Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 341/2024/HC-PT

Ngày: 24 - 4 - 2024

V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính

trong lĩnh vực quản lý đất đai và bồi

thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi

đất".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Phạm Thị Duyên

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Tửu

Ông Mai Xuân Thành

- Thư ký phiên tòa:

Bà Trần Thị Kim Yến – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Ông Vũ Hồng Cường – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 961/2023/TLPT-HC ngày 30 tháng 11 năm 2023 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai và bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất”.

Do bản án hành chính sơ thẩm số: 1372/2023/HC-ST ngày 14 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 946/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Người khởi kiện: Bà Trần Thị H, sinh năm 1982 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: B Đ, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh;
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Chí T, sinh năm 1983 (có mặt)
  • Địa chỉ: Số D đường số A, khu phố D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố T
  • Địa chỉ: Số A T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng T1, Chủ tịch (xin xét xử vắng mặt);
  • Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người bị kiện:
    • 1/Ông Trần Tuấn K (xin xét xử vắng mặt)
    • 2/Ông Nguyễn Minh T2 (có mặt)
    • 3/Bà P (có mặt)
  • - Người kháng cáo: Người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố T;
  • - Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03/11/2022 và bản tự khai, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày:

Về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và nguồn gốc quá trình sử dụng nhà:

Khu đất thuộc thửa 120, 122 và thửa 121, tờ bản đồ số 1, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (theo BĐĐC năm 2002, thuộc một phần thửa 228, tờ bản đồ số 1, xã A, huyện T (theo tài liệu 299/TTg) có nguồn gốc do gia đình ông Nguyễn Văn T3 sử dụng từ trước năm 1975. (Theo Giấy xác nhận tình trạng pháp lý nhà đất số 397/UBND-XN ngày 30/03/2011).

Trên đất có nhà do 03 hộ Nguyễn Thị V, Nguyễn Thị C và Nguyễn Thị Mai H1 tự xây dựng vào tháng 03/1993 (kết cấu vách ván, mái lá) trên lô đất số 228, tờ bản đồ số 1, ấp A, xã A (theo tài liệu 299/TTg). (Theo Giấy xác nhận tình trạng pháp lý nhà đất số 397/UBND-XN ngày 30/03/2011).

Trải qua các lần chuyển nhượng thì hiện tại bà Trần Thị H được xác nhận là chủ sử dụng, quản lý đối với căn nhà (thửa đất) bị giải tỏa, với diện tích 183,72m² (đã trừ phần diện tích 6,5m² thuộc đường theo bản đồ địa chính năm 2002) thuộc thửa 120, 122 và thửa 121, tờ bản đồ số 1, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (theo BĐĐC năm 2002, thuộc một phần thửa 228, tờ bản đồ số 1, xã A, huyện T (theo tài liệu 299/TTg). (Theo Quyết định số 44/2019/QÐST-DS ngày 21/11/2019 của Tòa án nhân dân Quận 2 về việc công nhận sự thỏa thuận của các đương sự).

Như vậy, Khu đất thuộc thửa 120, 122 và thửa 121, tờ bản đồ số 1, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (theo BĐĐC năm 2002, thuộc một phần thửa 228, tờ bản đồ số 1, xã A, huyện T (theo tài liệu 299/TTg) đã được chuyển mục đích sử dụng thành đất ở từ trước 15/10/1993.

Do đó, việc Ủy ban nhân dân Quận B (nay là Ủy ban nhân dân thành phố T) xác định nhà đất của Tôi sử dụng nêu trên là đất nông nghiệp trồng cây lâu năm để tính đơn giá hỗ trợ, bồi thường cho bà là hoàn toàn không đúng với thực tế nguồn gốc đất Tôi đang sử dụng, điều đó đã xâm phạm quyền và lợi hợp pháp của Tôi trong việc được xác lập bồi thường đối với Căn nhà (thửa đất) bị giải tỏa nêu trên.

Bà H yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc Ủy ban nhân dân thành phố T ban hành Quyết định về bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư cho bà Trần Thị H là chủ sử dụng quản lý đối với căn nhà (thửa đất) bị giải tỏa với diện tích 183,72m² (đã trừ phần diện tích 6,5m² thuộc đường theo bản đồ địa chính 2002) thuộc thửa 120,122, 121 Tờ bản đồ số 1, xã A, huyện T theo Tài liệu 299/TTg theo đơn giá đát ở chuyển mục đích sử dụng từ trước ngày 15/10/1993 do trên đất đã xây dựng nhà để ở từ năm 1991.

Ngày 08/9/2023, bà H có đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

  1. Rút lại yêu cầu Tòa án buộc Ủy ban nhân dân Thành phố T ban hành Quyết định về việc bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư cho bà Trấn Thị H2 là chủ sử dụng, quản lý đối với căn nhà (thửa đất) bị giải tỏa, với diện tích 183,72m² (đã trừ phần diện tích 6,5m² thuộc đường theo bản đồ địa chính năm 2002) thuộc thửa 120, 122 và thửa 121, tờ bản đồ số 1, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (theo BĐĐC năm 2002, thuộc một phần thửa 228, tờ bản đồ số 1, xã A, huyện T (theo tài liệu 299/TTg).
  2. Yêu cầu Tòa án hủy bỏ toàn bộ Quyết định số 5769/QĐ-UBND ngày 04/05/2011 của Ủy ban nhân dân Quận B (nay là Ủy ban nhân dân thành phố T) về việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với ông (bà) Nguyễn Thị V, ông (bà) Nguyễn Thị C, ông (bà) Nguyễn Thị Mai H1, ông (bà) Đào Văn N và ông (bà) Đào Phi H3, ông (bà) Nguyễn Thị Hải Y, là chủ sử dụng căn nhà thuộc thửa đất số thửa 120, 122 và thửa 121, tờ bản đồ số 1, BĐĐC, phường B, Quận B (nay là Thành phố T).
  3. Yêu cầu Tòa án hủy bỏ một phần Quyết định số 1485/QĐ-UBND ngày 24/02/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố T về điều chỉnh tên chủ sử dụng và nội dung Điều 1 Quyết định số 5769/QĐ-UBND ngày 04/05/2011 của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Quận B (nay là Thành phố T), về Điều khoản/mục xác định nhà đất của T4 sử dụng là đất nông nghiệp trồng cây lâu năm để tính đơn giá hỗ trợ, bồi thường.
  4. Buộc Ủy ban nhân dân thành phố T bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho gia đình Tôi theo đơn giá đất ở có nguồn gốc sử dụng từ trước ngày 15/10/1993, đối với căn nhà (thửa đất) bị giải tỏa, với diện tích 183,72m² (đã trừ phần diện tích 6,5m² thuộc đường theo bản đồ địa chính năm 2002) thuộc thửa 120, 122 và thửa 121, tờ bản đồ số 1, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (theo BĐĐC năm 2002, thuộc một phần thửa 228, tờ bản đồ số 1, xã A, huyện T (theo tài liệu 299/TTg).

5. Lãi suất phát sinh do việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư không đúng quy định kể từ ngày ban hành Quyết định số 5769/QĐ-UBND ngày 04/05/2011 đến ngày Bản án hoặc Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Ngày 10/7/2023, bà H2 có đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết những vấn đề sau:

  1. Buộc Ủy ban nhân dân thành phố T ban hành Quyết định về bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư cho bà Trần Thị H là chủ sử dụng quản lý đối với căn nhà (thửa đất) bị giải tỏa với diện tích 190,2m² thuộc thua 120, 121, 122 Tờ bản đồ số 1, xã A, huyện T theo Tài liệu 299/TTg theo đơn giá đất chuyển mục đích sử dụng từ trước ngày 15/10/1993 do trên đá đã xây dựng nhà để ở từ năm 1991 và yêu cầu tái định cư.
  2. Rút lại yêu cầu buộc Ủy ban nhân dân thành phố T chi trả lãi suất phát sinh do việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư không đúng quy định kể từ ngày ban hành Quyết định số 5769/QĐ-UBND ngày 04/05/2011 đến ngày Bản án hoặc Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh có Văn bản số 4405/UBND-TNMT ngày 01 tháng 8 năm 2023 trình bày:

1.1. Nguồn gốc pháp lý nhà, đất:

Phần đất có diện tích 190,22m² (trong đó, phần diện tích 6,5m2 thuộc đường theo Bản đồ địa chính đo năm 2002) thuộc một phần thửa 228, tờ bản đồ số 01, xã A, huyện T (theo Tài liệu 299/TTg) nay thuộc thửa 120, 122 và một phần thửa 121, tờ bản đồ số 01 (theo Bản đồ địa chính đo năm 2002), phường B, Quận B (nay là phường A, thành phố T) nằm trong dự án đầu tư xây dựng Công viên vòng xoay chân câu S (giai đoạn 1).

Ngày 30/7/2020, Ủy ban nhân dân phường B có Giấy xác nhận tình trạng pháp lý nhà, đất số 103/UBND-XN như sau:

Nguồn gốc và quá trình sử dụng đất:

Phần đất thuộc một phần thửa 228, tờ bản đồ số 01, xã A, huyện T (theo Tài liệu 299/TTg) nay thuộc thửa 120, 122 và một phần thửa 121, tờ bản đồ số 01, phường B, Quận B (theo Bản đồ địa chính đo năm 2002) có nguồn gốc do gia đình ông Nguyễn Văn T3 sử dụng từ trước năm 1975.

Ngày 15/10/1992, ông Nguyễn Văn T3 lập giấy tay chuyển nhượng 64m² ao rau muông cho bà Hà Thị T5.

Ngày 31/10/1992, ông Nguyễn Văn T3 lập giấy tay chuyển nhượng 110m² ao rau muống cho bà Nguyễn Thị Mai H1.

Ngày 24/02/1993, bà Nguyễn Thị Mai H1 lập giấy tay chuyển nhượng tiếp 77m² đất cho bà Nguyễn Thị V. Đến ngày 03/3/1993, bà Hà Thị T5 lập giấy tay chuyển nhượng toàn bộ 64m² ao rau muống nêu trên cho bà Nguyễn Thị V. Như vậy, tổng diện tích bà V1 nhận chuyển nhượng là 141m².

Ngày 09/8/2004, ông Đào Phi H3 lập Tờ tường trình nguồn gốc nhà và đất của ông Đào Phi H3 trong đó bao gồm phần đất của bà V, bà C, bà H1.

Ngày 26/10/2010, ngày 29/10/2010, ngày 02/11/2010 và ngày 03/11/2010, Ủy ban nhân dẫn phường B tiến hành xác minh và giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa các ông (bà) Nguyễn Thị Mai H1, Nguyễn Thị V, Nguyễn Thị C, Đào Văn N, Đào Phi H3, Nguyễn Thị Hải Y1. Do các ông (bà) Nguyễn Thị Mai Hương Nguyễn Thị V2, Nguyễn Thị C, Đào Văn N, Đào Phi H3, Nguyễn Thị Hải Y chưa thỏa thuận được diện tích chuyển nhượng thực tế và ranh giới sử dụng đất, việc hòa giải không thành.

Ngày 21/11/2019, Tòa án nhân dân Quận 2 ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 44/QĐST-DS giữa nguyên đơn: bà Trần Thị H; bị đơn: ông Đào Văn N, ông Đào Phi H3; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: các ông (bà) Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Mai H1, Nguyễn Thị V2, Nguyễn Thị Hải Y, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Nguyên đơn bà Trần Thị H, bị đơn ông Đào Văn N, ông Đào Phi H3 có ông Đào Văn N là đại diện theo ủy quyền, người có quyền lợi, nghĩa vụ trên quan gồm: Bà Nguyễn Thị C và bà Nguyễn Thị Mai H1 cùng ủy quyền cho ông Nguyễn Chí T làm đại diện và bà Nguyễn Thị V2 cùng thống nhất thỏa thuận như sau:

Phía bà Trần Thị H được đúng tên hồ sơ bồi thường và được hưởng mọi quyền lợi bồi thường, thiệt hại, tái định cư (nếu có) đối với phần diện tích nhà, đất là 183,72m² đã trừ phần diện tích 6,5m² thuộc đường theo bản đồ địa chính năm 2002) thuộc thửa 120, 122 và thửa 121, tờ bản đồ đồ số 1, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (theo bản đồ địa chính năm 2002, thuộc 01 phần thửa 228, tờ bản đồ số 1, xã A, huyện T (theo Tài liệu 299/TTg).

Nguồn gốc và quá trình tạo lập nhà:

Tháng 3/1993, bà Nguyễn Thị V2, bà Nguyễn Thị Mai H1 tự xây dụng nhà kết cấu: vách ván, mái lá trên thửa số 228, tờ bản đồ số 01, xã A (theo Tài liệu 299/TTg). Ngày 23/3/1993, Ủy ban nhân dân huyện T đã có Quyết định số 61/QĐ-UB về việc cho tiến hành giải tỏa toàn bộ các căn nhà xây dựng trái phép trên lô đất số 228, tờ 1, ấp A, xã A. Ngày 25/3/1993, các hộ có Đơn xin tạm hoãn việc tháo dỡ nhà theo Quyết định số 61/QĐ-UB (trong đó có căn nhà do bà V2, bà H1 tự xây dựng nêu trên). Ngày 26/3/1993, Ủy ban nhân dân huyện T có Thông báo số 284/TB-UB về việc trả lời không thể tạm hoãn việc tháo dỡ nhà của các hộ theo Quyết định số 61/QĐ-UB. Ngày 18/10/1993, Ủy ban nhân dân huyện T có T6 bảo (lần 3) số 17/TB-UB về việc nghiêm túc thực hiện việc giải tỏa các căn nhà theo Quyết định số 61/QĐ-UB và các hộ đã tiến hành tháo dỡ toàn bộ căn nhà trên.

Theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 44/QÐST-DS ngày 21/11/2019 của Tòa án nhân dân Quận 2, Bản vẽ hiện trạng vị trí phục vụ công tác Bồi thường GPMB do Công ty TNHH D Tạ Phủ lập ngày 18/4/2019, cụ thể như sau:

  • Nhà thuộc ô số 2 do ông Đào Văn N xây dựng năm 2006 (kết cấu: khung gỗ, vách tôn + gỗ, mái che bạt) trên phần đất của bà Nguyễn Thị V2 để làm gara để xe, đã bị xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 30/QĐ-CT ngày 25/3/2006 của Ủy ban nhân dân phường B. Đến năm 2008, ông N tháo dỡ nhà cũ, tự dựng lại căn nhà vách tỗn, mái tôn để cho con là Đào Phi L ở đến nay.
  • Nhà thuộc ô số 3, ô số 7 do ông Tổng Hoàng C1 tự xây dựng năm 2004, đã bị xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 93/QĐ-UB ngày 15/9/2004 của Ủy ban nhân dân phường B.
  • Nhà thuộc ô số 4, ô số 8 và sân thuộc ô số 1, ô số 5, ô số 6 do ông Đào Văn N tự xây dựng vào năm 2009 để cho con là Đào Phi H3 sử dụng để ở và buôn bán quần áo.
  • * Về xử lý vi phạm hành chính: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 93/QĐ-UB ngày 15/9/2004 và số 30/QĐ-CT ngày 25/3/2006 của Ủy ban nhân dân phường B.
  • Giấy xác nhận này thay thế Giấy xác nhận tình trạng pháp lý nhà đất số 329/UBND-XN ngày 15/12/2010 và 397/UBND-XN ngày 30/3/2011".

1.2. Áp giá chiết tính bồi thường:

Ngày 23/9/2021, Hội đồng Bồi thường dự án ký Bảng chiết tính giá trị bồi thường, hỗ trợ và tái định cư số 161/BA-ĐC như sau:

  • - Bồi thường, hỗ trợ về đất:
  • + Đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, vị trí mặt tiền đường T: 183,72m² x 300.000 đồng/m² x 100% = 55.116.000 đồng. + Phần diện tích thuộc đường theo Bản đồ địa chính năm 2002, không bồi thường: 6,5m².
  • - Về tái định cư: Không đủ điều kiện tái định cư.
  • * Tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ và tái định cư: 55.116.000 đồng.

Ngày 24/02/2023, Ủy ban nhân dân thành phố T ban hành Quyết định số 1485/QĐ-UBND về điều chỉnh tên chủ sử dụng và nội dung Điều 1 Quyết định số 5769/QĐ-UBND ngày 04/5/2011 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận B, theo đó: Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với bà Trần Thị H có căn nhà (thửa đất) thuộc thửa 120, 122 và một phần thửa 121, đường, tờ bản đồ số 01 (theo Bản đồ địa chính năm 2002), phường B, Quận B (nay là phường A, thành phố T) với tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ 55.116.000 đồng. Về tái định cư: Không đủ điều kiện tái định cư.

Ngày 18/5/2023, Ủy ban nhân dân thành phố T ban hành Quyết định số 5305/QĐ-UBND về điều chỉnh tên chủ sử dụng và nội dung Điều 1 Quyết định số 5770/QĐ-UBND ngày 04/5/2011 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận B, theo đó: Hỗ trợ lãi suất phát sinh từ tiền bồi thường, hỗ trợ về nhà, đất đối với bà Trần Thị H có căn nhà (thửa đất) thuộc thửa 120, 122 và một phần thửa 121, đường, tờ bản đồ số 01 (theo Bản đồ địa chính năm 2002), phường B, Quận B (nay là phường A, thành phố T) với tổng giá trị hỗ trợ lãi suất 53.078.604 đồng.

2. Ý kiến của Ủy ban nhân dân thành phố T:

Việc bà Trần Thị H khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 5769/QĐ-UBND ngày 04/5/2011 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận B, Quyết định số 1467/QĐ-UBND ngày 23/02/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố T và yêu cầu Tòa án buộc Ủy ban nhân dân thành phố T bồi thường phần đất diện tích 190,22m² (trong đó, phần diện tích 6,5m² thuộc đường theo Bản đồ địa chính đo năm 2002) thuộc một phần thửa 228, tờ bản đồ số 01, xã A, huyện T (theo Tài liệu 299/TTg) nay thuộc thửa 120, 122 và một phần thửa 121, đường, tờ bản đồ số 01 (theo Bản đồ địa chính đo năm 2002), phường B, Quận B (nay là phường A, thành phố T) cho bà Trần Thị H theo đơn giá đất ở chuyên mục đích sử dụng trước ngày 15/10/1993 không có cơ sở, bởi:

Theo xác nhận tình trạng pháp lý nhà đất số 103/UBND-XN ngày 30/7/2020 của Ủy ban nhân dẫn phường B thì phần đất diện tích 190,22m² (trong đó, phần diện tích 6,5m² thuộc đường theo Bản đồ địa chính đo năm 2002) thuộc một phần thửa 228, tờ bản đồ số 01, xã A, huyện T (theo Tài liệu 299/TTg) nay thuộc thửa 120, 122 và một phần thửa 121, tờ bản đồ số 01 (theo Bản đồ địa chính đo năm 2002), phường B, Quận B (nay là phường A, thành phố T) có nguồn gốc do gia đình ông Nguyễn Văn T3 sử dụng từ trước năm 1975. Ngày 15/10/1992, ông Nguyễn Văn T3 lập giấy tay chuyển nhượng 64m² ao rau muống cho bà Hà Thị T5. Ngày 31/10/1992, ông Nguyễn Văn T3 lập giấy tay chuyển nhượng 110m² ao rau muống cho bà Nguyễn Thị Mai H1. Ngày 24/02/1993, bà Nguyễn Thị Mai H1 lập giấy tay chuyển nhượng tiếp 77m² đất cho bà Nguyễn Thị V2. Đến ngày 03/3/1993, bà Hà Thị T5 lập giẫy tay chuyển nhượng toàn bộ 64m² ao rau muống nêu trên cho bà Nguyễn Thị V2. Như vậy, tổng diện tích bà V2 nhận chuyển nhượng là 141m². Đến năm 2001, bà V2 và bà H1 lập giấy tay chuyển nhượng toàn bộ diện tích 190,22m² cho bà Trần Thị H, được Tòa án nhân dân Quận 2 ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 44/QĐST-DS ngày 21/11/2019.

Tháng 3/1993, bà Nguyễn Thị V2, bà Nguyễn Thị Mai H1 tự xây dựng nhà kết cấu: Vách ván, mái lá. Ngày 23/3/1993, Ủy ban nhân dẫn huyện T đã có Quyết định số 61/QĐ-UB về việc cho tiến hành giải tỏa toàn bộ các căn nhà xây dựng trái phép trên lô đất số 228, tờ 1, ấp A, xã A. Ngày 25/3/1993, các hộ có Đơn xin tạm hoãn việc tháo dỡ nhà. Ngày 26/3/1993, Uy ban nhân dân huyện T có Thông báo số 284/TB-UB về việc trả lời không thể tạm hoãn việc tháo dỡ nhà. Ngày 18/10/1993, Ủy ban nhân dân huyện T có Thông báo (lần 3) số 17/TB-UB về việc nghiêm túc thực hiện việc giải tỏa các căn nhà theo Quyết định số 61/QĐ-UB. Năm 2006, ông Đào Văn N (là người trông coi đất) xây dựng không phép (kết cấu: khung gỗ, vách tôn gỗ, mái che bạt) để làm gara để xe, đã bị xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 30/QĐ-CT ngày 25/3/2006 của Ủy ban nhân dân phường B. Đến năm 2008, ông N tháo dỡ nhà cũ, tự dựng lại căn nhà vách tôn, mái tôn để cho con là Đào Phi L để ở đến khi bị thu hồi. Năm 2009 ông Đào Văn N tự xây dựng thêm căn nhà không phép để cho con là Đào Phi H3 sử dụng để ở và buôn bán quần áo.

Căn cứ tiểu tiết b.1.2.4 tiết b.1.2 mục b.1 điểm b khoản 1 Phần III của Phương án giá số 67/PAG-HĐBT ngày 11/6/2004 được Ủy ban nhân dân Thành phố H duyệt tại Quyết định số 3011/QĐ-UB ngày 28/6/2004 quy định:

“b.1.2.4- Đất ở sử dụng từ ngày 21/11/2001 (ngày có Quyết định giao đất của Uỷ ban nhân dân thành phố) trở về sau: Bồi thường theo mức giá bồi thường của đất trồng cây lâu năm hoặc bồi thường theo loại đất đã sử dụng trước đó.

Do đó, Ủy ban nhân dân thành phố T ban hành Quyết định 1485/QĐ-UBND ngày 24/02/2023 về điều chỉnh tên chủ sử dụng và nội dung Điều 1 Quyết định số 5769/QĐ-UBND ngày 04/5/2011 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận B, theo đó: Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với bà Trần Thị H có căn nhà (thửa đất) thuộc thửa 120, 122 và một phần thửa 121, tờ bản đồ số 01 (theo Bản đồ địa chính năm 2002), phường B, Quận B (nay là phường A, thành phố T) là đúng với nguồn gốc quá trình sử dụng đất, đúng theo trình tự, thủ tục, chính sách và phù hợp theo quy định của pháp luật.

Ủy ban nhân dân thành phố T giữ nguyên các quyết định nêu trên, đề nghị Tòa án xem xét bác toàn bộ yêu cầu của người khởi kiện.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 1372/2023/HC-ST ngày 14 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định như sau:

  1. Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện buộc Ủy ban nhân dân thành phố T ban hành Quyết định về việc bồi thường, hỗ trợ thiệu định cư cho bà Trần Thị H.
  2. Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện hủy bỏ toàn bộ Quyết định số 5769/QĐ-UBND ngày 04/05/2011 của Ủy ban nhân dân Quận B (nay là Ủy ban nhân dân thành phố T) về việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
  3. Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện khởi kiện buộc Ủy ban nhân dân thành phố T chi trả lãi suất phát sinh do việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư không đúng quy định kể từ ngày ban hành Quyết định số 5769/QĐ-UBND ngày 04/05/2011 đến ngày Bản án hoặc Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật nên Tòa án đình chỉ giải quyết yêu cầu này.
  4. Chấp nhận 1 phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H buộc Ủy ban nhân dân thành phố T bồi thường 183,72m² (đã trừ phần diện tích 6,5m² thuộc đường theo bản đồ địa chính năm 2002) thuộc thửa 120,122 và thửa 121, tờ bản đồ số 1, phường B, Quận B thành phố Hồ Chí Minh do bà Trần Thị H theo đơn giá đất ở sử dụng từ ngày 15/10/1993 và tái định cư theo quy định.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

  • - Ngày 18/9/2023 người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố T kháng cáo bản án sơ thâm;
  • - Ngày 13/9/2023 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định số 39/QĐKNPT-VKS-HC kháng nghị bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện bà Trần Thị H (có ông Nguyễn Chí T là đại diện theo ủy quyền) không đồng ý yêu cầu kháng cáo của người bị kiện, không đồng ý Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm. Người bị kiện xin xét xử vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa giữ nguyên Quyết định kháng nghị số 39/QĐKNPT-VKS-HC ngày 13/9/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong phần tranh luận:

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người bị kiện trình bày: Căn cứ công nhận thỏa thuận của đương sự thì phần đất của bà H, nên Ủy ban nhân dân thành phố T đã ban hành quyết định điều chỉnh tên người sử dụng đất sang bà H. Mặc dù tháng 3/1993 các hộ dân có xây dựng nhà trên đất nhưng việc xây dựng không phép nên đạc có quyết định buộc tháo dỡ, theo xác nhận của Uỷ ban nhân dân phường thì các hộ dân đã xác nhận là tháo dỡ đến năm 2006 mới xây dựng lại, nên Ủy ban nhân dân thành phố T bồi thường theo đất nông nghiệp là đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của người bị kiện, sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của bà H.

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện phát biểu: Ủy ban nhân dân thành phố T không có chứng cứ chứng minh năm 1993 đã tháo dỡ nhà. Vào năm 2004 do thời gian sử dụng lâu dài, nên quá trình ở gia đình bà H có sửa chữa nhà trên nền của căn nhà hiện có, thể hiện ở Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 93/QĐ-UB. Đối với sai sót của bản án sơ thẩm khi không giải quyết hết yêu cầu của bà H thì không ảnh hưởng đến bản chất vụ việc, nên đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

  • - Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện đúng thủ tục theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị vì bản án sơ thẩm vì:
    • + Bản án sơ thẩm đã có vi phạm tố tụng khi không xem xét Quyết định 5769/QĐ-UBND là quyết định gốc. Do cấp sơ thẩm chưa xem xét giải quyết nên không đảm bảo 02 cấp xét xử.
    • + Tại phiên tòa sơ thẩm, người khởi kiện có rút yêu cầu đối với Quyết định 1485/QĐ-UBND nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết.
    • + Tòa án cấp sơ thâm không tuyên chấp nhận hay không chấp nhận đối với yêu cầu bà H đối với phần 6,5m² đường
    • + Theo quy định của Luật tố tụng hành chính thì Tòa án chỉ buộc người bị kiện thực hiện nhiệm vụ công vụ, chứ không tuyên cụ thể như bản án sơ thẩm

Về nội dung của bản án sơ thẩm: Căn cứ vào tờ trình của bà H1, bà V2 thì mặc dù căn nhà xây dựng năm 1993 nhưng đã bị tháo dở, tại phiên tòa phúc thẩm người khởi kiện thừa nhận năm 2004 có sửa chữa nhà và cho người khác ở, chứ bà H không trực tiếp ở tại căn nhà này, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Do bản án sơ thẩm có vi phạm tố tụng gây ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị, chấp nhận một phần kháng cáo của người bị kiện, hủy bản án sơ thẩm để giải quyết vụ án, chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị kiện xin xét vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 225 Luật tố tụng hành chính tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

[2] Căn cứ các chứng cứ thu thập tại hồ sơ vụ án, và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm thể hiện nội dung vụ án như sau:

Phần đất 190,22m² thuộc một phần thửa đất số 228, tờ bản đồ số 01 xã A, huyện T (theo tài liệu 299/TTg) nay thuộc thửa đất số 120, 122 và một phần thửa đất số 121, tờ bản đồ số 01 (theo bản đồ địa chính đo năm 2002), phường B, Quận B (nay là phường A, thành phố T) là phần đất bị thu hồi để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng Công viên vòng xoay chân cầu S.

Ngày 04/5/2011, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận B (nay là Ủy ban nhân dân thành phố T) ban hành Quyết định số 5769/QĐ-UBND (đính kèm bảng chiết tính giá trị bồi thường số 161/BA ngày 04/4/2011) về việc bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư đối với các ông, bà Nguyễn Thị V2, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Mai H1, Đào Văn N, Đào Phi H3 và Nguyễn Thị Hải Y, là chủ sử dụng căn nhà thuộc các thửa đất số 120, 121 và 122, tờ bản đồ số 1, BĐĐC, phường B, Quận B. Theo đó, bồi thường, hỗ trợ thiệt hại cho các ông bà có tên trên với số tiền 55.685.450 đồng do có căn nhà thuộc Dự án xây dựng công viên vòng xoay chân cầu S và không đủ điều kiện tái định cư (Theo bảng chiết tính số 161/BA (BL 119) xác định phần đất bị thu hồi là đất nông nghiệp). Do tại thời điểm ban hành quyết định, phần đất đang là đối tượng tranh chấp trong vụ án dân sự nên Uỷ ban nhân dân chưa giao tiền bồi thường. Căn cứ Quyết định số 44/2019/QÐST-DS ngày 21/11/2019 của Tòa án nhân dân Quận 2 về việc công nhận sự thỏa thuận của các đương sự thì bà H được xác định là chủ sử dụng, quản lý đối với căn nhà (thửa đất) bị giải tỏa với diện tích 183,72m² (đã trừ phần diện tích 6,5m² thuộc đường theo BĐĐC năm 2002).

Ngày 24/02/2023, Ủy ban nhân dân thành phố T ban hành Quyết định số 1485/QĐ-UBND về điều chỉnh tên chủ sử dụng và nội dung Điều 1 Quyết định số 5769/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận B. Theo đó, điều chỉnh tên chủ sử dụng tại Quyết định số 5769/QĐ-UBND từ “ông (bà) Nguyễn Thị V2, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Mai H1, Đào Văn N, Đào Phi H3, Nguyễn Thị Hải Y” thành “bà Trần Thị H”; bồi thường, hỗ trợ đối với bà H số tiền 55.116.000 đồng.

Bà H cho rằng việc Ủy ban nhân dân Quận B xác định đất bị thu hồi của bà H là đất nông nghiệp trồng cây lâu năm để tính đơn giá hỗ trợ, bồi thường là không đúng với thực tế nguồn gốc đất đang sử dụng, vì phần đất nêu trên có nguồn gốc do gia đình ông Nguyễn Văn T3 sử dụng từ trước năm 1975 (theo Giấy xác nhận tình trạng pháp lý nhà đất số 397/UBND-XN ngày 30/3/2011), trên đất có nhà do 03 hộ Nguyễn Thị V2, Nguyễn Thị C và Nguyễn Thị Mai H1 tự xây dựng vào tháng 3/1993 (kết cấu vách tán, mái lá - theo Giấy xác nhận tình trạng pháp lý nhà đất số 397/UBND-XN ngày 30/3/2011). Như vậy, khu đất trên đã được chuyển mục đích sử dụng thành đất ở từ trước ngày 15/10/1993. Theo quy định pháp luật hiện hành thì diện tích đất này được xác định là đất ở.

Do đó, bà H khởi kiện đến Tòa án. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bà H xác định lại yêu cầu khởi kiện như sau:

  • - Yêu cầu Tòa án buộc Ủy ban nhân dân thành phố T bồi thường hỗ trợ theo đơn giá đất ở có nguồn gốc sử dụng từ trước ngày 15/10/1993 đối với căn nhà (thửa đất) bị giải tỏa với diện tích 190,2m², thuộc thửa đất số 120,121, 122, tờ bản đồ số 1, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (theo BĐĐC năm 2002), thuộc một phần thửa đất số 228, Tờ bản đồ số 1, phường B, xã A, huyện T (theo tài liệu 299/TTg) và yêu cầu tái định cư cho cho gia đình bà.
  • - Bà H rút các yêu cầu gồm: (1) Yêu cầu buộc Ủy ban nhân dân thành phố T ban hành quyết định về việc bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư cho bà H là chủ sử dụng, quản lý đối với căn nhà (thửa đất) bị giải tỏa, với diện tích 183,72m² (đã trừ phần diện tích 6,5m² thuộc đường theo BĐĐC năm 2002) thuộc các thửa đất số 120, 122 và thửa đất số 121, tờ bản đồ số 1, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (theo BĐĐC năm 2002) thuộc một phần thửa đất số 228, tờ bản đồ số 1, xã A, huyện T (theo tài liệu 299/TTg). (2) Yêu cầu Tòa án Ủy ban nhân dân thành phố T phải chi trả lãi suất phát sinh do việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đúng quy định kể từ ngày ban hành Quyết định số 5769/QĐ-UBND đến ngày bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. (3) Yêu cầu hủy bỏ toàn bộ Quyết định số 5769/QĐ-UBND do xác định nhà đất của bà H đang sử dụng là đất nông nghiệp trồng cây lâu năm để tính đơn giá hỗ trợ, bồi thường.

[3] Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[3.1] Nguồn gốc phần đất bị thu hồi do gia đình ông Nguyễn Văn T3 sử dụng từ trước năm 1975. Ông T3 chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Mai H1, bà Nguyễn Thị V2.

Tháng 3/1993, bà Nguyễn Thị V2, bà Nguyễn Thị Mai H1 tự xây dựng nhà kết cấu: Vách ván, mái lá. Ngày 23/3/1993, Ủy ban nhân dân huyện T đã có Quyết định số 61/QĐ-UB về việc cho tiến hành giải tỏa toàn bộ các căn nhà xây dựng trái phép trên lô đất số 228, tờ 1, ấp A, xã A. Ngày 25/3/1993, các hộ có Đơn xin tạm hoãn việc tháo dỡ nhà. Ngày 26/3/1993, Ủy ban nhân dân huyện T có Thông báo số 284/TB-UB về việc trả lời không thể tạm hoãn việc tháo dỡ nhà. Ngày 18/10/1993, Ủy ban nhân dân huyện T có Thông báo (lần 3) số 17/TB-UB về việc nghiêm túc thực hiện việc giải tỏa các căn nhà theo Quyết định số 61/QĐ-UB. Đây là chứng cứ chứng minh sau ngày 15/10/1993 thì phần đất bị thu hồi vẫn được sử dụng vào mục đích đất ở. Mặt khác, căn cứ chứng cứ thu thập được thể hiện bà H nhận chuyển nhượng các phần đất nêu trên để sử dụng vào mục đích đất ở. Từ năm 1993 đến này diện tích đất này không dùng vào việc sản xuất nông nghiệp.

[3.2] Xét cụ thể các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án như sau:

Quyết định số 61/QĐ-UB ngày 23/3/1993 của Ủy ban nhân dân huyện T có nội dung như sau: “Cho tiến hành giải tỏa toàn bộ các căn nhà xây dựng trái phép trên lô đất số 228 tờ A, ấp A, xã A (Đ đường qua khu vực cầu Đ đi vào xã A) do xây dựng không phép và vi phạm ở điều 4 bản quy định tạm thời của QĐ 20/QĐ-UB ngày 19/01/1988 của Uỷ ban nhân dân Thành phố” (BL 101). Tại phiên tòa phúc thẩm, phía người bị kiện giải thích năm 1992 Uỷ ban nhân dân ra quyết định “giải tỏa toàn bộ các căn nhà xây dựng trái phép” là việc xây dựng không phép, chứ thời điểm đó phần đất chưa có phê duyệt quy hoạch.

  • - Tờ đăng ký nhà – đất ngày 15/10/1999 của bà Nguyễn Thị V2, và bà Nguyễn Thị Mai H1 có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã A ngày 31/12/1999 thể hiện: Bà V2, bà H1 có kê khai trên diện tích đất có căn nhà để ở. (BL 114, 115);
  • - Giấy mua bán nhà, đất ngày 19/02/2001 (BL 29) do bà Nguyễn Thị V2 lập (Bà V2 bán lại nhà đất cho bà H với diện tích khoảng 141m² (10m x 14m, trên đất có căn nhà khoảng 40m²); Giấy mua bán nhà, đất ngày 22/02/2001 (BL 49) do bà Nguyễn Thị Mai H1 lập (bà H1 bán lại nhà đất cho bà H với diện tích 40m², trên đất có căn nhà);
  • - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 93/QĐ-UB ngày 15/9/2004 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B (BL 103), xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Tống Hoàng C2 do có hành vi sửa chữa, cơ nới diện tích trong khu quy hoạch công viên cầu S thuộc lô 121, tờ bản đồ số 11, phường B, Quận B; Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc tháo dỡ công trình cơ nơi thêm diện tích 5m² trong thời hạn 10 ngày.

[3.3] Theo nguồn gốc đất và các tài liệu, chứng cứ trên có cơ sở xác định trên phần đất bị thu hồi đã có nhà được xây dựng từ trước ngày 15/10/1993, và tại thời điểm thu hồi phần đất được sử dụng vào mục đích đất ở, không phải là đất trồng cây lâu năm. Căn cứ điểm b.1.2.2 khoản 3 mục III Phần B Phương án số 67/PAG-HĐBT ngày 11/6/2004 của Hội đồng bồi thường dự án được Ủy ban nhân dân Thành phố H phê duyệt tại Quyết định số 3011/QĐ-UB ngày 28/6/2004, thì phần đất bị thu hồi của bà H đủ điều kiện bồi thường, hỗ trợ về đất ở khi thu hồi đất. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H là có căn cứ. Yêu cầu kháng cáo của người bị kiện và nội dung quyết định kháng nghị về việc cho rằng phần đất bị thu hồi là đất nông nghiệp là không phù hợp với nguồn gốc đất, và các tài liệu chứng cứ trên nên không có cơ sở chấp nhận.

[3.4] Ngoài ra, liên quan đến việc bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất của bà H, Ủy ban nhân dân thành phố T đã có ban hành các quyết định sau:

  • - Quyết định số 5769/QĐ-UBND ngày 04/5/2011 về việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với các ông (bà) Nguyễn Thị V2, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Mai H1, Đào Văn N, Đào Phi H3, Nguyễn Thị Hải Y;
  • - Quyết định số 1485/QĐ-UBND ngày 24/02/2023 điều chỉnh tên chủ sử dụng và nội dung Điều 1 Quyết định số 5769/QĐ-UBND ngày 04/5/2011;

Trong vụ án này, bà H đã có yêu cầu hủy Quyết định số 5769/QĐ-UBND ngày 04/5/2011 và hủy một phần Quyết định số 1485/QĐ-UBND ngày 24/02/2023, nhưng sau đó đã rút lại yêu cầu khởi kiện đối với Quyết định số 5769/QĐ-UBND. Xét thấy, Quyết định số 5769/QĐ-UBND được thay thế bằng Quyết định số 1485/QĐ-UBND, là các quyết định hành chính có liên quan đến các yêu cầu khởi kiện còn lại của bà H được Tòa án chấp nhận. Bản án Bản án sơ thẩm đã nhận định và tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H, buộc Ủy ban nhân dân thành phố T bồi thường 183,72m² (đã trừ phần diện tích 6,5m² thuộc đường theo bản đồ địa chính năm 2002) thuộc thửa 120,122 và thửa 121, tờ bản đồ số 1, phường B, Quận B Thành phố Hồ Chí Minh cho bà H theo đơn giá đất ở sử dụng từ ngày 15/10/1993 và tái định cư theo quy định, nhưng không xem xét và giải quyết đối với 01 trong 02 quyết định trên (bởi Quyết định số 1485/QĐ-UBND được ban hành để thay thế Quyết định số 5769/QĐ-UBND) là có thiếu sót, nên Hội đồng xét xử chấp nhận quyết định kháng nghị về việc khắc phục nội dung này. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án Ủy ban nhân dân thành phố T đã có ý kiến trình bày, Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã có nhận định đánh giá 02 quyết định trên nhưng tại phần quyết định của bản án sơ thẩm không tuyên xử đối với các quyết định này là có thiếu sót. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về phần này để đảm bảo cho việc thi hành án và xác định sai sót này có thể khắc phục được tại cấp phúc thẩm. Đối với những thiếu sót khác về tố tụng của bản án sơ thẩm theo nội dung quyết định kháng nghị nêu thì những thiếu sót này không ảnh hưởng, không làm thay đổi bản chất nội dung vụ việc nên không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm.

[4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa; Bác yêu cầu kháng cáo của người bị kiện; Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị số 39/QĐKNPT-VKS-HC ngày 13/9/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; Sửa một phần bản án sơ thẩm.

[5] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Án phí hành chính phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên người có kháng cáo không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1, 2 Điều 241 Luật tố tụng hành chính,

I/Bác yêu cầu kháng cáo của người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố T;

Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị số 39/QĐKNPT-VKS-HC ngày 13/9/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh;

Sửa một phần bản án sơ thẩm số 1372/2023/HC-ST ngày 14/8/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H (do đương sự rút yêu cầu khởi kiện) đối với các yêu cầu sau:

  • - Buộc Ủy ban nhân dân thành phố T ban hành Quyết định về việc bồi thường, hỗ trợ thiệu định cư cho bà Trần Thị H.
  • - Hủy bỏ toàn bộ Quyết định số 5769/QĐ-UBND ngày 04/05/2011 của Ủy ban nhân dân Quận B (nay là Ủy ban nhân dân thành phố T) về việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
  • - Buộc Ủy ban nhân dân thành phố T chi trả lãi suất phát sinh do việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư không đúng quy định kể từ ngày ban hành Quyết định số 5769/QĐ-UBND ngày 04/05/2011 đến ngày Bản án hoặc Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật nên Tòa án đình chỉ giải quyết yêu cầu này.

2/Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H:

  • - Hủy một phần Quyết định số 1485/QĐ-UBND ngày 24/02/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố T về các nội dung liên quan đến việc xác định diện tích đất 183,72m² (đã trừ phần diện tích 6,5m² thuộc đường theo bản đồ địa chính năm 2002) thuộc thửa 120,122 và thửa 121, tờ bản đồ số 1, phường B, Quận B thành phố Hồ Chí Minh đã thu hồi của bà bà Trần Thị H theo đơn giá đất nông nghiệp.
  • - Buộc Ủy ban nhân dân thành phố T thực hiện nhiệm vụ công vụ theo quy định pháp luật, cụ thể: Xác định diện tích đất 183,72m² (đã trừ phần diện tích 6,5m² thuộc đường theo bản đồ địa chính năm 2002) thuộc thửa 120,122 và thửa 121, tờ bản đồ số 1, phường B, Quận B thành phố Hồ Chí Minh đã thu hồi của bà Trần Thị H được bồi thường theo đơn giá đất ở sử dụng từ ngày 15/10/1993 và tái định cư theo quy định.

3/Án phí hành chính sơ thẩm: Ủy ban nhân dân thành phố T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

II/Án phí hành chính phúc thẩm: Ủy ban nhân dân thành phố T không phải chịu; Hoàn trả 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004028 ngày 18/10/2023 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM
  • - Tòa án nhân dân TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - Cục THADS TP.HCM;
  • - NKK (1);
  • - NBK (1);
  • - Lưu (10) 17b (Án TTKY).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 341/2024/HC-PT ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai và bồi thường thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất

  • Số bản án: 341/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai và bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger