|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 341/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 22/8/2024.
Về việc tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thịnh Quang Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Dương Thị Kim Lan
2. Ông Kiều Xuân Mai
Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Công – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mê Linh.
Đại diện Viện kiểmnhân dân huyện M, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hương M - Kiểm sát viên.
Ngày 22/8/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 264/2024/TLST - HNGĐ ngày 08 tháng 07 năm 2024 về tranh chấp hônvà gia đình theo quyếtđưa vụ án ra xét xử số: 122/2024/QĐXXST-LH ngày 12 tháng 08 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Mã Thị P, sinh năm 1986; Nơi thường trú: Xóm N, xã L, huyện T, tỉnh Cao Bằng.
2. Bị đơn: Anh Hà Văn H, sinh năm 1976; Nơi thường trú: Xóm N, xã L, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Tạm trú: Tổ F, thị trấn C, huyện M, thành phố Hà Nội.
Có mặt: chị P, anh H
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơnkiện ngày 28/6/2024, những lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa, nguyênlà chị Mã Thị P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Mã Thị P kết hôn với anh Hà Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Cao Bằng ngày 15/9/2011. Sau khi cưới theo phong tục địa phương, vợ chồng chị sinh sống cùng với gia đình nhà chị tại Xóm N, xã L, huyện T một thời gian thì đến khoảng năm 2017, vợ chồng chị thuê trọ ở thị trấn C, huyện M làm ăn và sinh sống. Quá trình sinh sống vợ chồng chị sinh sống hòa thuận được một thời gian thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, chồng chị hay cờ bạc, rượu chè, không quan tâm gì đến vợ con, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, đôi khi còn chửi cả bố mẹ đẻ chị. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng cho đến đầu khoảng năm 2022 thì vợ chồng chị sống ly thân, không quan tâm gì đến nhau nữa và chị cùng 02 về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ đó cho đến nay. Mặc dù, vợ chồng chị đã cố gắng tự thay đổi bản thân cho hòa hợp với nhau, hai bên gia đình đã hòa giải nhưng không thành. Nay chị xác định vợ chồng mâu thuẫn đã quá trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và chị không thể tiếp tục chung sống với anh H được nữa nên yêu cầu được ly hôn anh H.
Về con chung: vợ chồng anh, chị có 02 con chung là cháu Mã Hà Việt D, sinh ngày 11/3/2012 và cháu Mã Hà Phương L, sinh ngày 09/5/2015. Hiện nay các cháu khỏe mạnh, bình thường, cháu D đang ở Cao Bằng, còn cháu L ở Nghệ An. Ly hôn chị xin nuôi cháu D, còn cháu L do anh H nuôi dưỡng. Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với yêu cầu chia tài sản chung của anh H chị không đồng ý vì vợ chồng chị không có tài sản chung và công sức gì.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: chị P xin tự nguyện chịu cả.
* Theo Bản tự khai ngày 16/7/2024, những lời khai tại Tòa án, bị đơn là anh Hà Văn H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh nhất trí như chị P khai về thời gian, điều kiện, thủ tục kết hôn và quá trình chung sống. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng anh là do chị P đi ngoại tình với người khác. Chị P xin ly hôn anh nhất trí. Anh xác định vợ chồng không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống với chị P nữa. Nay chị P xin ly hôn anh đồng ý ly hôn.
- Về con chung: vợ chồng anh, chị có 02 con chung là cháu Mã Hà Việt D, sinh ngày 11/3/2012 và cháu Mã Hà Phương L, sinh ngày 09/5/2015. Hiện nay các cháu khỏe mạnh, bình thường, cháu D đang ở Cao Bằng, còn cháu L ở Nghệ An. Ly hôn anh xin nuôi cháu L, còn cháu D do chị P nuôi dưỡng. Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về cấp tài sản chung: anh yêu cầu chị P phải chia cho anh số tiền chị P đã đi làm 06 năm, anh ở nhà trông con, trong 06 năm đó chị P tích kiệm được 300.000.000 đồng gửi tại Ngân hàng N nên anh yêu cầu chị P chia cho anh số tiền này cho anh và công sức đóng góp của anh trên nhà đất của bố mẹ vợ anh.
Tại phiên tòa:
Chị P trình bày: chị vẫn giữ nguyên yêu cầu như quá trình Tòa án giải quyết vụ án như chị đã trình bày
Anh H trình bày: chị P xin ly hôn anh nhất trí. Khi ly hôn anh xin nuôi cháu L, còn chị P nuôi cháu D. Hội đồng xét xử đã giải thích các quy định phát luật cho anh H nghe, anh hiểu và nhất trí nhưng anh H vẫn yêu cầu chị P phải chia cho anh số tiền chị P đã đi làm 06 năm, anh ở nhà trông con, chị P tích kiệm được 300.000.000 đồng gửi tại Ngân hàng N nên anh yêu cầu chị P chia cho anh số tiền này cho anh và công sức đóng góp của anh trên nhà đất của bố mẹ vợ anh. Hiện tại anh không có tài liệu chứng cứ gì cung cấp cho Tòa án nên cũng không làm đơn yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng anh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đã tuân theo đúng quy định của pháp luật, không vi phạm tố tụng.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh về việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Mã Thị P với anh Hà Văn H.
Về con chung: vợ chồng anh, chị có 02 con chung là cháu Mã Hà Việt D, sinh ngày 11/3/2012 và cháu Mã Hà Phương L, sinh ngày 09/5/2015. Ly hôn giao cho chị Mã Thị P nuôi cháu D và giao cho anh Hà Văn H nuôi cháu L cho đến khi cháu D, cháu L cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định khác của Tòa án. Hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung nên không xét.
Về tài sản chung: Hội đồng xét xử cũng như đại diện Viện kiểm sát đã giải thích các quy định của pháp luật cho anh H biết nhưng anh H vẫn giữ nguyên quan điểm. Xét quá trình giải quyết vụ án anh H không có đơn yêu cầu chia tài sản chung nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Hà Văn H có nơi cư trú tại huyện M, thành phố Hà Nội nên theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình của chị Mã Thị P với anh Hà Văn H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
[2] Về quan hệ hôn nhân giữa chị Mã Thị P và anh Hà Văn H: Anh, chị tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Cao Bằng ngày 15/9/2011 (đăng ký kết hôn số 23/2011) nên quan hệ hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Qua lời khai của chị P và anh H thể hiện: Sau khi cưới theo phong tục địa phương, vợ chồng anh, chị sinh sống cùng với gia đình nhà chị P tại Xóm N, xã L, huyện T một thời gian thì vợ chồng anh, chị thuê trọ ở thị trấn C, huyện M làm ăn và sinh sống. Quá trình sinh sống vợ chồng anh, chị sinh sống hòa thuận được một thời gian thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không quan tâm gì đến nhau, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Đến đầu khoảng năm 2022 thì vợ chồng anh, chị sống ly thân, không quan tâm gì đến nhau nữa từ đó cho đến nay. Chị P xác định không còn tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên chị P xin ly hôn anh H và anh H nhất trí ly hôn chị P. Hội đồng xét xử thấy: quá trình chung sống giữa anh H, chị P có nhiều mâu thuẫn, mâu thuẫn kéo dài, quan điểm sống không tương đồng, sống ly thân nhưng không khắc phục được mâu thuẫn làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Mã Thị P với anh Hà Văn H theo quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình là phù hợp.
[3] Về con chung: Anh H, chị P có 02 con chung là: cháu Mã Hà Việt D, sinh ngày 11/3/2012 và cháu Mã Hà Phương L, sinh ngày 09/5/2015. Khi ly hôn hai bên thỏa thuận chị P nuôi cháu D, còn anh H nuôi cháu L. Hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy: cần giao con chung là cháu D cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu L cho anh H nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Ghi nhận sự tự nguyện của chị P, anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Chị P, anh H có quyền đi lại, thăm nom con chung không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung: xét chị P xác định vợ chồng chị không có tài sản chung, công sức chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh H yêu cầu chị P phải chia cho anh số tiền chị P đã đi làm 06 năm, anh ở nhà trông con, trong 06 năm đó chị P tích kiệm được 300.000.000 đồng gửi tại Ngân hàng N và công sức đóng góp của anh trên nhà đất của bố mẹ vợ anh. Hội đồng xét xử thấy: quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã yêu cầu anh H làm đơn yêu cầu chia tài sản của vợ chồng và cung cấp tài liệu chứng cứ kèm theo nhưng anh H không làm đơn yêu cầu chia tài sản chung và cung cấp tài liệu chứng cứ. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy: chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết và anh H không có đơn yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét và giành quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung, công sức của vợ chồng bằng một vụ án khác cho các đương sự khi có đủ điều kiện và có yêu cầu là phù hợp.
[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng, chị Mã Thị P xin chịu cả là phù hợp quy định của pháp luật nên được ghi nhận.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào: Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 203, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mã Thị P xin ly hôn anh Hà Văn H. Chị Mã Thị P được ly hôn anh Hà Văn H.
2. Về con chung:
chị Mã Thị P với anh Hà Văn H có 02 con chung là: cháu Mã Hà Việt D, sinh ngày 11/3/2012 và cháu Mã Hà Phương L, sinh ngày 09/5/2015. Khi ly hôn, giao cháu Mã Hà Việt D cho chị Mã Thị P trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Mã Hà Phương L cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu D, cháu L thành niên hoặc đến khi có quyết định khác của Tòa án. Ghi nhận sự tự nguyện của chị P, anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Mã Thị P và anh Hà Văn H có quyền đi lại, thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, công sức chung:
Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung, công sức của vợ chồng bằng một vụ án khác khi có đủ điều kiện và có yêu cầu.
4. Về án phí ly hôn sơ thẩm:
300.000 đồng, chị Mã Thị P phải chịu cả để sung vào ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 8801 ngày 08/7/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh. Chị P đã nộp đủ tiền án phí.
Án xử công khai sơ thẩm, chị Mã Thị P, anh Hà Văn H có quyền có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Thịnh Quang Trung |
Bản án số 341/2024/HNGĐ - ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 341/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Mã Thị P xin ly hôn anh Hà Văn H
