|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 341/2024/HNGĐ-ST Ngày 30 - 8 - 2024 V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Duy Bảo và bà Bùi Thị Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 252dân sự 162/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 321/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Ngô Văn H, sinh năm 1992; địa chỉ: xóm D, xã S, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Đào Thị N, sinh năm 1996; địa chỉ: xóm D, xã S, huyện Q, tỉnh Nghệ An; hiện đang ở Nhật Bản. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 10/06/2024 và bản tự khai đề ngày 03/7/2024, nguyên đơn anh Ngô Văn H trình bày:
Anh Ngô Văn H và chị Đào Thị N yêu nhau trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 26/10/2016 tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 03 năm, nhưng thời gian trở lại đây vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không còn tiếng nói chung. Nguyên nhân do năm 2019, chị N sang Nhật Bản sinh sống và làm ăn, khoảng cách địa lý xa xôi, chị N sang đó sinh sống không biết bao giờ về nước, hai người dần không còn tin tưởng nhau, tình cảm vợ chồng không như trước, căng thẳng kéo dài không thể hòa giải được. Nay anh H nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, anh H làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh H và chị N được ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Ngô Quỳnh T, sinh ngày 28/08/2017. Hiện tại, con chung đang ở với anh H. Nếu ly hôn, anh H đề nghị Tòa án giao con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh Ngô Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn chị Đào Thị N, do vợ chồng không liên lạc gì với nhau nên anh Ngô Văn H không cung cấp được địa chỉ cụ thể của chị N ở Nhật Bản. Theo anh H trình bày chị N vẫn thường xuyên liên lạc về với mẹ đẻ là bà Trần Thị H1; địa chỉ cư trú: xóm A, xã S, huyện Q, tỉnh Nghệ An và bà H1 biết địa chỉ cụ thể của chị N ở Nhật Bản; đề nghị Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã gửi văn bản cho bà Trần Thị H1 (là mẹ đẻ của chị Đào Thị N) thông báo về việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án để bà H1 thông báo cho chị N và đề nghị chị N nêu ý kiến về yêu cầu khởi kiện của anh H. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng bao gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, Giấy triệu tập phiên tòa tại nơi cư trú của chị N trước khi đi nước ngoài. Tuy nhiên, chị N không có ý kiến gì và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.
- - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình cho anh Ngô Văn H và chị Đào Thị N được ly hôn. Về con chung: Giao cháu Ngô Quỳnh T, sinh ngày 28/08/2017 cho anh H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con: Anh H không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét do nguyên đơn không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Ngô Văn H hiện cư trú tại Việt Nam làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đào Thị N hiện cư trú ở nước ngoài; trước khi xuất cảnh, chị N có địa chỉ cư trú tại xóm D, xã S, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2] Về thủ tục tố tụng: Chị Đào Thị N hiện đang ở Nhật Bản, không có địa chỉ cụ thể. Bà Trần Thị H1 (là mẹ đẻ của chị N) đã thông báo cho con gái về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng liên quan theo quy định pháp luật đồng thời yêu cầu bà H1 cung cấp địa chỉ cụ thể của chị N ở Nhật Bản nhưng bà H1 không cung cấp được. Tính đến ngày mở phiên tòa xét xử lần thứ hai, Tòa án không nhận được bất cứ văn bản nào của chị N trình bày về yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh H nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết và vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn anh Ngô Văn H vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt, bị đơn chị Đào Thị N vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt các đương sự.
[3] Xét nội dung vụ án và các ý kiến, yêu cầu của đương sự:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Ngô Văn H và chị Đào Thị N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện; có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống chung hạnh phúc được 03 năm thì đã phát sinh mâu thuẫn. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do năm 2019 chị N sang Nhật Bản sinh sống và làm việc, không biết bao giờ về nước, khoảng cách địa lý xa xôi dẫn đến không còn tin tưởng nhau, tình cảm vợ chồng không như trước. Anh H có nguyện vọng được ly hôn với chị N. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa anh H và chị N không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Vì vậy, nếu kéo dài cuộc hôn nhân này thì mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh H được ly hôn với chị N là phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[3.2] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Ngô Quỳnh T, sinh ngày 28/08/2017. Hiện tại, con chung đang ở với anh H và anh H đề nghị Tòa án giao con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc sau ly hôn. Xét thấy, chị N hiện đang ở nước ngoài và chưa có ý kiến gì về việc nuôi con nên cần giao cháu Ngô Quỳnh T, sinh ngày 28/08/2017 cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con, anh H chưa yêu cầu và chị N cũng chưa có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Anh Ngô Văn H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
[4] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn anh Ngô Văn H phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40, khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Về quan hệ hôn nhân: Anh Ngô Văn H được ly hôn với chị Đào Thị N.
- - Về con chung: Giao con chung là cháu Ngô Quỳnh T, sinh ngày 28/08/2017 cho anh Ngô Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Quỳnh T đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con, anh Ngô Văn H chưa yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Sau khi ly hôn, chị Đào Thị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của các con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; anh Ngô Văn H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0012939 ngày 19 tháng 6 năm 2024.
- Anh Ngô Văn H có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án; chị Đào Thị N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./
Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Ngô Văn H.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Mỹ Hải |
5
Bản án số 341/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 341/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình Ngô Văn H- Đào Thị N
