Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 341/2025/DS-PT

Ngày: 24-6-2025

V/v tranh chấp hợp đồng mua bán

tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Nhân

Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Hồng Vân

Bà Đinh Thị Ngọc Yến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tho - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 23 và ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 157/2025/TLPT-DS ngày 24 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 140/2025/QĐ-PT ngày 15 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Mộng T, sinh năm: 1977, địa chỉ: Khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, có mặt.

- Bị đơn:

  1. Ông Võ Minh T1, sinh năm: 1964, địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Long An, có mặt.
  2. Bà Huỳnh Thị Tuyết N, sinh năm: 1963, địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Long An, có mặt tại phiên tòa ngày 23/6/2025, có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa ngày 24/6/2025.
  3. Anh Võ Nhân T2, sinh năm: 1995, địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Long An, có mặt.
  4. Anh Diệp Duy T3, sinh năm: 1998, địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Long An, vắng mặt.
  5. Chị Võ Thị Trúc T4, sinh năm: 1989; Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Long An, có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Liên Phước Đăng H, sinh năm 1995: địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang, theo giấy ủy quyền ngày 03/6/2025, có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn chị T4: Luật sư Phùng Văn H1 – Đoàn luật sư tỉnh B, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Võ Văn H2, sinh năm: 1981; Khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng:

  1. Ông Huỳnh Tuấn D, sinh năm: 1991; địa chỉ: Khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, có mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn P, sinh năm: 1982; địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Long An, có mặt.
  3. Ông Huỳnh Thiện K, sinh năm 1991; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ, có mặt.

- Người kháng cáo: Bị đơn chị Võ Thị Trúc T4.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và những lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Đỗ Thị Mộng T trình bày:

Khoảng đầu năm 2023, anh Võ Nhân T2, chị Võ Thị Trúc T4, ông Võ Minh T1, anh Diệp Duy T3 và bà Huỳnh Thị Tuyết N có mua nợ thức ăn thủy sản của hộ kinh doanh H4 do chồng bà là ông H2 làm đại diện. Sau khi mua bán một thời gian thì hai bên có ký hợp đồng mua bán thức ăn – thuốc thủy sản và anh T2, chị T4 có ký tên đại diện, khi ký hợp đồng thì không ghi ngày tháng năm mà để trống để khi về cửa hàng xem lại ngày hai bên bắt đầu mua bán để ghi ngày tháng năm cho phù hợp.

Tính đến ngày 23/01/2024, anh T2, chị T4, ông T1, anh T3 và bà N còn nợ số tiền 1.049.345.000 đồng, bà đã nhiều lần yêu cầu trả tiền nhưng phía bị đơn không trả. Sau đó, bà về nhà yêu cầu nhân viên Lương Thị Diễm M làm hồ đơn khởi kiện, M thấy hợp đồng mua bán không ghi ngày tháng năm nên điền ngày tháng năm vô hợp đồng như ngày làm đơn khởi kiện và đơn khởi kiện đã nộp tại Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng.

Nay bà T xin thay đổi yêu cầu khởi kiện, bà không yêu cầu anh Diệp Duy T3 trả nợ cho bà. Bà yêu cầu ông Võ Minh T1, anh Võ Nhân T2, chị Võ Thị Trúc T4 và bà Huỳnh Thị Tuyết N phải liên đới trả cho bà số tiền gốc là 1.049.345.000 đồng và lãi suất 0,83%/tháng, tính từ ngày 13/4/2024 (sau khi trừ 80 ngày, kể từ ngày chốt công nợ 23/01/2024) đến ngày xét xử sơ thẩm làm tròn là 09 tháng (1.049.345.000 đồng x 0,83%/tháng x 09 tháng = 78.386.067 đồng) thành tiền là 78.386.000 đồng (đã làm tròn).

Như vậy, ông Võ Minh T1, anh Võ Nhân T2, chị Võ Thị Trúc T4 và bà Huỳnh Thị Tuyết N phải liên đới trả cho bà tổng số tiền 1.127.731.000 đồng (1.049.345.000 đồng tiền gốc + 78.386.000 đồng tiền lãi suất = 1.127.731.000 đồng).

Bị đơn ông Võ Minh T1 trình bày:

Trước đây ông có mua thức ăn, thuốc để nuôi tôm của cửa hàng Hoàng Y do bà T làm chủ, ông có trả cho bà T số tiền 500.000.000 đồng nhưng sau đó bà T không bán hàng cho ông nữa. Nay ông đồng ý trả cho bà T số tiền 1.049.345.000 đồng, không đồng ý trả tiền lãi suất.

Bị đơn chị Võ Thị Trúc T4 trình bày:

Khoảng đầu năm 2023, em ruột bà là anh Võ Nhân T2 có đào thêm 02 ao nuôi tôm, đến tháng 6/2023 do không đủ tài chính nên có rủ vợ chồng chị hùn vốn để nuôi chung. Sau 03 tháng nuôi thì thu hoạch tôm, vợ chồng đã tính toán chi phí (thức ăn, thuốc, nhân viên, tiền điện) và đưa tiền cho anh T2. Vợ chồng không làm chung với anh T2 nữa do bị thua lỗ và anh T2 hùn làm ăn chung với anh H2.

Đến ngày 03/02/2024, anh H2 và chị T lên nhà với lý do cho quà tết, sau khi tặng quà xong thì anh H2, chị T đem ra cuốn sổ hợp đồng mua bán thức ăn – thuốc thủy sản và yêu cầu anh T2 ký hợp đồng để báo cáo với công ty. Sau khi anh T2 ký xong thì chị T nói với T2 là hợp đồng phải có 02 vợ chồng ký mới được, do T2 chưa có vợ nên chị T nhờ chị ký tên dùm để hợp thức hóa hồ sơ. Việc mua bán giữa anh T2 và vợ chồng anh H2, chị T thì chị không biết nên không đồng ý trả tiền theo yêu cầu khởi kiện của chị T.

Bị đơn anh Võ Nhân T2 trình bày:

Khoảng đầu năm 2023, vợ chồng anh H2, chị T lên nhà anh để chào bán thức ăn và thuốc thủy sản, khoảng tháng 3/2023 thì hai bên mua bán với nhau nhưng không có làm hợp đồng. Sau khi mua bán thì anh đã nhiều lần thanh toán tiền thức ăn và thuốc nhưng phía anh H2, chị T nhiều lần không giao hàng hoặc giao hàng chậm trễ, đến khi gần thu hoạch tôm thì cửa hàng không giao hàng hóa dẫn đến việc bị thua lỗ nên nợ tiền lại cửa hàng và hai bên chưa tính toán số nợ cụ thể.

Ngày 03/02/2024, anh H2 và chị T lên nhà anh với lý do cho quà tết, sau khi tặng quà xong thì anh H2, chị T đem ra cuốn sổ hợp đồng mua bán thức ăn – thuốc thủy sản và yêu cầu anh phải ký hợp đồng để báo cáo với công ty. Sau khi anh ghi thông tin và ký tên xong thì chị T nói với chị T4 là hợp đồng phải có 02 vợ chồng ký mới được, do anh chưa có vợ nên chị T nhờ chị T4 ký tên dùm để hợp thức hóa hồ sơ, việc anh làm ăn với anh H2, chị T thì chị T4 không biết. Nay anh đồng ý trả cho chị T số tiền 1.049.345.000 đồng, không đồng ý trả tiền lãi suất.

Bị đơn bà Huỳnh Thị Tuyết N trình bày:

Trước đây chồng bà có mua thức ăn, thuốc để nuôi tôm của cửa hàng Hoàng Y do chị T làm chủ. Nay bà đồng ý trả cho chị T số tiền 1.049.345.000 đồng, không đồng ý trả tiền lãi suất.

Bị đơn anh Diệp Duy T3 trình bày:

Anh là bạn ở gần nhà của anh T2, anh và anh T2 không có làm ăn chung hay hùn vốn làm ăn. Khi qua nhà anh T2 chơi thì bên phía cửa hàng thức ăn giao hàng, do anh T2 không có nhà nên có gọi điện thoại thông tin cho anh T2 biết và nhờ ông kiểm tra số lượng và ký tên nhận hàng dùm, còn việc làm ăn của anh T2 thì anh không biết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Văn H2 trình bày: Anh có đứng tên chủ hộ kinh doanh nhiều cửa hàng tên Hoàng Q, H, Hoàng Y, hiện nay anh đã chuyển giao lại cho vợ là chị Đỗ Thị Mộng T đứng tên kinh doanh và quyền thu hồi nợ.

Năm 2023, vợ chồng có mua bán với anh Võ Nhân T2, chị Võ Thị Trúc T4, ông Võ Minh T1, anh Diệp Duy T3 và bà Huỳnh Thị Tuyết N. Sau khi mua bán một thời gian thì hai bên có ký hợp đồng mua bán thức ăn – thuốc thủy sản và anh T2, chị T4 có ký tên đại diện, khi ký hợp đồng thì không ghi ngày tháng năm mà để trống để khi về cửa hàng xem lại ngày hai bên bắt đầu mua bán để ghi ngày tháng năm cho phù hợp.

Tính đến ngày 23/01/2024, anh Võ Nhân T2, chị Võ Thị Trúc T4, ông Võ Minh T1, anh Diệp Duy T3 và bà Huỳnh Thị Tuyết N còn nợ số tiền 1.049.345.000 đồng, vợ chồng anh đã nhiều lần yêu cầu trả tiền nhưng không có kết quả. Sau đó, chị T về nhà yêu cầu nhân viên Lương Thị Diễm M làm hồ đơn khởi kiện, M thấy hợp đồng mua bán không ghi ngày tháng năm nên điền ngày tháng năm vô hợp đồng như ngày làm đơn khởi kiện và đơn khởi kiện đã nộp tại Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng. Nay anh thống nhất với yêu cầu khởi kiện của chị T.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An đã xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Mộng T đối với ông Võ Minh T1, bà Huỳnh Thị Tuyết N, anh Võ Nhân T2 và chị Võ Thị Trúc T4 về việc tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản”.
  2. Ông Võ Minh T1, bà Huỳnh Thị Tuyết N, anh Võ Nhân T2 và chị Võ Thị Trúc T4 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Đỗ Thị Mộng T tổng số tiền 1.127.731.000 đồng (1.049.345.000 đồng tiền gốc + 78.386.000 đồng tiền lãi suất = 1.127.731.000 đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Về án phí: Ông Võ Minh T1, bà Huỳnh Thị Tuyết N, anh Võ Nhân T2 và chị Võ Thị Trúc T4 phải liên đới chịu 45.831.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Chị Đỗ Thị Mộng T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho bà T 24.350.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002074 ngày 15/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hưng, tỉnh Long An.

    Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, hướng dẫn thi hành án.

Ngày 21/01/2025, bị đơn chị Võ Thị Trúc T4 kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết cho chị không phải liên đới cùng ông Võ Minh T1, bà Huỳnh Thị Tuyết N và anh Võ Nhân T2 thanh toán cho chị T số tiền mua thức ăn, thuốc thủy sản còn nợ là 1.127.731.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn chị Đỗ Thị Mộng T vẫn giữ guyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn chị Võ Thị Trúc T4 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, tại phần tranh luận:

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn chị T4 trình bày:

Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng tố tụng, cụ thể là căn cứ vào bản tự khai tại bút lục 57 và đơn khởi kiện tại bút lục 01 phía bà T là nguyên đơn trong vụ án khẳng định việc mua bán và các vấn đề phát sinh từ hộ kinh doanh H4. Căn cứ lời khai và sự khẳng định này đối chiếu rằng hộ kinh doanh H4 tại thời điểm đó là do ông Huỳnh Tấn D1 là người đứng tên chủ hộ kinh doanh. Từ hai vấn đề trên khẳng định toàn bộ nghĩa vụ này phát sinh liên quan đến cửa hàng H5 và cửa hàng này đặt tại huyện T và phù hợp với lời khai của ông T2 và ông T1 là mua tại T và và họ khai nhận là mua tại T. Từ hai cơ sở này có thể khẳng định được rằng tại thời điểm đó bà T không phải là chủ hộ kinh doanh Hoàng Quyên 1 và các nghĩa vụ nợ này phát sinh từ H. Căn cứ vào Nghị định số 01 năm 2021 hướng dẫn về đăng ký kinh doanh trong đó có quy định về quyền và nghĩa vụ kinh doanh. Việc đứng ra khởi kiện và tham gia tố tụng phải là chủ hộ kinh doanh, trường hợp này bà T không chứng minh được bà là chủ hộ kinh doanh này và cấp sơ thẩm có hai vi phạm đó là xác định bà T là nguyên đơn và cho tham gia tố tụng, thứ hai là không đưa ông Huỳnh Tuấn D là chủ hộ kinh doanh vào tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng tố tụng, cụ thể là Điều 68 Bộ Luật tố tụng dân sự. Bà T thừa nhận tại thời điểm đó ông H2 là chồng bà đứng tên chủ hộ kinh doanh Hoàng Quyên 1 và bà T cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh bà là thành viên của hộ kinh doanh này. Theo Nghị định số 01 thì quy định rất rõ nếu là thành viên trong hộ thì phải có sự ủy quyền của chủ hộ để đăng ký và hoạt động kinh doanh. Tất cả văn bản ủy quyền chuyển tiếp quyền đòi nợ điều được xác lập sau thời điểm Tòa thụ lý

Về nội dung vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xác định nghĩa vụ liên đới của bà T4 là chưa phù hợp. Tại bút lục số 63 bà T khai rằng ký hợp đồng để xin công ty hỗ trợ thức ăn. Và việc ký hợp đồng này là sau thời điểm phát sinh các công nợ, điều này thể hiện rất rõ trong hồ sơ vụ án. Kết hợp với lời khai của bị đơn ông T2 khẳng định từ trước đến nay chỉ thực hiện giao dịch với ông D và tới thời điểm ký hợp đồng là ông D dẫn vợ chồng bà T đến ký hợp đồng. Ông D cũng khẳng định từ trước đến nay chỉ thực hiện mua bán với ông T2, ông T1 và ông D là người trực tiếp giao dịch không phải là bà T. Từ các vấn đề trên sâu chuỗi lại thì thấy rằng các hợp đồng là căn cứ để khởi kiện trong vụ án là hợp đồng hợp thức hóa cho các công nợ và cá nhân nguyên đơn vẫn thừa nhận sự việc này, do đó tôi đề nghị áp dụng K2 Điều 92 đây là tình tiết sự kiện không phải chứng minh. Từ sự việc hợp thức hóa này và hợp đồng này là hợp đồng hợp thức hóa nên sửa đổi liên tục, có đến 3 lần sửa đổi và các lần sửa đổi nó điều liên quan đến việc ràng buộc nghĩa vụ. Thứ nhất hợp đồng ban đầu không có chữ ký bên bán, hợp đồng thứ hai chỉ có cá nhân ông H2 chồng bà T ký vào hợp đồng và hợp đồng thứ ba thì vợ chồng bà T ký đầy đủ và thừa nhận hợp đồng này, chứng tỏ chủ thể trong hợp đồng này liên tục có sự thay đổi.

Đối với thời gian, ngày tháng của hợp đồng, hợp đồng này sửa đổi lúc đầu, theo tài liệu của ông D và ông T2 cung cấp chụp lại tại nơi ký hợp đồng, thì hợp đồng không ghi ngày tháng năm, nhưng hợp đồng cung cấp cho tòa án thì lại có hai mốc thời gian đó là lúc thì năm 2023 lúc thì năm 2024. Bà T cho rằng đó là lỗi của thư ký trong quá trình ký để hợp thức hóa hồ sơ khởi kiện, ngay việc thừa nhận này cũng là sự việc không cần phải chứng minh. Bản thân bà thừa nhận việc ký năm 2024 không đủ điều kiện khởi kiện, nên sửa lại năm 2023 đó là sự sâu chuỗi về mặc sự kiện, từ hai căn cứ đôi bên cho thấy rằng việc nghĩa vụ liên đới trong trường hợp có chứng minh rằng có quan hệ dòng tiền này là dòng tiền nợ của hai vợ chồng cũng không đủ điều kiện buộc liên đới, bởi vì những giấy xác nhận nợ và biên nhận hàng không có bất kỳ cái giấy tờ nào bà T4 ký mà

chỉ dựa vào hợp đồng hợp thức hóa phía sau đó để quy kết nghĩa vụ phát sinh trước đó là điều vô lý. Tôi khẳng định rằng trong tất cả các giấy giao nhận hàng, không có giấy nào bà T4 ký tên. Nội hàm của hợp đồng là hợp đồng nguyên tắc tức là hợp đồng khuôn thỏa thuận sẽ tương xứng với từng đơn giao hàng sẽ xác lập nghĩa vụ trong đơn giao hàng đó, không thể sử dụng hợp đồng khuôn này quy kết những cái giao kết trước đó. Cho nên không thể buộc nghĩa vụ liên đới trong trường hợp này. Mặc khác trong hợp đồng không thể hiện những thành viên nào sẽ chịu nghĩa vụ liên đới cho tất cả các nghĩa vụ phát sinh trong hợp đồng này. Do đó, để giải quyết triệt để vụ án đề nghị Hội đồng xét xử hủy án sơ thẩm đưa ông D vào tham gia tố tụng với vai trò là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án chưa thỏa đáng, tòa án không thu thập Giấy phép kinh doanh, điều kiện kinh doanh từ Phòng đăng ký kinh doanh, mà chỉ dựa vào xác nhận của ủy ban xã để giải quyết vụ án là không đúng và không đủ cơ sở.

Người đại diện theo ủy quyền của chị T4 trình bày:

Thống nhất với phần trình bày của luật sư và không bổ sung gì thêm.

Nguyên đơn chị T trình bày:

những vấn đề luật sư trình bày là không đúng, của hàng Hoàng Quyên 1 là do chồng tôi làm chủ và hợp đồng mua bán đứng tên chồng tôi là Võ Văn H2 tại thị trấn M, tôi sẽ cung cấp giấy phép kinh doanh cho Tòa án. Việc ông Huỳnh Tuấn D tự làm giấy chi nhánh cửa hàng của tôi thêm số 01 vào để lừa đảo chứ không hề mua bán kinh doanh gì. Việc xác định mua bán của bên gia đình T4 là hoàn toàn đúng, tôi có tài liệu ghi âm chứng minh ông P chồng bà T4 thừa nhận việc mua bán và hùn vốn làm ăn giữa bà T4 và ông T2. Hộ kinh doanh chúng tôi mua bán có sổ sách ghi chép đầy đủ rõ ràng, do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tránh để bị đơn trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.

Bị đơn anh Võ Anh T5 trình bày:

Chị T4 có hùn hạp làm ăn với tôi, tuy nhiên giao dịch của tôi với chị T4 là giao dịch với Hoàng Y tại T, tôi còn giữ các tài liệu chứng minh hóa đơn giao dịch, tôi xác định hoàn toàn không có giao dịch với chị T tại thị trấn M như lời trình bày của chị T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Văn H2 trình bày:

Tôi đồng ý với lời trình bày của vợ tôi. Đây là tài sản vợ chồng và tôi thống nhất để vợ tôi đứng tên khởi kiện.

Luật sư H1 bổ sung:

Bà T cho rằng đoạn ghi âm thể hiện chồng của bà T4 thừa nhận bà T4 có hùn vốn làm ăn với ông T5 và đang nợ với bà T một số tiền là không đúng. Phía nguyên đơn cho rằng các giao dịch cho rằng xác lập tại H không phải tại H, lời trình bày này mâu thuẫn với chính lời khai của nguyên đơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng:

Kháng cáo của nguyên đơn chị Võ Thị Trúc T4 thực hiện đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Ngày 21/01/2025 bị đơn chị Võ Thị Trúc T4 có đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm giải quyết quyết cho chị không liên đới với ông Võ Minh T1, anh Võ Nhân T2 và bà Huỳnh Thị Tuyết N trả cho chị Đỗ Thị Mộng T tổng số tiền gốc và

lãi là 1.127.731.000đ. Tại phiên tòa, người đại diện của chị T4 đưa ra những lý do đề nghị hủy án sơ thẩm. Xét kháng cáo của chị T4 thấy rằng:

Chị T yêu cầu chị T4 phải liên đới với ông T1, bà N và anh T2 trả tiền cho chị là có căn cứ, bởi vì: Hợp đồng mua bán thức ăn – thuốc thủy sản có chữ ký và ghi tên Võ Thị Trúc T4 và được chị T4 thừa nhận là chữ ký của chị. Đồng thời, chị T4 thừa nhận bà có hùn vốn làm ăn chung với anh Võ Nhân T2.

Chị T4 cho rằng chị T, anh H2 kêu bà ký tên vào hợp đồng mua bán thức ăn – thuốc thủy sản để đối chiếu với công ty chứ không phải mua bán thực tế nhưng chịnh T4 không có chứng cứ gì chứng minh và chị T, anh H2 không thừa nhận nên không có căn cứ xem xét.

Mặc khác, chị T4 trình bày chỉ hùn vốn làm ăn chung với anh T2 một lần là 03 tháng, sau đó làm ăn thua lỗ nên đã đưa tiền anh T2 để trả nợ cho chị T, anh H2 và được anh T2 thừa nhận.

Xét thấy: chị T4 và anh T2 là chị em ruột nên lời khai không được khách quan, chị T4 không có chứng cứ gì chứng minh cho việc không còn hùn vốn làm ăn chung với anh T2, trong khi hợp đồng mua bán thức ăn – thuốc thủy sản có chữ ký và ghi tên Võ Thị Trúc T4.

Từ nhận định trên, kháng cáo của chị T4 không có cơ sở, chị T4 phải có nghĩa vụ liên đới với ông T1, anh T2 và bà N trả cho chị T tổng số tiền 1.127.731.000 đồng. Đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Võ Thị Trúc T4. Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị đơn chị Võ Thị Trúc T4 thực hiện đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Diệp Duy T3 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn chị Võ Thị Trúc T4:

[2.1] Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn chị Võ Thị Trúc T4 trình bày cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa anh Huỳnh Tuấn D vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là thiếu sót bởi vì khoản nợ đang có tranh chấp xuất phát từ giao dịch giữa các bị đơn với H3 kinh doanh cửa hàng H5, địa điểm kinh doanh: Số 153, 154, Phạm Ngọc T6, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An do anh Huỳnh Tuấn D làm đại diện. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm anh Huỳnh Tuấn D khẳng định không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh giữa H3 kinh doanh cửa hàng thứa ăn H, địa điểm kinh doanh: Số 153, 154, Phạm Ngọc T6, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An do anh làm đại diện với các bị đơn có giao dịch mua bán thức ăn, thuốc thủy sản với nhau và có liên quan đến các khoản nợ đang có tranh chấp trong vụ án. Mặt khác, tại các bản tự khai và tại biên bản hòa giải ngày 11/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An thì các bị đơn ông T1, bà N và anh T2 đều thừa nhận có mua bán thức ăn, thuốc thủy sản của cửa hàng H5 do chị Đỗ

Thị Mộng T làm chủ và hiện còn nợ số tiền 1.049.345.000 đồng. Do đó, việc người bảo vệ quyền và lợi ích của bị đơn chị Võ Thị Trúc T4 cho rằng số nợ trên phát sinh giữa Hộ kinh doanh cửa hàng H5, địa điểm kinh doanh: Số 153, 154, Phạm Ngọc T6, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An do Huỳnh Tuấn D làm đại diện với các bị đơn và việc Tòa án cấp sơ thẩm không đưa anh D vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm thủ tục tố tụng là không có căn cứ.

[2.2] Xét thấy, nguyên đơn chị Đỗ Thị Mộng T khởi kiện yêu cầu các bị đơn trả số tiền mua thứa ăn, thuốc thủy sản còn nợ theo Hợp đồng mua bán thức ăn – thuốc thủy sản giữa Cửa hàng H5, địa chỉ kinh doanh: Khóm B, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp do anh Võ Văn H2 làm chủ. Theo giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, đăng ký thay đổi lần thứ: 4, ngày 24/4/2024 của Phòng Tài Chính - Kế hoạch huyện T, tỉnh Đồng Tháp thì người đăng ký chủ hộ kinh doanh là chị Đỗ Thị Mộng T. Do đó, việc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn chị Võ Thị Trúc T4 cho rằng chị Đỗ Thị Mộng T không có quyền khởi kiện tranh chấp đòi nợ với các bị đơn là không có căn cứ.

[2.3] Xét thấy, quá trình tố tụng, tại các bản tự khai, tại biên bản hòa giải đề ngày 11/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị đơn ông Võ Minh T1, anh Võ Nhân T2 và bà Huỳnh Thị Tuyết N thừa nhận có mua bán thức ăn, thuốc thủy sản của cửa hàng H5 do chị Đỗ Thị Mộng T làm chủ và hiện còn nợ số tiền 1.049.345.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị đơn ông Võ Minh T1, anh Võ Nhân T2 và bà Huỳnh Thị Tuyết N trình bày thống nhất với quyết định của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết và buộc các bị đơn phải trả số tiền còn nợ 1.049.345.000 đồng và tiền lãi 78.386.000 đồng là có căn cứ.

[2.2] Xét thấy, tại bản tự khai ngày 01/10/2024, bị đơn chị Võ Thị Trúc T4 trình bày thừa nhận, thời gian khoảng tháng 06 năm 2023 có thỏa thuận hùn với anh Võ Nhân T2 để nuôi tôm. Bị đơn chị T4 cũng thừa nhận có ký hợp đồng mua bán thức ăn – thuốc thủy sản với cửa hàng H5. Bị đơn chị T4 cho rằng việc thỏa thuận hùn nuôi tôm với anh Võ Nhân T2 chỉ trong khoảng thời gian 03 tháng nên khoản nợ trên không liên quan đến chị, tuy nhiên chị không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh khoản tiền nợ trên phát sinh sau khi chị kết thúc thỏa thuận hùn nuôi tôm với anh T2. Mặt khác, theo hai sổ giao hàng do nguyên đơn chị Đỗ Thị Mộng T cung cấp thể hiện thời gian giao dịch mua bán hàng giữa hai bên là từ ngày 01/04/2023 đến ngày 15/01/2024. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết và buộc chị Võ Thị Trúc T4 liên đới trả số nợ trên là có căn cứ. Bị đơn chị Võ Thị Trúc T4 kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ làm căn cứ cho việc kháng cáo nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Võ Thị Trúc T4.

[3] Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử xét không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn chị Võ Thị Trúc T4, lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn chị T4 là không có căn cứ nên không được chấp nhận. Quan điểm phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An là có căn cứ nên được chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Võ Thị Trúc T4 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do yêu cầu kháng cáo không được Tòa án chấp nhận.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Võ Thị Trúc T4;

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An.

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 235, 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 288, 357, 430, 440, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Mộng T đối với ông Võ Minh T1, bà Huỳnh Thị Tuyết N, anh Võ Nhân T2 và chị Võ Thị Trúc T4 về việc tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản”.
  2. Ông Võ Minh T1, bà Huỳnh Thị Tuyết N, anh Võ Nhân T2 và chị Võ Thị Trúc T4 có nghĩa vụ liên đới trả cho chị Đỗ Thị Mộng T tổng số tiền 1.127.731.000 đồng (1.049.345.000 đồng tiền gốc + 78.386.000 đồng tiền lãi suất = 1.127.731.000 đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Về án phí: Ông Võ Minh T1, bà Huỳnh Thị Tuyết N, anh Võ Nhân T2 và chị Võ Thị Trúc T4 phải liên đới chịu 45.831.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Chị Đỗ Thị Mộng T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho chị T 24.350.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002074 ngày 15/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hưng, tỉnh Long An.

  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Võ Thị Trúc T4 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiềm tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001598 ngày 21/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Hưng, tỉnh Long An. Chị T4 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
  6. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
  7. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Tp.HCM;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Tân Hưng;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Hưng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Trọng Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 341/2025/DS-PT ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

  • Số bản án: 341/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị Mộng T "Tranh chấp hợp đồng mua bán" Võ Minh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger