Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 341/2023/HS-ST

Ngày: 28-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hồng Phúc

2. Ông Nguyễn Văn Phòng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Duy – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 314/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 342/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Anh T, sinh ngày: 21/3/2003 tại tỉnh Khánh Hòa; Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố H, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú: Không có nơi nhất cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: không; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1957 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1963; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con út trong gia đình; bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: không; tiền án: Ngày 13/9/2019, bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định điểm d, h khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Đã chấp hành xong án phạt tù tại trại giam L1, Bộ C vào ngày 24/12/2021. Án phí nộp ngày 12/3/2020 và trách nhiệm dân sự đã thi hành xong ngày 17/3/2020. Chưa được xóa án tích; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/11/2022; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Nguyễn Phạm Linh T2, sinh năm: 1999 (vắng mặt)

Địa chỉ: 6 Tỉnh lộ 43, khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Đình S, sinh năm: 1965, địa chỉ: A Đường D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

- Ông Nguyễn Đình H, sinh năm: 1958, địa chỉ: Nhà B X, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Anh T là người không có nghề nghiệp, thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy và đã từng bị kết án về tội “Cướp giật tài sản” chưa được xóa án tích, T3 là đối tượng không rõ nhân thân. Do đi chơi chung nên T và T3 quen biết nhau. Vào khoảng 20 giờ, ngày 17/11/2022, T gặp T3 tại khu vực nhà thờ F thuộc phường H, thành phố T. Tại đây, T3 rủ T đi tìm người có tài sản cướp giật đem bán chia nhau tiêu xài thì T đồng ý. T giao xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, gắn biển số 59S1 – 813.28 của mình cho T3 điều khiển chạy lòng vòng trên các tuyến đường thành phố T thì T3 phát hiện chị Nguyễn Phạm Linh T2, sinh năm 1999, địa chỉ: Số A, T, khu phố F, phường H, thành phố T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, BKS 59X3 – 231.29 lưu thông phía trước cùng chiều trước nhà số E T, khu phố E, phường T, thành phố T (hướng về đường P) đang sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13, 128GB. T3 điều khiển xe áp sát bên trái chị T2 còn T ngồi sau dùng tay phải giật lấy điện thoại của chị T2 rồi T3 tăng ga bỏ chạy. Lúc này, chị T2 tri hô và đuổi theo đến ngã ba đường T và đường số A thuộc phường T thì đầu xe của chị T2 va chạm với đuôi xe của T làm chị T2 bị ngã đường còn T và T3 bỏ chạy thoát. Tài sản cướp giật có được, T đăng bán trên trang điện tử “Chợ tốt” và bán cho đối tượng chưa rõ nhân thân được số tiền 4.000.000 đồng, số tiền này T và T3 chia đều tiêu xài hết. Qua truy xét, ngày 23/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T mời Nguyễn Anh T làm việc thì T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Ngoài ra, T còn khai nhận cùng với người tên Đ (chưa rõ nhân thân, lai lịch) thực hiện vụ cướp giật tài sản như trên tại địa chỉ số A, khu phố A, phường T, thành phố T nhưng không nhớ rõ thời gian cụ thể.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 466-KV3/KLÐG-HĐĐGTS ngày 13/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13, 128GB có giá trị 18.627.000 đồng.

Tại kết luận giám định số: 1858/KL-KTHS ngày 03/4/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu yamaha, loại Exciter có số khung: RLCUG1220MY005906, số máy G3M5E-021355 là số nguyên thủy, không thay đổi.

Tại phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 28/4/2023 của Công an thành phố T xác định: Xe mô tô nhãn hiệu yamaha, loại Exciter có số khung: RLCUG1220MY005906, số máy G3M5E-021355 mang biển kiểm soát 79H2 – 116.93 đứng tên Nguyễn Anh T.

Thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter; 01 mũ bảo hiểm màu xanh rêu và 01 mũ lưỡi trai màu đen có chữ A là đồ vật có liên quan đến vụ án nên chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức bảo quản theo quy định.

Đối với biển số xe 59S1 – 813.28, qua xác minh đây là biển số của xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, màu đen của ông Nguyễn Đình H là vật chứng liên quan đến vụ án khác đang thụ lý điều tra nên cần tiếp tục lưu kho vật chứng Cơ quan điều tra để chuyển khi có yêu cầu.

Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13 của chị T2, T đã bán cho người không rõ nhân thân nên không thu hồi được.

Trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Phạm Linh T2 yêu cầu Nguyễn Anh T bồi thường số tiền 25.000.000 đồng, gia đình T đã nộp khắc phục thay số tiền 4.500.000 đồng cho chị T2, còn lại 20.500.000 đồng T chưa bồi thường.

Cáo trạng số 319/CT-VKSTPTĐ ngày 01/8/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Anh T về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù; Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường số tiền 25.000.000 đồng, gia đình T đã nộp khắc phục thay số tiền 4.500.000 đồng, còn lại 20.500.000 đồng buộc bị cáo T phải bồi thường cho chị T2; Vật chứng vụ án: Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu yamaha, loại Exciter có số khung: RLCUG1220MY005906, số máy G3M5E-021355; tịch thu, tiêu hủy: 01 mũ bảo hiểm màu xanh rêu và 01 mũ lưỡi trai màu đen có chữ A; Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 1.025.000 đồng.

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt để các bị cáo sớm được trở về với gia đình. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 20.500.000 đồng. Về vật chứng: Bị cáo xác nhận 01 xe mô tô nhãn hiệu yamaha, loại Exciter có số khung: RLCUG1220MY005906, số máy G3M5E-021355 là xe của bị cáo mua và là người đứng tên đăng ký, đã được cấp biển số xe nhưng bị cáo chưa đi lấy và để tránh việc bị công an giao thông phạt khi lưu thông, bị cáo đã lên mạng xã hội mua biến số xe 59S1 – 813.28 với giá 500.000 đồng để gắn vào xe của bị cáo.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đình S trình bày: Ông là chủ sử dụng xe mô tô hiệu Honda Wave S, ông mua của anh trai ông là Nguyễn Đình H, do là anh em trong nhà nên ông không làm thủ tục sang tên và ông bị mất trộm xe trên vào khoảng tháng 10/2021 tại nhà của ông địa chỉ 111 đường D, phường H, thành phố T. Hiện tại ông vẫn đang giữ bản chính giấy đăng ký xe Honda Wave S, biển số 59S-813.28 đứng tên ông Nguyễn Đình H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét, quá trình tố tụng, bị cáo Nguyễn Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo đều thống nhất với nhau trong các Bản tự khai, Bản tường trình; Biên bản ghi lời khai; Biên bản hỏi cung bị can và phù hợp với: Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; Kết luận giám định; Kết luận định giá tài sản. Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Anh T phù hợp với lời khai của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu chứng cứ khác của trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ căn cứ kết luận:

Vào khoảng 21 giờ 25 phút, ngày 17/11/2022, tại trước số nhà E T, khu phố E, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Anh T đã có hành vi sử dụng xe mô tô là phương tiện nguy hiểm cùng đối tượng tên T3 (không rõ nhân thân, lai lịch) cướp giật điện thoại di động hiệu Apple, loại Iphone 13, dung lượng 128GB của chị Nguyễn Phạm Linh T2 có giá trị 18.267.000 đồng rồi nhanh chóng tẩu thoát. Bản thân Nguyễn Anh T đã có tiền án về tội “Cướp giật tài sản”, chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng. Hành vi trên của Nguyễn Anh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm; tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Đánh giá tính chất vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, là thanh niên, có sức khỏe lao động, nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bản thân bị cáo là người có tiền án về tội “Cướp giật tài sản” được xác định là tội phạm rất nghiêm trọng nhưng không lấy đó làm bài học sửa sai mà nay lại tiếp tục phạm tội. Điều đó thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo T rất kém. Bị cáo biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là sai trái và bị pháp luật trừng trị nhưng do tham lam, muốn có tiền tiêu xài, coi thường pháp luật nên bị cáo đã bất chấp để chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu. Hành vi cướp giật tài sản do bị cáo Nguyễn Anh T thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ và ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội, cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ để trừng trị, giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt có ích cho bản thân, gia đình và xã hội đồng thời góp phần răn đe phòng ngừa chung trước tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu ngày càng gia tăng hiện nay. Tuy nhiên, cũng xét quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo khắc phục thay bị cáo 01 phần hậu quả cho bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 nên giảm cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Đối với vụ cướp giật tài sản xảy ra tại địa chỉ số A, khu phố A, phường T, thành phố T do chưa xác định được bị hại nên chưa đủ căn cứ để xử lý, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau.

Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh với đối tượng tên T3, đối tượng tên Đ và đối tượng mua điện thoại của do T cướp giật được của chị T2, có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với thương tích của chị T2, qua điều tra xác định chị T2 tự ngã, đồng thời chị T2 cũng không yêu cầu giám định thương tích nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Vật chứng vụ án:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu yamaha, loại Exciter có số khung: RLCUG1220MY005906, số máy G3M5E-021355, gắn biển số 59S1 – 813.28, qua xác minh, số khung, số máy là số nguyên thủy, không thay đổi. Bị cáo T sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.

- Biển số xe 59S1– 813.28 là của xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, màu đen đứng tên ông Nguyễn Đình H, là vật chứng liên quan đến vụ án khác đang thụ lý điều tra nên tiếp tục lưu kho vật chứng Cơ quan điều tra để chuyển khi có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

- 01 mũ bảo hiểm màu xanh rêu và 01 mũ lưỡi trai màu đen có chữ Adidas thu giữ của T, là đồ vật có liên quan đến vụ án nên tịch thu, tiêu hủy.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 148/QĐ-VKS ngày 21/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Phiếu nhập kho số NK23/258C ngày 12/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).

[5] Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Phạm Linh T2 yêu cầu Nguyễn Anh T bồi thường số tiền 25.000.000 đồng, gia đình T đã nộp khắc phục thay số tiền 4.500.000 đồng, còn lại 20.500.000 đồng T chưa bồi thường. Tại phiên tòa bị cáo T đồng ý bồi thường cho chị T2 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  2. Căn cứ điểm d, i khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/11/2022.

  3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
    • - Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu yamaha, loại Exciter có số khung: RLCUG1220MY005906, số máy G3M5E-021355;
    • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 mũ bảo hiểm màu xanh rêu và 01 mũ lưỡi trai màu đen có chữ Adidas.
  4. Trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Anh T tự nguyện bồi thường cho chị Nguyễn Phạm Linh T2 số tiền 20.500.000 đồng.

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  5. Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:
    • - Buộc bị cáo Nguyễn Anh T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và 1.025.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nộp tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
  6. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo bản án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án NDTP.HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Công an TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tăng Thị Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 341/2023/HS-ST ngày 28/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (cướp giật tài sản)

  • Số bản án: 341/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp giật tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: giam
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger