|
TAND QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 341/2025/HNGĐ-ST Ngày 26/6/2025 “V/v: Ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tịnh
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Chuyển và ông Phạm Minh Thân
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Chu Bích Thủy
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Đăng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 26/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, mở phiên tòa công khai, xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 490/2024/TLST-HNGĐ ngày 04/11/2024, về việc “Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 197/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20/5/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1983
HKTT: Tổ dân phố số I P, phường M, quận N, Hà Nội. Nơi ở: Số D ngõ A đường P, Tổ dân phố số D, phường X, quận N, Hà Nội. (Có mặt)
Bị đơn: Anh Nguyễn Đình P, sinh năm 1977.
HKTT: Số A đường Đ, Tổ dân phố số I P, phường M, quận N, Hà Nội. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn - Chị H trình bày: Chị và anh P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện T, Hà Nội vào ngày 24/2/2003 (nay là phường M, quận N, Hà Nội). Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại A đường Đ, phường M, quận N, Hà Nội, vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh P thường xuyên rượu chè, mỗi lần uống rượu say về nhà là anh lại kiếm cớ gây gổ, chửi bới, đập phá đồ đạc và đánh chị. Chị đã nhiều lần cho anh cơ hội và khuyên anh nhưng anh P không thay đổi. Đến tháng 10/2024 chị cùng các con chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở thì anh P tiếp tục uống rượu về nhà bố mẹ đẻ của chị để chửi bới chị thậm tệ lúc đêm khuya, bố mẹ và các con của chị chứng kiến cảnh anh P chửi bới, gây mất trật tự nên rất hoảng sợ, chị phải gọi Công an phường X đến giải quyết. Chị và anh P ly thân từ tháng 10/2023 cho đến nay. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh P và chị cảm nhận anh P không còn tình cảm với chị nên mới cư xử như vậy, chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh P.
Về con chung: Anh, chị có 02 con chung là Nguyễn Mạnh H1, sinh ngày 07/9/2003 và Nguyễn Thùy L, sinh ngày 04/8/2005. Hiện nay các con đã trưởng thành nên chị không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn – anh P đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, do đó Toà án không lấy được lời khai của anh.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P. Về con chung: Anh P, chị H có 02 con chung là Nguyễn Mạnh H1, sinh ngày 07/9/2003 và Nguyễn Thùy L, sinh ngày 04/8/2005. Hiện nay các con đã trưởng thành nên chị không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: chị H không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn vắng mặt tại phiên toà.
Đại diện Viện kiểm sát quận N phát biểu: Thẩm phán đã tiến hành đúng thủ tục tố tụng theo quy định của BLTTDS, đảm bảo quy định của pháp luật trong cả quá trình từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật; Bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh H đối với anh Nguyễn Đình P. Cho chị H được ly hôn với anh P.
Về con chung: Anh P, chị H có 02 con chung là Nguyễn Mạnh H1, sinh ngày 07/9/2003 và Nguyễn Thùy L, sinh ngày 04/8/2005. Hiện nay các cháu đã trưởng thành nên không giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Do chị H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn tại Tòa án, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Chị Nguyễn Thị Thanh H khởi kiện về việc xin ly hôn với anh Nguyễn Đình P. Tại thời điểm chị H gửi đơn khởi kiện, anh P đang cư trú tại phường M, quận N, Hà Nội nên Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết anh P được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt, HĐXX căn cứ Điều 227 BLTTDS xét xử vắng mặt anh P.
Về nội dung:
Chị H và anh P kết hôn vào năm 2003, việc kết hôn là tự nguyện, có đăng ký kết hôn và tuân thủ đầy đủ về điều kiện kết hôn nên xác định là hôn nhân hợp pháp.
Xét đơn ly hôn của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ, lời khai do nguyên đơn cung cấp và trình bày thể hiện: Vợ chồng kết hôn và chung sống cùng nhau từ năm 2003. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh P thường xuyên rượu chè, mỗi lần uống say anh P về kiếm cớ chửi bới, đập phá đồ đạc và đánh chị H. Chị H đã khuyên và cho anh P cơ hội nhưng anh P vẫn không thay đổi. Chị H cùng các con chuyển về nhà bố mẹ đẻ của chị H ở từ tháng 10/2024. Anh P tiếp tục uống rượu và đến nhà bố mẹ đẻ của chị H để chửi bới trước mặt bố mẹ chị và các con của chị H lúc đêm khuya. Việc này đã dduwwocj Công an phường lập biên bản. Như vậy, giữa chị H và anh P không có sự tôn trọng lẫn nhau, không ai quan tâm tới ai và sống ly thân từ tháng 10/2023 cho đến nay. Chị H xác định không còn tình cảm với anh P, hôn nhân giữa hai người chỉ tồn tại trên giấy tờ, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh P.
Về phía anh P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh đều vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc cũng như hoà giải tại Toà án, chứng tỏ anh không có thiện chí hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ với nhau. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh P đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân chỉ tồn tại trên hình thức nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân giữa hai người cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do vậy, cần chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh P là có căn cứ phù hợp Luật Hôn nhân gia đình.
Về con chung: Chị H và anh P có có 02 con chung là Nguyễn Mạnh H1, sinh ngày 07/9/2003 và Nguyễn Thùy L, sinh ngày 04/8/2005. Hiện nay các con chung của hai anh chị đều đã trưởng thành nên không giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ và các quan hệ khác phát sinh từ quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh P, do chị H không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét. Giành lại quyền khởi kiện yêu cầu về tài sản bằng một vụ án khác khi anh P, chị H có yêu cầu và có chứng cứ chứng minh
Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Các Điều 28, 147 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh H. Chị Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn anh Nguyễn Đình P.
Về con chung: Chị H và anh P có có 02 con chung là Nguyễn Mạnh H1, sinh ngày 07/9/2003 và Nguyễn Thùy L, sinh ngày 04/8/2005. Hiện nay con chung đều đã trưởng thành nên HĐXX không giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ và các quan hệ khác phát sinh từ quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh P, do chị H không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét. Giành lại quyền khởi kiện yêu cầu về tài sản bằng một vụ án khác khi anh P, chị H có yêu cầu.
Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0027595 ngày 04/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm. Chị được khấu trừ vào tiền án phí mà chị đã nộp.
Đương sự có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Tịnh |
Bản án số 341/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội về ly hôn
- Số bản án: 341/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hiếu - Phê
