|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 341/2025/HS-ST
Ngày: 28/5/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thúy Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Bá Chương;
- Ông Nguyễn Thanh Bình;
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bình Minh- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Đ- Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 228/2025/TLST- HS ngày 11 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 269/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2025/HSST- QĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
1/ Lương Thành Đạt, sinh ngày: 01/01/2006 tại Sóc Trăng; thường trú: ấp H, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở hiện nay: ấp V, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lương Hoàng T và bà: Dương Thị L; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không;
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/8/2024 đến nay; (có mặt tại phiên tòa).
2/ Lê Phước D, sinh ngày: 26/5/2007 tại Cà Mau; thường trú: khóm C, thị trấn R, huyện N, tỉnh Cà Mau; chỗ ở hiện nay: ấp F+ 7, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không: không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn S và bà: Nguyễn Thị Thúy H; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không;
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/8/2024 đến nay; (có mặt tại phiên tòa).
Bị hại:
- - Trẻ Nguyễn Trấn D1, sinh ngày: 17/7/2007;
Địa chỉ thường trú: I N, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Chỗ ở hiện nay: 4 C, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện hợp pháp cho bị hại trẻ Nguyễn Trấn D1: Ông Nguyễn Chí C, sinh năm: 1980 (là cha ruột);
Địa chỉ: I N, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Chỗ ở hiện nay: 4 C, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
(ông C có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa cho trẻ D1 và ông C);
- - Trẻ Trần Gia K, sinh ngày: 19/8/2007;
Địa chỉ thường trú: 4 N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Chỗ ở hiện nay: 1 T, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện hợp pháp cho bị hại trẻ Trần Gia K: Bà Đinh Thị Uyên U, sinh năm: 1971 (là mẹ ruột);
Địa chỉ thường trú: 4 N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Chỗ ở hiện nay: 1 T, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
(bà U có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa cho trẻ K và bà U);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chỉ định cho trẻ Nguyễn Trấn D1 và trẻ Trần Gia K: Bà Đinh Thị Uyên U và ông Nguyễn Chí C là đại diện hợp pháp cho trẻ D1 và trẻ K có đơn từ chối người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chỉ định cho trẻ D1 và trẻ K;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Đinh Thị Uyên U, sinh năm: 1971;
Địa chỉ thường trú: 4 N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Chỗ ở hiện nay: 1 T, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
(bà U có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa);
- - Bà Vũ Thị T1, sinh năm: 1966;
Địa chỉ: C khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; (có mặt tại phiên tòa);
- - Ông Bạch Quốc H1, sinh năm: 1999;
Địa chỉ: H khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; (vắng mặt tại phiên tòa);
- - Ông Lô Mạnh L1, sinh năm: 2000;
Địa chỉ: C khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; (vắng mặt tại phiên tòa);
- - Ông Lý Quốc Đ1, sinh năm: 2006;
Địa chỉ: Ô, TCD B D phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; (vắng mặt tại phiên tòa);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 19/8/2024, do không có tiền tiêu xài nên Lê Phước D (sinh ngày 26/5/2007) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter biển số 60F1- 66.359 đến phòng trọ tại số H đường X, ấp V, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai rủ Lương Thành Đ2 đi kiếm tiền bằng cách giả danh cảnh sát hình sự để lấy xe và Đ2 đồng ý.
D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển số: 60F1-66.359 chở theo Đ2 từ huyện V, tỉnh Đồng Nai đến khu vực S, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đến khoảng 01 giờ 14 phút ngày 20/8/2024, D và Đ2 phát hiện trẻ Nguyễn Trấn D1 (sinh ngày 17/7/2007) điều khiển xe mô tô hiệu Honda Dream biển số 51F3- 6861 chở theo trẻ Trần Gia K (sinh ngày 19/8/2007) ở khu vực ngã tư đang chạy vào đường số E. Khi đến trụ điện B đường số E, khu phố A, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, D điều khiển xe Exciter chở theo Lương Thành Đ2 ép xe của trẻ D1 và trẻ K vào lề đường gần trụ điện B đường số E, khu phố A, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Lúc này, D đang ngồi trên xe nói "Đi đâu, phòng chống tội phạm hình sự đây, tấp xe vô lề, kiểm tra giấy tờ" nên trẻ D1 và trẻ K dừng xe vào sát lề đường, Đ2 ngồi trên xe Exciter, biển số 60F 1-66.359 bước xuống và đi đến tiếp tục nói "Đi đâu, cho kiểm tra giấy tờ". Trẻ D2 và trẻ K đưa giấy đăng ký xe, giấy tờ liên quan cho Đ2 kiểm tra, Đ2 nói "chưa đủ tuổi, đem xe về phường"; đồng thời, D đang ngồi trên xe Exciter, biển số 60F1-6861 nói "đem xe về phường" rồi Đ2 trả lại giấy tờ xe cho trẻ D2 và trẻ K.
Đ2 đi đến ngồi lên điều khiển xe mô tô hiệu Honda Dream biển số 51F3- 6861 của K, cùng D điều khiển xe Exciter biển số: 60F1-66.359 đi về hướng quận B. Cả hai chạy đến Bệnh viện G, Đ2 vào gửi xe mô tô hiệu Honda Dream tại bãi giữ xe rồi cả hai cùng đi về nhà. Trẻ D2 và anh K bắt xe grab đi về nhà.
Chị Đinh Thị Uyên U là mẹ trẻ K không thấy xe và sau nhiều lần hỏi trẻ K thì biết được sự việc trên nên ngày 28/8/2024, chị U tới Công an phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để trình báo về vụ việc trên.
Sau khi lấy được xe, Đ2 gọi điện thoại cho Lý Quốc Đ1 tên gọi khác là "Đ1 mi nhon" (là bạn quen biết bên ngoài xã hội từ năm 2023) nói rằng có xe Dream Thái cần bán. Lý Quốc Đ1 đồng ý và yêu cầu Đ1 đem xe mô tô hiệu Honda Dream biển số: 51F3-6861 qua phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương để xem xe.
Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Lê Phước D điều khiển xe Exciter biển số: 60F1-66.359 chở Lương Thành Đ2 đến Bệnh viện G để lấy xe mô tô hiệu Honda Dream rồi cả hai tới quán cà phê trên đường D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Khi gặp Lý Quốc Đ1 tại quán cà phê, Lê Phước D giới thiệu D
làm công an hình sự để tạo sự tin tưởng còn Đ1 trao đổi với Quốc Đ1 về xe mô tô hiệu Honda Dream mà không có giấy tờ cả hai đem bán. Lý Quốc Đ1 xem xe thấy xe xấu, không mua nên gọi điện thoại giới thiệu xe cho bạn của Quốc Đ1 là Lô Mạnh L1 do biết L1 không có xe đi lại.
Sau đó Quốc Đ1 điều khiển xe biển số: 51F3-6861 đến số: 317B, khu P, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh đến gặp và cho L1 xem xe. Sau khi thương lượng, Đ1 và D đồng ý bán chiếc xe trên cho L1 với giá 2.500.000đồng, L1 nhận xe và đưa cho Lý Quốc Đ1 tiền mặt.
Sau khi Lý Quốc Đ1 quay về quán cà phê đưa cho Đ1 2.500.000 đồng, Đ1 lấy 1.000.000 đồng, đưa D 1.000.000 đồng, Đ1 cho Lý Quốc Đ1 500.000 đồng tiền cà phê giới thiệu bán xe cho Lô M. Đ1, D và Quốc Đ1 dùng số tiền này để tiêu xài cá nhân.
Ngày 28/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố T phối hợp với Công an xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai và Công an phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương tiến hành mời Lê Phước D, Lương Thành Đ2, Lô Mạnh L1 và Lý Quốc Đ1 về trụ sở Công an phường A, thành phố T để làm việc.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố T, Lê Phước D, Lương Thành Đ2, Lô Mạnh L1, Lý Quốc Đ1 khai nhận nội dung sự việc như trên. Lý Quốc Đ1 khai nhận không biết xe mô tô hiệu Honda Dream 51F3-6861 là do Lê Phước D, Lương Thành Đ2 thực hiện hành vi vi phạm pháp luật mà có, do Lương Thành Đ2 là bạn bè và D giới thiệu là cảnh sát nên Lý Quốc Đ1 tin tưởng giới thiệu L1 mua xe. Đối với Lô Mạnh L1, do đang cần xe để đi lại, được Lý Quốc Đ1 giới thiệu xe Dream cũ không giấy tờ nên đồng ý mua với giá 2.500.000 đồng. Lô Mạnh L1 và Lý Quốc Đ1 đều không biết được đây là tài sản do Lê Phước D, Lương Thành Đ2 thực hiện hành vi phạm tội mà có.
Kết luận định giá tài sản số 91-KV1/KLÐG- HĐĐGTS ngày 25/9/2024 của Hội đồng định giá- Ủy ban nhân dân thành phố T kết luận: 01 chiếc xe máy mô tô, nhãn hiệu Honda Dream, biển số: 51F3-6861 (số máy: C100ME0378658; số khung: C100M0378658) trị giá 15.167.000 đồng, thời điểm định giá ngày 20/8/2024;
* Vật chứng vụ án:
- - 01 xe mô tô hiệu xe mô tô hiệu Honda Dream biển số 51F3-6861, chị Đinh Thị Uyên U là chủ sở hữu hợp pháp. Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố T đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho Chị Đinh Thị Uyên U;
- - 01 xe mô tô Yamaha Exciter (bị đục số khung, số máy) biển số: 60F1- 66.359. Qua xác minh, biển số 60F1-66.359 là của xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i, do bà Vũ Thị T1 đứng tên chủ sở hữu. Bà T1 mua xe năm 2017, hiện bà T1 không bị mất biển số; chủ sở hữu xe mô tô Yamaha Exciter (bị đục số khung, số máy) là Bạch Quốc H1, mua thanh lý theo Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá
số 026/2022/HĐMBĐG- KB ngày 06/10/2022 của Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. Xe đã bị đục số khung, số máy, hủy biển số khi H1 bán cho D với giá 8.000.000 đồng. D khai nhận biển số: 60F1- 66.359 là D mua trên trang mạng xã hội facebook từ một người không rõ lai lịch với giá 250.000 đồng rồi gắn vào xe để sử dụng.
- - 01 điện thoại OPPO A17K, kiểu máy CPH2471, màu vàng;
- - 01 nón bảo hiểm màu trắng có chữ "VESPAR";
- - 01 nón bảo hiểm màu xám;
- - 01 áo khoác tay dài, màu đen, phần ngực áp có chữ và logo ADIDAS;
- - 01 quần dài vải jean màu đen;
- - 02 chiếc dép nam loại quai ngang màu đỏ- đen, đế viền màu trắng;
- - 02 chiếc dép nam loại quai ngang màu trắng-đen có nhiều chữ G trên quai, đế màu trắng có chữ "DUMA fashion";
- - 01 điện thoại Realme Note 50, màu đen;
- - 01 quần tây dài màu đen;
- - 01 điện thoại Iphone 12 Promax;
- - 01 điện thoại Iphone 13 Promax.
* Về trách nhiệm dân sự: Chị Đinh Thị Uyên U đã nhận lại tài sản là 01 xe mô tô hiệu xe mô tô hiệu Honda Dream biển số 51F3-6861; ngoài ra, chị V không yêu cầu bồi thường gì thêm;
Tại bản Cáo trạng số 95/CT- VKSTPTĐ ngày 22/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố các bị cáo Lê Phước D và Lương Thành Đ2 về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- - Các bị cáo Đ2, D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Lê Phước D và Lương Thành Đ2. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Áp dụng khoản 1 Điều 170; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017; xử phạt bị cáo Lương Thành Đ2 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù giam;
- + Áp dụng khoản 1 Điều 170; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017; xử phạt bị cáo Lê Phước Danh T2 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù giam;
- - Các bị cáo Lê Phước D và Lương Thành Đ2 không tranh luận về hành vi phạm tội, lời sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố T, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được và kết quả tranh luận tại phiên tòa có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:
Do không có tiền tiêu xài, bị cáo Lê Phước D rủ bị cáo Lương Thành Đ2 giả danh cảnh sát hình sự kiểm tra giấy tờ xe của người đi đường chiếm đoạt xe để bán kiếm tiền tiêu xài, bị cáo Đ2 đồng ý. Vào khoảng 01 giờ 14 phút, ngày 20/8/2024, bị cáo D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 60F1-66.359 chở bị cáo Đ2 lưu thông từ tỉnh Đồng Nai đến khu vực S, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện trẻ Nguyễn Trấn D1 đang điều khiển xe mô tô hiệu Honda Dream biển số 51F3-6861 chở trẻ Trần Gia K, bị cáo D điều khiển xe ép sát xe của trẻ D1 và nói: “Đi đâu, Phòng chống tội phạm hình sự, tấp xe vô lề, kiểm tra giấy tờ”, trẻ D1 và trẻ K xuất trình đầy đủ giấy tờ nhưng các bị cáo nói đem xe về phường, bị cáo Đ2 đi lên xe Honda Dream biển số 51F3-6861 điểu khiển và cùng bị cáo D chạy tẩu thoát. Ngày 28/8/2024, mẹ ruột của trẻ K là chị Đinh Thị U1 Uy biết sự việc và đến Công an phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh trình báo sự việc. Ngày 31/8/2024, các bị cáo bị Công an phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh bắt giữ.
Căn cứ vào Kết luận định giá tài sản số 91-KV1/KLÐG- HĐĐGTS ngày 25/9/2024 của Hội đồng định giá- Ủy ban nhân dân thành phố T kết luận: 01 chiếc xe máy mô tô, nhãn hiệu Honda Dream, biển số: 51F3-6861 (số máy: C100ME0378658; số khung: C100M0378658) trị giá 15.167.000 đồng, thời điểm định giá ngày 20/8/2024;
Như vậy, căn cứ vào lời khai nhận tội của các bị cáo, được xác định phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tang vật chứng thu giữ được. Đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Lê Phước D và Lương Thành Đ2 phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng cho xã hội, thực hiện với quyết tâm cao, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất tình hình trật tự trị an tại địa phương, trị giá tài sản các bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 15.167.000 đồng. Đây là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại khoản 1 của điều luật đã viện dẫn.
[3] Về vai trò: Trong vụ án này, các bị cáo đồng phạm giản đơn. Bị cáo D dù khi phạm tội là người chưa thành niên nhưng lại là người rủ rê bị cáo Đ2 thực hiện hanh vi phạm tội, là người trực tiếp điều khiển xe Yamaha Exciter, biển số 60F1-66.359 ép sát xe của các bị hại để tạo điểu kiện cho bị cáo Đ2 chiếm đoạt tài sản của các bị hại. Bị cáo Đ2 là người trực tiếp chiếm đoạt tài sản của các bị hại, trực tiếp liên lạc với Lý Quốc Đ1 để tiêu thụ tài sản chiếm đoạt; đồng thời, hành vi phạm tội của các bị cáo giả danh công an để chiếm đoạt tài sản của bị hại đã làm cho quần chúng hoang mang, gây dư luận xấu cho xã hội nên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử căn cứ vào vai trò của các bị cáo để có mức hình phạt tương xứng để có tác dụng răn đe, cải tạo giáo dục các bị cáo.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo D khi phạm tội là người chưa thành niên; tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; giảm cho các bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại trẻ Trần Gia K được mẹ ruột là chị Đinh Thị Uyên U cho mượn chiếc xe Honda Dream biển số 51F3-6861 để đi chơi thì bị các bị cáo chiếm đoạt. Qua xác minh, điều tra, chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe trên là chị Đinh Thị Uyên V. Bị hại trẻ Nguyễn Trấn D1 đi cùng trẻ K không bị thiệt hại gì về tài sản. Chiếc xe gắn máy Honda Dream biển số 51F3-6861 đã được Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an Thành phố H trả cho chủ sở hữu hợp pháp chị Uyên U là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về thu lợi bất chính:
Chiếc xe Honda Dream biển số 51F3- 6861 sau khi các bị cáo chiếm đoạt được thì bị cáo Đ1 liên lạc với Lý Quốc Đ1 để tiêu thụ, Đ1 coi xe thì không mua nên giới thiệu Lô Mạnh L1 cho Đ1 và đưa xe cho Quốc Đ1 đi bán. L1 coi xe và
đồng ý mua giá 2.500.000 đồng. Quốc Đạt đưa cho bị cáo Đ1 2.500.000 đồng, bị cáo Đ1 lấy 1.000.000 đồng, đưa cho bị cáo D 1.000.000 đồng, cho Quốc Đ1 500.000 đồng.
Trong quá trình điều tra, Lý Quốc Đ1 và Lô Mạnh L1 khai nhận không biết chiếc xe Honda Dream biển số 51F3- 6861 là tài sản do các bị cáo phạm tội mà có. Lô M không yêu cầu các bị cáo và Quốc Đ1 hoàn trả lại số tiền 2.500.000 đồng nên Hội đồng xét xử quyết định buộc mỗi bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính số tiền 1.000.000 đồng và Quốc Đ1 số tiền 500.000 đồng để tịch thu sung quỹ Nhà nước. Hội đồng xét xử ghi nhận ông Lô Mạnh L1 không yêu cầu các bị cáo và Quốc Đ1 hoàn trả lại số tiền 2.500.000 đồng.
[7] Về xử lý vật chứng:
7.1. Thu giữ của bị cáo D các vật chứng sau:
- - 01 cái nón bảo hiểm màu trắng có chữ “VESPA”; 01 cái áo khoác tay dài, màu đen, phần ngực áo có chữ và logo ADIDAS; 01 cái quần dài, vải jean, màu đen; 02 chiếc dép nam, loại quai ngang màu đỏ- đen, đế viền màu trắng, đã qua sử dụng; 02 chiếc dép nam, loại quai ngang màu trắng- đen có nhiều chữ G trên quai, đế màu trắng có chữ “DUWA fashion”- các vật chứng trên là công cụ, phương tiện phạm tội và đồng thời, không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.
- - 01 cái điện thoại hiệu OPPO, loại A17K, kiểu máy CPH 2471, màu vàng; tại phiên tòa, bị cáo D khai nhận cho bị cáo Đ1 mượn để bị cáo Đ1 liên lạc với Quốc Đ1 để mua bán xe Honda Dream biển số 51F3-6861- vật chứng trên được sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, sung quỹ Nhà nước;
7.2. Thu giữ của bị cáo Đ1 các vật chứng sau:
- - 01 cái quần tây dài màu đen; 01 cái nón bảo hiểm màu xám- vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội và không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.
- - 01 cái điện thoại di động hiệu Realme Note 50, màu đen- vật chứng không liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo Đ1;
7.3 Thu giữ của ông Lô Mạnh L1:
- - 01 chiếc xe mô tô Yamaha Exciter (bị đục số khung, số máy), biển số 60F1- 66.359. Qua điều tra, xác minh; chiếc xe này ban đầu là loại xe Yamaha MXKING, biển số 68E1- 321.37, số khung: MH3UG0710JK249, số máy: G3E6E-0379951. Anh Bạch Quốc H1 là người trúng đấu giá tại Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số 026/2022/HĐMBĐG- KB ngày 06/10/2022 giữa Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện N với H2 kinh doanh Bạch Quốc H1 (anh Bạch Quốc H1 là chủ hộ). Anh H1 mua xe về đục lại số khung, số máy, hủy bỏ biển số 60F1-66.359 và tân trạng lại chiếc xe trên là xe Yamaha Exciter. Anh H1 bán
chiếc xe trên cho bị cáo Danh giá 8.000.000 đồng, các bên không lập giấy tờ mua bán. Bị cáo D lên mạng xã hội facebook mua biển số 60F1-66.359 giá 250.000 đồng gắn vào xe để sử dụng. Qua xác minh, biển số 60F1-66.359 là xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i, số khung: RLHKF141XDY080074, số máy: KF14E0070034 do bà Vũ Thị T3 đứng tên chủ sở hữu hợp pháp; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bà T1 trình bày chiếc xe mô tô biển số 60F1-66.359, số khung: RLHKF141XDY080074, số máy: KF14E0070034 hiện nay bà T1 đang quản lý và sử dụng. Hội đồng xét xử xét thấy, chiếc xe trên được bị cáo D sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội; số khung, số máy đã bị đục và đã từng được sung quỹ nhà nước bán đấu giá nhưng bên trúng đấu giá đã làm thay đổi hiện trạng của xe nên không đủ điều kiện lưu hành; do đó, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy chiếc xe nêu trên.
- - 01 biển số 60F1-66.359, là biển số giả mà bị cáo D mua để sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.
- - 01 cái điện thoại hiệu Iphone 13 Promax- vật chứng này không liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho ông Lô Mạnh L1;
7.4 Thu giữ của ông Lý Quốc Đ1:01 cái điện thoại hiệu Iphone 12 Promax- vật chứng được Quốc Đ1 sử dụng liên lạc với bị cáo Đ1 về việc mua bán xe Honda Dream biển số 51F3-6861 nhưng Quốc Đ1 không biết tài sản trên là do phạm tội mà có nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho Quốc Đ1 chiếc điện thoại nêu trên;
[8] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Đối với Lý Quốc Đ1, Lô Mạnh L1 không biết xe Honda Dream, biển số 51F3-6861 là tài sản do các bị cáo phạm tội mà có để đem đi tiêu thụ và mua để sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an Thành phố H không xử lý Lý Quốc Đ1, Lô Mạnh L1 về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ.
Đối với hành vi của bị cáo D mua biển số 60F1-66.359: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo D khai nhận không xác định được thông tin người bán biển số 60F1-66.359; khi phạm tội, bị cáo D là người chưa thành niên, trình độ văn hóa thấp nên bị cáo D không nhận thức được biển số trên là thật hay giả khi mua trên mạng xã hội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an Thành phố H không xử lý bị cáo D về hành vi “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” là có căn cứ;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Lương Thành Đ2 và Lê Phước D phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”;
2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Lương Thành Đ2 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/8/2024;
3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 91, Điều 101; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Lê Phước D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/8/2024;
4. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
4.1 Tịch thu, tiêu hủy:
- - 01 (một) chiếc xe mô tô Yamaha Exciter (bị đục số khung, số máy) và biển số 60F1-66.359;
- - 01 (một) cái nón bảo hiểm màu trắng có chữ “VESPA”;
- - 01 (một) cái áo khoác tay dài, màu đen, phần ngực áo có chữ và logo ADIDAS;
- - 01 (một) cái quần dài, vải jean, màu đen;
- - 02 (hai) chiếc dép nam, loại quai ngang màu đỏ- đen, đế màu đen viền màu trắng, đã qua sử dụng;
- - 02 (hai) chiếc dép nam, loại quai ngang màu trắng- đen có nhiều chữ G trên quai, đế màu trắng có chữ “DUWA fashion”
- - 01 (một) cái quần tây dài màu đen;
- - 01 (một) cái nón bảo hiểm màu xám;
4.2 Tịch thu, sung quỹ Nhà nước:
- - 01 (một) cái điện thoại hiệu OPPO, loại A17K, kiểu máy CPH 2471, màu vàng;
4.3 Trả lại cho bị cáo Lương Thành Đ2: 01 (một) cái điện thoại hiệu Realme Note 50, màu đen;
4.4 Trả lại cho ông Lý Quốc Đ1: 01 (một) cái điện thoại hiệu Iphone 12 Promax;
4.5 Trả lại cho ông Lô Mạnh L1: 01 (một) cái điện thoại hiệu Iphone 13 Promax;
4.6 Buộc bị cáo Lê Phước D nộp lại số tiền thu lợi bất chính số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước;
4.7 Buộc bị cáo Lương Thành Đ2 nộp lại số tiền thu lợi bất chính số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước;
4.8 Buộc ông Lý Quốc Đ1 nộp lại số tiền thu lợi bất chính số tiền 500.000 (năm trăm ngàn) đồng để sung quỹ Nhà nước;
5. Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo và bà Vũ Thị T1 có quyền kháng cáo bản án xin xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thúy Nga |
Bản án số 341/2025/HS-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 341/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cưỡng đoạt tài sản
