2018, chủ tài sản là bà Phạm Thị V theo Hợp đồng thế chấp số 6280-LCP-201902365 ngày 24/12/2019.

Từ khi vay vốn cho đến nay, ông T đã thanh toán cho Ngân hàng A số tiền là: 916.477.754 đồng. Trong đó trả tiền gốc là: 309.010.000 đồng, trả tiền lãi là: 607.467.754 đồng.

Xét các bên tự nguyện ký kết các Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp và các văn bản tín dụng khác, các Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp và các văn bản tín dụng khác các bên đã ký kết có hình thức đúng quy định của pháp luật, nội dung các bên thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật, phù hợp với các quy định tại Điều 4, Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.

Xét việc các bên thỏa thuận về thời hạn vay, trả nợ gốc, nợ lãi, ngày chuyển nợ quá hạn, lãi suất vay, cách tính lãi trong hạn, lãi quá hạn, việc trả nợ gốc, lãi hàng tháng và các thỏa thuận khác trong Hợp đồng tín dụng và tại các văn bản tín dụng khác là phù hợp với các quy định của pháp luật, ông T cũng chỉ trả được một phần khoản tiền vay và vi phạm các nghĩa vụ thanh toán tiền cho phía nguyên đơn, do đó việc nguyên đơn yêu cầu ông T phải trả ngay các khoản tiền gốc, tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn tính đến ngày 16/7/2024 tổng cộng là: 1.957.209.645 đồng là có cơ sở để xem xét chấp nhận.

Căn cứ hướng dẫn tại Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì việc nguyên đơn yêu cầu phía bị đơn phải trả khoản lãi phát sinh kể từ ngày 17/07/2024 (ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm) trên số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết cho đến khi thi hành án xong là có cơ sở để chấp nhận.

Đối với yêu cầu về xử lý các tài sản thế chấp: Căn cứ thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng thế chấp số 6280-LCP-201902365 ngày 24/12/2019, căn cứ Điều 295, Điều 298, Điều 299, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 323, Điều 324 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì yêu cầu này của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận khi phía bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả tiền.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận và phù hợp với các quy định của pháp luật.

[4] Về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo:

Về án phí sơ thẩm, chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ Điều 147, Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn phải chịu án phí và bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Nguyên đơn không phải chịu án phí, hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được cấp, tống đạt theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 158; Điều 184; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 295, Điều 298, Điều 299, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 323, Điều 324 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 4, Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
  • - Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.

Xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:

    Buộc ông Lê Hoàng T phải thanh toán cho Ngân hàng N1 số tiền tính đến ngày 16/07/2024 là: 1.957.209.645 đồng (Một tỷ, chín trăm năm mươi bảy triệu, hai trăm lẻ chín nghìn, sáu trăm bốn mươi lăm đồng). Trong đó tiền nợ gốc là: 1.690.990.000đồng (Một tỷ, sáu trăm chín mươi triệu, chín trăm chín mươi nghìn đồng); tiền nợ lãi trong hạn là: 261.186.351 đồng (Hai trăm sáu mươi mốt triệu, một trăm tám mươi sáu nghìn, ba trăm năm mươi mốt đồng); tiền nợ lãi quá hạn là: 5.033.294 đồng (Năm triệu, không trăm ba mươi ba nghìn, hai trăm chín mươi bốn đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (là ngày 17/07/2024) cho đến thi hành án xong toàn bộ khoản nợ, ông Lê Hoàng T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-201902374 ngày 23/12/2019.

    Trong trường hợp ông Lê Hoàng T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên, Ngân hàng N1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành việc kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất tọa lạc tại xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, có diện tích 1000 m2, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CM 384081, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận số CH01049 do UBND huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/08/2018 đứng tên bà Phạm Thị V để thu hồi nợ. Trường hợp sau khi phát mãi tài sản đảm bảo vẫn không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Lê Hoàng T vẫn phải có nghĩa vụ trả các khoản nợ còn lại cho Ngân hàng N1.

    Các bên thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  2. Về án phí, chi phí tố tụng:

    Án phí dân sự sơ thẩm là: 70.716.289 đồng (Bảy mươi triệu, bảy trăm mười sáu nghìn, hai trăm tám mươi chín đồng) ông Lê Hoàng T phải chịu. Ông T chưa nộp án phí.

    Hoàn lại cho Ngân hàng N1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 32.150.228 đồng (Ba mươi hai triệu, một trăm năm mươi nghìn hai trăm hai mươi tám đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2023/0003863 ngày 14/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.

    Về chi phí tố tụng: Ông Lê Hoàng T phải trả cho Ngân hàng N1 số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

  3. Về quyền yêu cầu thi hành án:

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Ngân hàng N1, ông Lê Hoàng T, bà Phạm Thị V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được cấp, tống đạt, niêm yết, thông báo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thủ Đức;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Trung Thực

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 3125/2024/DS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 3125/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng- Lê Hoàng T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger