Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 341/2024/HS-PT

Ngày 14 tháng 6 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Minh Thịnh;
Các Thẩm phán: Ông Cao Văn Tám
Ông Chung Văn Kết

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vi Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở; Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 92/2024/TLPT-HS ngày 26 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn S; Do kháng cáo của bị cáo S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH N3 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2023/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh B4.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 360/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 4 năm 2024.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên Nguyễn Văn S, sinh năm 1984 tại tỉnh Hà Tĩnh; Thường trú: Ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1957 và bà Phan Thị H, sinh năm 1959; Có vợ tên Lâm Thị Hoài Y, sinh năm 1983 và có 01 con tên Nguyễn Lâm Phương L1, sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt giam từ ngày 14/5/2021 đến ngày 10/01/2022 thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh. Bị cáo có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo:

Công ty TNHH N3, địa chỉ: Tổ D, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.

Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Kim N, Chức vụ: Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quang C, Chức vụ: Phó giám đốc.

(Ngoài ra, trong vụ án còn có 02 bị cáo khác và 07 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Toà không triệu tập)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 03/12/2018, Chi nhánh công ty TNHH T4 (là chi nhánh nhưng có tư cách pháp nhân, sau đây gọi tắt là Công ty T4) có mã số doanh nghiệp 0300692986-001, (địa chỉ: khu Công nghiệp M, phường M, thị xã P, tỉnh B4), do ông Andrew Graeme Y1, Tổng giám đốc điều hành làm đại diện (vừa đại diện theo pháp luật của công ty TNHH T4, vừa là đại diện theo pháp luật của Chi nhánh công ty TNHH T4, và đều có tư cách pháp nhân), ký Hợp đồng số O-IBJC/NGANKY-2019 với Công ty TNHH N3 (Công ty N3), mã số 4201735957 (địa chỉ: tổ D, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa), do bà Nguyễn Thị Kim N, Giám đốc làm đại diện, với nội dung: Công ty N3 bán miểng chai cho Công ty T4. Khối lượng hàng mua, bán xác định theo Phiếu cân của Công ty T4.

Ngày 29/5/2020, Công ty T4 kiểm kê bất thường hệ thống sổ sách, chứng từ quản lý hàng và phát hiện từ ngày 01/12/2019 đến 31/3/2020, việc giao nhận hàng Mảnh thủy tinh màu trắng bị thiếu hụt hơn 1.300 tấn. Rà soát dữ liệu kế toán trên phần mềm ERP - Exact và đối chiếu với chứng từ xuất, nhập kho; Phiếu nhập kho (trên Sổ cũng như trên phần mềm quản lý); quy trình nhập kho nguyên vật liệu, phát hiện 31 Phiếu cân mảnh trắng do Công ty N3 giao vào Nhà máy không được ghi nhận trên sổ sách theo dõi tại các cổng bảo vệ. Công ty T4 làm việc với ông Nguyễn Quang C (Phó giám đốc Công ty N3), thì được biết từ ngày 01/12/2019 đến 31/3/2020, có một người tự xưng tên “H1”, chủ vựa miếng ở Đồng Nai, liên lạc với ông C qua điện thoại và ứng dụng Zalo số điện thoại 0369.228.xxx để giao dịch bán hàng cho Công ty N3 bằng cách cung cấp mảnh thủy tinh cho Công ty T4. Sau khi giao hàng đến Chi nhánh Công ty T4, chủ vựa miểng trên chuyển Phiếu cân qua ứng dụng Zalo để Công ty N3 thanh toán tiền mua hàng qua Tài khoản số 0401001488930 (tên Lê Hoài Bảo C1) và Tài khoản số 0081000758304 (tên Nguyễn Công N1) tại ngân hàng V; Tài khoản số G (tên Lữ Ngọc K) tại ngân hàng B2. Ngoài 31 Phiếu cân hàng Mảnh trắng bị phát hiện lập khống, qua làm việc với Công ty N3, Công ty T4 phát hiện ông C nhiều lần chuyển tiền vào các Tài khoản của Lê Hoài Bảo C1, Nguyễn Công N1 và Lữ Ngọc K để thanh toán tiền hàng. Lữ Ngọc K là nhân viên thuộc bộ phận lò của Công ty T4 và tài khoản ông C chuyển thanh toán tiền hàng trùng với tài khoản mà Công ty trả lương cho Lữ Ngọc K. Do đó, Công ty T4 đã viết đơn tố cáo đối với Hoàng Duy S1 (bảo vệ của Công ty Đ, là đơn vị được Công ty T4 thuê để bảo vệ Công ty, đồng thời có trách nhiệm cân xe chở nguyên liệu); Phạm Lương Thiên B, Lê Văn N2, Lữ Ngọc K (nhân viên vận hành lò nấu thủy tinh) và Nguyễn Văn S (thủ kho) của Công ty T4 cùng tài xế xe chở Mảnh thủy tinh của

Công ty N3 đã câu kết lập khống các phiếu cân hàng để chiếm đoạt tiền của Công ty T4.

Kết quả điều tra xác định: Theo quy trình nhập hàng tại Công ty T4, trước khi nhập hàng vào Công ty T4, nhà cung cấp sẽ gửi biên bản giao hàng (hoặc Phiếu giao hàng) trước đến địa chỉ M hoặc Zalo điện thoại của Nguyễn Văn S (thủ kho) với nội dung: “tên nhà cung cấp, loại hàng, khối lượng ước tính, tên tài xế, số xe và thời gian giao hàng” để S in và chuyển cho nhân viên của Công ty Đ biết, nhập thông tin khi xe đến cân hàng. Hàng ngày từ 07 giờ đến 16 giờ 30 phút, các xe của nhà thầu cung cấp vận chuyển hàng đến công ty T4 qua cổng số 01 hoặc số 02. Khi xe lên cầu cân, tài xế sẽ tắt máy, xuống xe để nhân viên cân nhập thông tin như ghi trên Biên bản giao hàng (hoặc Phiếu giao hàng) vào máy tính của hệ thống cân. Các thông tin như số Phiếu cân, ngày giờ cân, trọng lượng xe, khối lượng hàng máy tính tự động cập nhật. Sau khi nhập thông tin, nhân viên bảo vệ nhấn nút cân xác định khối lượng hàng và xe để máy tính tự động lưu dữ liệu (cân lần 1, lúc này chưa in Phiếu). Quá trình cân phải có sự giám sát của S. Sau khi cân, tài xế điều khiển xe vận chuyển hàng đến Bãi mảnh thủy tinh để dỡ hàng. Tại đây, các nhân viên vận hành lò nấu gồm: Phạm Lương Thiên B và Lê Văn N2 xác định loại miểng thủy tinh. Sau đó, nhân viên Lữ Ngọc K lái xe nâng, xe gàu để dỡ hàng xuống bãi. Nguyễn Văn S kiểm tra hàng nhập kho. Sau khi dỡ hàng, tài xế cho xe quay lại cầu cân để cân xe không tải, xác định trọng lượng của xe (cân xe lần 2 đối chiếu với cân lần 1 để xác định khối lượng hàng do xe vận chuyển). Nhân viên bảo vệ chọn lại dữ liệu cân lần 1 trên phần mềm máy tính để nhấn nút cân xác định trọng lượng xe và lưu thông tin vào phần mềm máy tính, in Phiếu cân. Phiếu cân được in thành 03 liên với thông tin: số Phiếu cân, loại hàng, khối lượng cân lần 1 (bao gồm hàng và trọng lượng xe), trọng lượng xe, ngày giờ vào cân, ngày giờ ra, biển số xe và tên khách hàng. Sau khi ký, L2 3 Phiếu cân được giao cho tài xế chuyển về cho nhà cung cấp. Liên 1, L2 2 được nhân viên cân tập hợp, chuyển cho S vào ngày hôm sau để nhập thông tin vào hệ thống ERP - Exact (quản lý hàng hóa), ghi nhận nguyên vật liệu nhập, xuất, tăng giảm; lập Phiếu nhập kho và ký xác nhận, chuyển cho ông Ngô Gia L3 (Trưởng kho) hoặc ông Phạm Văn T (giám đốc chuỗi cung ứng) ký duyệt. Sau khi ký, S chuyển L2 1 Phiếu cân và L2 1 Phiếu nhập kho bà Nguyễn Thị Hồng H2 (nhân viên Phòng mua hàng); Liên 2 Phiếu cân và L2 2 Phiếu nhập kho lưu tại Văn phòng kho. Sỹ đồng thời lập một File Exeel, nhập thông tin nguyên vật liệu nhập vào nhà máy để theo dõi và để các bộ phận liên quan khai thác, sử dụng.

Tuy nhiên quá trình quản lý nhập, xuất nguyên vật liệu, từ năm 2011 S đã không thực hiện đúng quy trình nhập hàng. Hàng ngày, S ký khống từ 05 đến 10 phôi Phiếu cân hàng để khi có xe đến nhập thì nhân viên cân sử dụng cân mà không trực tiếp kiểm tra hàng nhập vào, không giám sát việc cân hàng. Sau khi Bảo vệ của Công ty Đ ký, S lấy Phiếu cân hàng của ngày hôm trước và đến phòng làm việc của bộ phận lò nấu thủy tinh đưa cho N2 hoặc B ký xác nhận tại mục ghi loại hàng để S nhập số liệu vào hệ thống máy tính nhà máy và lập thủ tục nhập kho. Qua quá trình làm việc tại Công ty T4, Hoàng Duy S1 (nhân viên bảo vệ thuộc Công ty Đ) nhận thấy việc Nguyễn Văn S thường ký khống phôi phiếu

cân nên đã bàn bạc, thống nhất với Lữ Ngọc K (Lái xe xúc lật của Công ty T4) thực hiện hành vi lập khống các phiếu cân rồi gửi cho Công ty N3 đề nghị thanh toán, chiếm đoạt tiền của Công ty T4 và được K đồng ý. S1 tìm được số điện thoại của Công ty N3 qua biên bản giao hàng. Sau đó S1 sử dụng số điện thoại 0369.228.xxx liên lạc đến số điện thoại của ông Nguyễn Quang C (Phó Giám đốc Công ty N3) và xưng là chủ vựa miểng tên “H1” tại Đồng Nai để thỏa thuận bán miểng thủy tinh. Ông C đồng ý mua và đề nghị nhập hàng đến Công ty T4 rồi chụp hình Phiếu cân gửi qua Z để thanh toán tiền qua tài khoản. Do sợ thanh toán qua tài khoản của S1, K sẽ bị lộ nên S1 đã cung cấp cho ông C tài khoản số 0401001488930, tên Lê Hoài Bảo C1 (bạn của S1) và tài khoản số 0081000758304, tên Nguyễn Công N1 (bạn của K) tại Ngân hàng V.

Cụ thể S1, K đã câu kết thực hiện hành vi phạm tội với cách thức như sau: khi có xe đến nhập hàng, K dọn dẹp bãi miểng để S1 cho xe lên cân và lập 02 Phiếu cân hàng cùng một lúc. Trong đó Phiếu cân thứ 01 ghi đúng thông tin hàng hóa của nhà cung cấp; Phiếu cân thứ 02 S1 thay đổi thông tin thành “miểng trắng, tên lái xe và nhà cung cấp là Công ty N3”. Riêng thông tin về số Phiếu cân, thời gian, khối lượng hàng và trọng lượng xe do máy tính chạy mặc định, không thể chỉnh sửa. Thời gian lập 02 Phiếu cân hết khoảng 02 phút. Sau khi nhấn nút cân để máy tính lưu thông tin, S1 cho xe đến bãi miểng dỡ hàng. Sau khi dỡ, tài xế cho xe quay lại cân lần 2 xác định trọng lượng xe, tính ra khối lượng hàng nhập. S1 lấy thông tin của Phiếu cân thứ 1 ghi tên nhà cung cấp thật để cân và in Phiếu cân. Sau đó tiếp tục lấy thông tin Phiếu cân thứ 2 ghi tên Công ty N3 để cân và in Phiếu cân. Sau khi in, S1 ký tên người cân, ký khống tên lái xe của nhà cung cấp là Công ty N3 và chuyển liên 3 Phiếu cân cho ông C qua Zalo, đề nghị thanh toán tiền (Liên 3 Phiếu cân hàng của nhà cung cấp thật được đưa cho lái xe của nhà cung cấp). 02 Liên Phiếu cân còn lại S1 để tại bàn làm việc phòng cân, ngày hôm sau S xuống lấy đưa cho N2 hoặc B ký xác nhận, lập thủ tục nhập kho. Trường hợp không có xe đến giao miểng thủy tinh thì K điều xe chở cát nhập vào nhà máy L4 để S1 thực hiện lập 02 Phiếu cân hàng cùng một lúc như nêu trên. Sau khi lập khống phiếu cân hàng, để tránh việc S, B, N2 kiểm tra phát hiện có Phiếu cân mà không có hàng. K lái xe xúc lật xới bãi miểng lên như mới nhập hàng. Do đó, S1, K chỉ thực hiện hành vi phạm tội vào ca làm việc của K và S1.

Trong khoảng thời gian từ tháng 11/2019 đến hết tháng 03/2020, Công ty N3 đã cung cấp cho Công ty T4 các loại mảnh thủy tinh với khối lượng như sau:

  • + Tháng 11/2019 cung cấp 11 chuyến hàng theo 11 Phiếu cân xe:
    • 01 Phiếu cân xe hàng miểng xanh có khối lượng 5.550 kg.
    • 06 Phiếu cân xe hàng miểng có khối lượng 173.780 kg.
    • 03 Phiếu cân xe hàng miểng kính trắng có khối lượng 65.330 kg.
    • 01 Phiếu cân xe hàng miểng trắng, có khối lượng 20.120 kg.

Ngày 30/11/2019, Công ty N3 xuất Hóa đơn GTGT số 0000076 cho Công ty T4, giá trị 415.762.600 đồng (đã bao gồm 10% VAT). Ngày 16/01/2020, Công ty T4 đã thanh toán cho Công ty N3 số tiền trên.

Tháng 12/2019 cung cấp 19 chuyến hàng theo 19 Phiếu cân xe sau:

  • 02 Phiếu cân xe hàng miểng xanh có khối lượng 79.040 kg.
  • 08 Phiếu cân xe hàng miểng nâu có khối lượng 290.570 kg.
  • 06 Phiếu cân xe hàng miểng kính trắng có khối lượng 216.120 kg.
  • 03 Phiếu cân xe hàng miểng trắng có khối lượng 92.020 kg.

Ngày 25/12/2019, công ty xuất Hóa đơn GTGT số 0000078 cho Công ty T4, giá trị 1.088.759.650 đồng (đã bao gồm 10% VAT. Ngày 17/02/2020, Công ty T4 thanh toán cho Công ty N3 số tiền trên.

Tháng 01/2020 cung cấp 27 chuyến hàng, theo 27 Phiếu cân xe sau:

  • 01 Phiếu cân xe hàng miểng xanh có khối lượng 4.810 kg.
  • 11 Phiếu cân xe hàng miểng có khối lượng 336.550 kg.
  • 08 Phiếu cân xe loại hàng miểng kính trắng có khối lượng 211.180 kg.
  • 07 Phiếu cân loại hàng miểng trắng có khối lượng 237.030 kg.

Ngày 31/01/2020, Công ty N3 xuất Hóa đơn GTGT số 0000082 cho Công ty T4, giá trị 1.390.411.000 đồng (đã bao gồm 10% VAT). Ngày 13/3/2020, Công ty T4 thanh toán cho Công ty N3 số tiền trên.

Tháng 02/2020 cung cấp 42 chuyến hàng theo 42 Phiếu cân xe sau:

  • 01 Phiếu cân xe hàng miểng xanh có khối lượng 39.020 kg.
  • 17 Phiếu cân xe hàng miểng nâu có khối lượng 577.210 kg.
  • 10 Phiếu cân xe hàng mảnh kính trắng có khối lượng 286.840 kg.
  • 14 Phiếu cân xe hàng mảnh trắng có khối lượng 523.050 kg.

Ngày 27/02/2020, Công ty N3 xuất Hóa đơn GTGT số 0000085 cho Công ty T4, giá trị 2.716.111.200 đồng (đã bao gồm 10% VAT). Ngày 28/4/2020, Công ty T4 đã thanh toán cho Công ty N3 số tiền trên.

Tháng 03/2020 cung cấp 42 chuyến hàng theo 42 Phiếu cân xe sau:

  • 01 Phiếu cân xe hàng mảnh xanh có khối lượng 4.200 kg;
  • 15 Phiếu cân xe hàng mảnh nâu có khối lượng 533.510 kg.
  • 14 Phiếu cân xe hàng mảnh kính trắng có khối lượng 424.540 kg.
  • 12 Phiếu cân xe hàng mảnh trắng có khối lượng 452.280 kg.

Ngày 31/03/2020, Công ty N3 xuất Hóa đơn GTGT số 0000089 cho Công ty T4, giá trị 2.643.860.450 đồng (đã bao gồm 10% VAT). Ngày 26/5/2020, Công ty T4 đã thanh toán cho Công ty N3 số tiền trên.

+ Tổng cộng từ tháng 11/2019 đến tháng 03/2020, Công ty N3 cung cấp cho Công ty T4 141 chuyến hàng theo 141 phiếu cân nêu trên với tổng số số tiền Công ty T4 thanh toán cho Công ty N3 là 8.254.904.900 đồng. Trong số đó có 99 phiếu cân với tổng khối lượng 3.778.760 kg (mảnh trắng, nâu, xanh) do S1, K lập khống đứng tên chủ vựa miếng tên "H1" cung cấp dưới tên Công ty N3 với tổng số tiền là 6.345.462.500 đồng.

Nguyễn Văn S khai nhận: chữ ký trên Phiếu cân hàng lập khống là của S, S1, B, N2. Tuy nhiên S không trao đổi và thỏa thuận trước với S1, K về việc ký khống các phiếu cân, không được hưởng lợi ích vật chất từ việc ký khống Phiếu cân. Quá trình điều tra S khai nhận được ông C (Phó Giám đốc Công ty N3) chuyển tiền bồi dưỡng với số tiền 117.000.000 đồng. Mục đích là nhờ giải phóng hàng nhanh khi giao vào nhà máy. S nhận thức việc làm sai quy trình nhập hàng là vi phạm pháp luật, gây thiệt hại về tài sản cho Công ty T4. Hành vi ký khống Phiếu cân hàng của Nguyễn Văn S đã dẫn đến việc S1, K lợi dụng, câu kết lập khống 99 Phiếu cân, chiếm đoạt của Công ty T4 số tiền là 6.345.462.500 đồng. Ngày 31/5/2021, S đã tự nguyện nộp lại cho Cơ quan điều tra số tiền 117.000.000 đồng để khắc phục hậu quả.

Như vậy, Hoàng Duy S1, Lữ Ngọc K đã lợi dụng việc Nguyễn Văn S thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra hàng nhập vào để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Công ty T4 với tổng số tiền là 6.345.462.500 đồng. Qua kết quả sao kê ngân hàng, từ tháng 11/2019 đến tháng 3/2020, ông Nguyễn Quang C đã chuyển khoản để thanh toán tiền mua hàng cho “H1” thông qua số tài khoản của Nguyễn Công N1 tổng số tiền 3.334.960.000 đồng; chuyển vào số tài khoản của Lê Hoài B1 C1 số tiền 1.272.136.500 đồng; chuyển vào số tài khoản của Công ty D 242.000.000 đồng (tài khoản này do S1 nhờ một người tên T1, không rõ nhân thân lai lịch, T1 giới thiệu cho S1 Công ty TNHH D (địa chỉ: B N, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh) để S1 chuyển tiền mua hoá đơn. Sau đó S1 yêu cầu Công ty N3 chuyển tiền vào tài khoản của Công ty D để mua 03 hoá đơn GTGT. Kết quả xác minh công ty D đã giải thể vào năm 2018. Ngày 19/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã có công văn gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận B, thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục thuế khu vực Tây K để đề nghị xử lý hành vi mua bán trái phép hóa đơn đối với Công ty D và Công ty N3. Đối với số tiền chênh lệch 1.496.366.000 đồng, là tiền Công ty N3 hưởng lợi từ việc mua bán mảnh thủy tinh với S1 và K, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã yêu cầu và ra Quyết định thu giữ đồ vật, tài liệu đối với Công ty N3. Tuy nhiên, đến nay Công ty N3 chưa chấp hành.

Quá trình điều tra, Lữ Ngọc K chỉ thừa nhận được Hoàng Duy S1 chia một nửa số tiền được nhận vào tài khoản của Nguyễn Công N1, không được S1 chia số tiền nhận từ các tài khoản Lê Hoài Bảo C1, Công ty D1 Số tiền thu lợi bất chính, S1, K sử dụng vào mục đích cá nhân, đến nay chưa thu hồi được.

+ Kết quả trưng cầu giám định:

Cơ quan cảnh sát điều tra đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 45/QĐTCGĐ-CSKT ngày 08/3/2021 và số 54/QĐTCGĐ-CSKT ngày 23/3/2021, đối với 31 Phiếu cân lập khống. Phòng K1 Công an tỉnh B có Kết luận giám định số 46/KLGĐ-PC09-TL ngày 18/3/2021 và số 63/KLGĐ-PC09-TL ngày 20/4/2021, kết luận:

  • Hoàng Duy S1 ký tên trên 31 phiếu cân.
  • Nguyễn Văn S ký tên trên 31 phiếu cân.
  • Lê Văn N2 ký tên trên 25 phiếu cân.
  • Phạm Lương Thiên B ký tên trên 05 phiếu cân.

+ Kết quả xác minh tại Ngân hàng:

Sau khi ông Nguyễn Quang C sử dụng tài khoản số 0061000165401 chuyển 1.765.588.500 đồng vào tài khoản số 0401001488930 (tên Lê Hoài Bảo C1) và tài khoản số 0081000758304 (tên Nguyễn Công N1) với nội dung: “canh tt tien mieng trang”, chủ tài khoản đã chuyển tiền vào tài khoản số 76210001284838 của Lữ Ngọc K và tài khoản số [...] của Hoàng Duy S1 hoặc rút tiền mặt.

Ngoài ra, ông C nhiều lần chuyển tiền vào 02 tài khoản trên của Lê Hoài Bảo C1 và Nguyễn Công N1 để thanh toán tiền hàng như: “Mảnh nâu, Mảnh xanh, M kính vụn, miểng chai”. Sau đó tiền đều chuyển vào tài khoản của Lữ Ngọc K và Hoàng Duy S1.

+ Kết quả điều tra các biển số xe tải chở hàng vào công ty T4:

Tiến hành xác minh biển kiểm soát các xe vận chuyển hàng ghi trên trên 31 Phiếu cân nghi vấn, các chủ xe có biển kiểm soát số: 72C- 066.73, 72C - 075.31, 72C - 114.51, 72C - 075.63, 72C - 114.15 và 72C - 157.19 đều xác định trong thời gian từ ngày 01/12/2019 đến ngày 31/3/2020, không sử dụng và không cho cá nhân, đơn vị nào thuê xe vận chuyển miểng thủy tinh để giao cho Chi nhánh công ty T4. Các xe biển kiểm soát số: 72C - 184.76, 72C - 232.57, 72C - 184.67 và 72C - 232.75, qua tra cứu tại Phòng PC08 xác định không có thông tin đăng ký (biển giả). Các xe biển kiểm soát số 72C - 157.91, 72C - 085.67 đã xác minh nhưng chủ xe không có mặt tại địa phương. Về kết quả xác minh xe ô tô biển kiểm soát số 72C- 157.91: ông Nguyễn Văn T2 (CMND số [...]) chủ xe và tài xế tên Nguyễn Văn T3 (CCCD số [...]) khai ngày 14/01/2020 được một người gọi điện thoại thuê xe vận chuyển mảnh thủy tinh. Ông T2 điều T3 lái xe đến Công ty T4 và được hướng dẫn đến bãi thủy tinh để xúc hàng lên xe vận chuyển đến cầu cân. Sau khi cân, ông T2 được một người điện thoại nói hàng bị lỗi, tạm thời chưa đi được. Khoảng 07h00' ngày 15/01/2020, ông T2 nhận được điện thoại của một người nói không chở hàng đi, bảo vệ yêu cầu cho xe lên cân sau đó quay lại bãi thủy tinh dỡ hàng xuống rồi quay lại cân xác xe. Sau khi cân, T3 lái xe ra cổng chào Khu công nghiệp M thì được một người đến trả 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) tiền thuê xe.

Vật chứng của vụ án:

  • 01 xe mô tô Honda Lead, số máy JF79E0512140, số khung 7919HZ005664, biển kiểm soát 60G1-063.26, chủ sở hữu là Lữ Ngọc K.
  • 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 048093 do công an huyện L, Đồng Nai cấp ngày 08/11/2018.
  • 01 điện thoại iPhone 12 Pro Max màu xanh dương, IMEI: 356731118368356, gắn sim điện thoại số 0986.529.xxx.
    • 01 thẻ ATM số 9704151533618444 tên HOANG DUY SON, mở tại V1.
    • 01 thẻ ATM số 9704053014252521 tên NGUYEN VAN SY, mở tại A.
    • 01 thẻ ATM số 9704078831407560 tên NGUYEN VAN SY, mở tại T5.
    • 01 thẻ ATM số 97043666801426238025 tên NGUYEN VAN SY, mở tại B2.
  • 01 thẻ bảo hiểm công ty B3, số 315247/0 mang tên Nguyễn Văn S, công ty T4.
  • 01 điện thoại iPhone 12 Pro Max màu xanh đen, IMEI: 359173731147882, đã qua sử dụng.
  • 01 thẻ ATM màu vàng số 9704 1801 0470 7245 BIDV cấp mang tên Lữ Ngọc K có thông tin số tài khoản 76210001284838 hiện đang có số tiền 5.014.686 đồng. Ngày 12/01/2022, Cơ quan điều tra đã ra Lệnh phong tỏa tài khoản số 01/LPTTK-CSKT và ngày 14/01/2022 đã thi hành Lệnh phong tỏa tại B2 chi nhánh P.
  • 01 thẻ ATM màu xanh dương số 9704 0530 6208 2218 A cấp mang tên Lữ Ngọc K có thông tin số tài khoản 6004205280890 hiện đang có số tiền 31.379.392 đồng. Ngày 03/11/2021, Cơ quan điều tra đã ra Lệnh phong tỏa tài khoản số 18/LPTTK-CSKT và ngày 12/11/2021 đã thi hành Lệnh phong tỏa tài khoản trên tại A chi nhánh P.
  • 01 thẻ ATM màu xanh dương số 9704 0788 5854 2547 T5 cấp mang tên Lữ Ngọc K có thông tin số tài khoản 12424656485019 hiện đang có số tiền 8.659 đồng nên không ra Lệnh phong tỏa tài khoản.
  • 21.500.000 đồng của bị cáo Lữ Ngọc K.
  • 118.500.000 đồng của bị cáo Nguyễn Văn S.
  • 50.000.000 đồng của bị cáo Hoàng Duy S1.

Toàn bộ vật chứng đã chuyển Cục Thi hành án dân sự tỉnh B4 bảo quản chờ xử lý.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2023/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đã quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 179, điểm b, s, t khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù, tính từ ngày chấp hành án, được khấu trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 14/5/2021 đến ngày 10/01/2022.

Về xử lý vật chứng: Tiếp tục truy thu Công ty TNHH N3 1.379.366.000 đồng để giao trả cho Công ty TNHH T4.

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn xử phạt các bị cáo khác từ 13 năm 06 tháng đến 14 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý các vật chứng khác, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo Hoàng Duy S1, Lữ Ngọc K không kháng cáo.

Ngày 14/9/2023 bị cáo Nguyễn Văn S có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo, xin được nhận lại số tiền 118.000.000đ mà gia đình bị cáo đã nộp khi bị cáo bị tạm giam.

Ngày 17/10/2023 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH N3 có đơn kháng cáo về phần xử lý vật chứng, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng tuyên hủy phần nội dung quyết “Tiếp tục truy thu Công ty TNHH N3 1.379.366.000 đồng để giao trả cho Công ty TNHH T4” để hai Công ty tự giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác. Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm xác định Công ty TNHH N3 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là không chính xác mà phải là bị hại trọng vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm;

Bị cáo Nguyễn Văn S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như án sơ thẩm quy kết, bị cáo xin rút nội dung kháng cáo về khoản tiền 118.000.000 đồng. Bị cáo thừa nhận chính việc làm thiếu trách nhiệm của mình đã tạo điều kiện cho các bị cáo S1, K chiếm đoạt tiền của Công ty TNHH T4. Bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo hưởng án treo vì bản thân bị cáo là công nhân lao động, chưa có tiền án tiền sự, bị cáo là người phát hiện báo cáo với Công ty về những sai phạm của các bị cáo khác, tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra nhánh chóng phát hiện tội phạm, bị cáo đã nộp tiền khắc phục một phần hậu quả. Bị cáo S cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới là văn bản xác nhận của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai có nội dung bị cáo S có công phát hiện tội phạm về ma túy và báo cho Cơ quan điều tra – Công an thành phố B bắt giữ đối tượng phạm tội, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, con còn nhỏ, vợ bị cáo không có việc làm, bị cáo là lao động chính trong gia đình (Có xác nhận của chính quyền địa phương).

Công ty TNHH N3 giữ nguyên nội dung kháng cáo như nêu trên vì việc thỏa thuận mua bán miểng chai thủy tinh giữa hai Công ty là đúng trong hợp đồng, lỗi xảy ra vụ án là hoàn toàn thuộc về Công ty T4 nên việc tiếp tục truy thu Công ty TNHH N3 1.379.366.000 đồng để giao trả cho Công ty TNHH T4 là không thỏa đáng. Cả ba bị cáo đều là người của Công ty T4 chính sự có lỗi trong

quản lý của Công ty T4 đã tạo điều kiện cho các bị cáo chiếm đoạt tiền của Công ty T4 và lừa dối Công ty N3 mua bán miểng thủy tinh không có thật làm phát sinh doanh thu chịu thuế, chi phí mua, bán hàng, lãi vay vốn kinh doanh...từ đó gây thiệt hại cho Công ty N3 nên Công ty N3 cũng là bị hại trong vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như án sơ thẩm tuyên, do đó Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội “Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của doanh nghiệp” theo khoản 3 Điều 179 Bộ luật hình sự là đúng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ mới là có công trong việc phát hiện tội phạm, hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với kháng cáo của Công ty TNHH N3 thì đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận vì khoản tiền 1.379.366.000 đồng mà Công ty N3 được hưởng là từ giao dịch ảo nên phải giao trả lại cho Công ty T4 là đúng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH N3 có kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật nên chấp nhận đưa vụ án ra xét xử theo trình tự thủ tục phúc thẩm.

[3] Kết quả điều tra đã xác định Nguyễn Văn S là thủ kho của Công ty TNHH T4, quá trình quản lý nhập, xuất nguyên vật liệu thì S đã không thực hiện đúng quy trình nhập hàng. Hàng ngày, S ký khống từ 05 đến 10 phôi phiếu cân hàng để khi có xe đến nhập thì nhân viên cân sử dụng cân mà không trực tiếp kiểm tra hàng nhập vào, không giám sát việc cân hàng. Lợi dụng sự thiếu trách nhiệm này của bị cáo S nên Hoàng Duy S1 và Lữ Ngọc K dùng thủ đoạn gian dối lấy 99 phiếu cân khống (đã có chữ ký của S) với tổng khối lượng 3.778.760 kg (mảnh trắng, nâu, xanh) để chiếm đoạt tiền của Công ty TNHH T4. Hành vi thiếu trách nhiệm của Nguyễn Văn S đã gây thiệt hại cho Công ty TNHH T4 là 6.345.462.500 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo S phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của doanh nghiệp” theo quy định tại khoản 3 Điều 179 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn S rút phần kháng cáo về nội dung xin nhận lại khoản tiền 117.000.000 đồng mà bị cáo đã nộp khắc phục một phần hậu. Xét việc rút một phần kháng cáo của bị cáo S là tự nguyện, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận và căn căn cứ Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo này.

[5] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn S xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo, thấy rằng: Quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân là công nhân lao động, có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, chính bị cáo là người phát hiện ra sự thiếu hụt hàng nhập vào nên đã báo cáo Công ty tìm nguyên nhân và tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án, bị cáo đã nộp số tiền 117.000.000 đồng để khắc phục một phần hậu quả. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm b,s,t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự được cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo. Tại phiên phúc thẩm hôm nay bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới là có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia định (Có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú), bị cáo đã lập công chuộc tội khi phát hiện tội phạm (Có văn bản của Công an thành phố B xác nhận bị cáo S phát hiện tội phạm về ma túy và báo cho Cơ quan cảnh sát điều tra bắt giữ người phạm tội). Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới theo điểm u khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới và có 4 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đồng thời bị cáo không được hưởng lợi gì trong vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là thể hiện sự nhân đạo, nhân văn của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

[6] Xét kháng cáo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH N3, thấy rằng:

[6.1] Tòa án cấp sơ thẩm xác định Công ty TNHH N3 tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng bởi lẽ: các bị cáo S1, K dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền của Công ty TNHH T4, thiệt hại thực tế xảy ra là đối với Công ty T4. Các bị cáo này cũng gian dối đối với Công ty TNHH N3 nhưng không chiếm đoạt tài sản (tiền) của Công ty, còn phía Công ty N3 cho rằng do các bị cáo gian dối mua bán miểng thủy tinh không có thật làm phát sinh doanh thu chịu thuế, chi phí mua, bán hàng, lãi vay vốn kinh doanh...từ đó gây thiệt hại cho Công ty N3 thì Công ty N3 thì Công ty có quyền khởi kiện đối với các bị cáo bằng vụ án dân sự khác.

[6.2] Đối với khoản tiền 1.496.366.000 đồng mà Công ty TNHH N3 được hưởng lợi từ việc mua bán ảo mảnh thủy tinh với các bị cáo S1 và K thì đây là khoản tiền trong tổng số tiền 6.345.462.500 đồng mà Công ty TNHH T4 bị thiệt hại nên Công ty N3 phải hoàn trả khoản tiền này cho Công ty T4 là đúng. Do bị cáo S đã tự nguyện nộp 117.000.000 đồng nên Công ty N3 còn phải trả cho Công ty M1 1.379.366.0000 đồng như Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ nên kháng cáo của Công ty TNHH N3 không có cơ sở chấp nhận.

[7] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo S không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Công ty TNHH N3 không phải chịu tiền án phí phúc thẩm.

[8] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 342 và 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn S xin nhận lại khoản tiền 117.000.000 đồng mà bị cáo đã giao nộp để khắc phục hậu quả.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn S, sửa một phần quyết định của Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn S.

Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH N3 và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về phần xử lý vật chứng đối với Công ty TNHH N3.

Căn cứ khoản 3 Điều 179, điểm b, s, t, u khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 02 năm tù về tội “Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của doanh nghiệp”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước đó từ ngày 14/5/2021 đến ngày 10/01/2022.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tiếp tục truy thu Công ty TNHH N3 1.379.366.000 đồng để giao trả cho Công ty TNHH T4.

Án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn S, Công ty TNHH N3 không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1);
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM (1);
  • - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (2);
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu(1);
  • - Cục THADS tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu(1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu(1);
  • - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (1);
  • - BC TN;
  • - NLQ;
  • - Lưu VP(3), HS(2) 17.NThuy.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Minh Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 341/2024/HS-PT ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của doanh nghiệp

  • Số bản án: 341/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của doanh nghiệp
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn S xin nhận lại khoản tiền 117.000.000 đồng mà bị cáo đã giao nộp để khắc phục hậu quả. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn S, sửa một phần quyết định của Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn S. Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH N3 và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về phần xử lý vật chứng đối với Công ty TNHH N3
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger