|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 341/2024/DS-PT
Ngày: 09/8/2024
V/v “Tranh chấp đòi tiền hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quyến
Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thảo Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Trung Nam - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09/8/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 148/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 06 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 29/01/2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng có kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 252/2024/QĐ-PT ngày 19/6/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Hồng L, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Số G, khu vực P, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hiếu V, sinh năm: 1958; địa chỉ: A, khu V, đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ (Văn bản ủy quyền ngày 24/5/2024). (có mặt)
- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Số B, đường T, khu V, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Thái T, sinh năm: 1982; địa chỉ: Số B, đường số D, KDC H, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (văn bản ủy quyền ngày 28/10/2023). (có mặt)
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Bùi Thị Hồng L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Bùi Thị Hồng L trình bày: Bà Bùi Thị Hồng L là chủ sử dụng đất tại thửa 2454, tờ bản đồ số 4, diện tích 105,2m², tọa lạc tại khu vực P, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, số vào sổ cấp GCN: CS14515 do Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C cấp ngày 02/12/2020. Sau đó, bà L có chuyển nhượng toàn bộ diện tích thửa đất này cho ông Nguyễn Thanh Đ với giá 650.000.000 đồng chia làm hai đợt thanh toán. Đợt 1 khi làm hợp đồng đặt cọc ngày 15/3/2020 thanh toán với số tiền 120.000.000 đồng và đợt 02 vào ngày 16/4/2020 ông Đ thanh toán số tiền còn lại là 530.000.000 đồng. Sau khi bà L đã nhận đủ tiền của ông Đ thì ông Đ có nhu cầu ký hợp đồng chuyển nhượng cho bà H. Do đó, bà L có đi đến văn phòng C để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào ngày 04/12/2023 cho bà H, ngoài ra bà L không có nhận tiền từ bà H. Tuy nhiên vào thời điểm năm 2022 giữa ông Đ và bà H xảy ra tranh chấp, ông Đ khởi kiện bà H yêu cầu Tòa án tuyên buộc bà H ký chuyển nhượng trả lại quyền sử dụng đất thửa đất nêu trên cho ông Đ do bà H chỉ là người ông Đ nhờ đứng tên, vụ án đã được xét xử sơ thẩm và phúc thẩm công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà L và bà H ngày 04/12/2020. Trong quá trình giải quyết vụ án từ sơ thẩm đến phúc thẩm, người đại diện ủy quyền của bà H đều thừa nhận số tiền chuyển nhượng là 600.000.000 đồng, trên hợp đồng ghi 15 triệu đồng nhưng bà H không có bất kỳ biên nhận tiền hay tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh về việc đã giao số tiền 600.000.000 đồng.
Nay, nguyên đơn yêu cầu bà Huỳnh Thị H trả số tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 600.000.000 đồng tại thửa 2454, tờ bản đồ số 04, diện tích 105,2m² và tiền lãi 10%/600.000.000 đồng tính từ thời điểm ký hợp đồng ngày 04.12.2020 cho đến ngày bà Huỳnh Thị H trả hết số tiền nêu trên.
Đại diện ủy quyền của bị đơn trình bày ý kiến: Giữa bà H và bà Bùi Thị H1 Liên có hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa đất thửa 2454, tờ bản đồ số 4, diện tích 105,2m², tọa lạc tại khu vực P, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, số vào sổ cấp GCN: CS14515 do văn phòng đăng ký đất đai thành phố C cấp ngày 02.12.2020 và đã được chỉnh lý biến động sang tên cho bà H vào ngày 16.12.2020. Việc chuyển nhượng giữa các bên đã thực hiện xong nghĩa vụ của hợp đồng. Bà L cũng xác nhận đã nhận đủ số tiền chuyển nhượng. Do đó, quyền lợi của bà L không bị xâm phạm. Việc giao nhận tiền chuyển nhượng thông qua ông Nguyễn Thanh Đ có lập biên bản và những biên bản này hiện do ông Đ đang giữ bản gốc.
Trước đây ông Đ đã kiện bà H đòi lại tài sản và đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn ông Nguyễn Thanh Đ bà Huỳnh Thị H thì bà L là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong vụ kiện đó bà L đã xác định đã nhận đủ tiền chuyển nhượng bà không khiếu nại gì về hợp đồng chuyển nhượng giữa bà H và bà bà L. Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã công nhận đất này cho bà H. Do đó, đề nghị Tòa án quận C, thành phố Cần Thơ áp dụng điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà L. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn có nộp đơn yêu cầu phản tố. Tòa án chưa ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí phản tố thì bị đơn đã rút yêu cầu phản tố. Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử.
Tại bản án số 09/2024/DS-ST ngày 29/01/2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng đã tuyên xử:
Không chấp chận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Hồng L về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về tiền án phí dân sự sơ thẩm, và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân quận Cái Răng đã tuyên xử nguyên đơn bà Bùi Thị Hồng L đã kháng cáo bản án trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Hiếu V đại diện ủy quyền cho bà Bùi Thị Hồng L trình bày: Bà Huỳnh Thị H được đứng tên quyền sử dụng đất nhưng không chứng minh đã trả tiền cho bà L. Tòa án nhân dân quận Cái Răng không triệu tập ông Đ là thiếu sót. Bà L nhận tiền từ ông Đ không nhận tiền từ bà H. Sở dĩ, ông Đ đứng tên người làm chứng để bà L và bà H yên tâm ký kết hợp đồng. Do Tòa án cấp sơ thẩm không triệu tập ông Đ để tham gia phiên tòa là thiếu sót. Đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án trên để triệu tập ông Đ với vai trò người có quyền và nghĩa vụ liên quan.
Ông Nguyễn Thái T đại diện ủy quyền cho bà Huỳnh Thị H trình bày: Bà L đòi tiền bà H là không có cơ sở. Căn cứ theo các chứng cứ có trong hồ sơ, bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp phúc thẩm trước đây bà L thừa nhận đã nhận tiền đủ từ hợp đồng chuyển nhượng. Bản án sơ thẩm tuyên là có cơ sở đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Cái Răng.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Bị đơn kháng cáo nhưng tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn không cung cấp thêm chứng cứ mới. Tại bút lục số 91 (bản án sơ thẩm trước đây) và phúc thẩm (đã có hiệu pháp luật) thì Biên nhận nhận tiền thể hiện ông Đ là người làm chứng. Bà Bùi Thị Hồng L đã nhận đủ số tiền 600.000.000 đồng từ bà Huỳnh Thị H. Do đó, chứng minh bà H đã trả đủ tiền cho bà L. Bản án sơ thẩm tuyên là có cơ sở. Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Đòi tiền hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” cấp sơ thẩm xác định chưa chính xác nên điều chỉnh cho phù hợp. Vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân quận Cái Răng thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định nên được xem xét. Việc ủy quyền của các đương sự là đúng quy định.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy: Bà L cho rằng bà và ông Đ có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với giá là: 650.000.000 đồng chia làm hai đợt thanh toán. Bà nhận đủ tiền từ ông Đ, ông Đ có nhu cầu ký hợp đồng chuyển nhượng cho bà H. Do đó, bà L có đi đến văn phòng công chứng để ký hợp đồng chuyển nhượng với bà H. Năm 2022 ông Đ và bà H xảy ra tranh chấp, ông Đ khởi kiện bà H yêu cầu Tòa án tuyên buộc bà H ký chuyển nhượng trả lại quyền sử dụng đất thửa đất nêu trên cho ông Đ do bà H chỉ là người ông Đ nhờ đứng tên, vụ án đã được xét xử sơ thẩm và phúc thẩm công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà L và bà H ngày 04/12/2020. Bà H thừa nhận số tiền chuyển nhượng là 600.000.000 đồng, mặc dù trên hợp đồng ghi 15 triệu đồng nhưng bà H không có bất kỳ biên nhận tiền hay tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh về việc đã giao số tiền 600.000.000 đồng. Nguyên đơn kiện yêu cầu bà H trả số tiền 600.000.000 đồng và tiền lãi. Bị đơn cho rằng việc chuyển nhượng giữa các bên đã thực hiện xong nghĩa vụ của hợp đồng. Bà L cũng xác nhận đã nhận đủ số tiền chuyển nhượng. Do đó, quyền lợi của bà L không bị xâm phạm. Việc giao nhận tiền chuyển nhượng thông qua ông Nguyễn Thanh Đ có lập biên bản và những biên bản này hiện do ông Đ đang giữ bản gốc. Bị đơn không đồng ý trả cho nguyên đơn.
Qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy: Năm 2023 ông Nguyễn Thanh Đ có khởi kiện bà Huỳnh Thị H về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất, đòi lại tài sản theo hợp đồng đặt cọc và đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” trong Bản án này Tòa án cấp sơ thẩm đã bác yêu cầu khởi kiện của ông Đ. Ông Đ kháng cáo. Tại bản số 336/2023/DSPT ngày 31/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đã tuyên không chấp nhận kháng cáo của Đ và giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm. Bản án phúc thẩm trên đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, căn cứ vào bản án có hiệu lực pháp luật và lời thừa nhận của bà L trong bản án trên. Bà L cho rằng bà nhận đủ tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 2452, diện tích 105,2m 2 theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Nay, bà L khởi kiện cho rằng bà chưa nhận tiền chuyển nhượng đất từ bà H là không có cơ sở.
Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà L và bà H chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa đất 2454, tờ bản đồ số 4, diện tích 105,2m², tọa lạc tại khu vực P, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ được công chứng theo quy định. Việc ký kết là hoàn toàn tự nguyện không bị ép buộc, lừa dối, tại thời điểm ký kết các bên có đầy đủ năng lực hành vi, hợp đồng được lập thành văn bản được công chứng theo quy định tại Điều 167 Luật Đất đai, bà H đã được cơ quan cấp có thẩm quyền chỉnh lý sang tên ngày 16/12/2020. Bà L không phản đối khi người đứng tên trên hợp đồng là bà Huỳnh Thị H và bà H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà L cũng không khiếu nại về việc bà H đứng tên quyền sử dụng đất. Hợp đồng chuyển nhượng đã hoàn tất và bà H đã nhận tài sản. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà L là không có cơ sở.
Mặt khác, tại tờ: “ Biên nhận tiền” trong vụ kiện ông Đ kiện bà H trước đây thì thể hiện: Bà Huỳnh Thị H trả tiền cho bà Bùi Thị Hồng L số tiền là 600.000.000 đồng. Ông Đ cũng có ký tên trong tờ biên nhận này với vai trò người làm chứng. Nay, bà L lại kiện đòi bà H trả tiền chuyển nhượng là không có cơ sở. Ngoài thửa đất này ra thì bà L và bà H cũng không có giao dịch thửa đất nào khác. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu của bà L là có căn cứ.
Đối với bị đơn: Bị đơn có đơn phản tố nhưng rút yêu cầu trước khi Tòa án sơ thẩm làm thụ tục nộp tiền ứng án phí nên chỉ là ý kiến trình bày.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Hồng L.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Bùi Thị Hồng L phải chịu án phí theo quy định.
[4] Về án phí phúc thẩm: Bà L chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003316 ngày 20/3/2024 thành tiền án phí tại Chi cục thi thành án dân sự quận C, thành phố Cần Thơ. Bà L đã nộp đủ tiền.
[5] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Khoản 1, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 280, Điều 500 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 167, Điều188 Luật Đất đai;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Không chấp kháng cáo của bà Bùi Thị Hồng L. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
[2] Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Hồng L về việc: đòi tiền hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bị đơn bà Huỳnh Thị H.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Bùi Thị Hồng L phải chịu 35.552.000 đồng (Ba mươi lăm triệu năm trăm năm mươi hai nghìn đồng). Chuyển tiền tạm ứng án phí 17.300.000 đồng (Mười bảy triệu ba trăm nghìn đồng) bà Bùi Thị Hồng L đã nộp theo biên lai thu số 0000276, ngày 17/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ thành án phí. Bà Bùi Thị Hồng L còn phải nộp 18.252.000 đồng (Mười tám triệu hai trăm năm mươi hai nghìn đồng).
[4] Về án phí phúc thẩm: Bà L chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003316 ngày 20/3/2024 thành tiền án phí tại Chi cục thi thành án dân sự quận C, thành phố Cần Thơ. Bà L đã nộp đủ tiền.
[5] Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hải |
Bản án số 341/2024/DS-PT ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp đòi tiền hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 341/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tiền hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Hồng L - Huỳnh Thị H - Đòi tiền HĐ chuyển nhượng QSDĐ
