|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 341/2024/DSPT Ngày: 09-7-2024 V/v tranh chấp về thừa kế tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Minh Châu
Các Thẩm phán:
- + Bà Phạm Ngọc Giàu;
- + Ông Trần Thanh Tòng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Việt – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 04 và 09 tháng 7 năm 2024; Tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 07/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 01 năm 2024 về việc “tranh chấp về thừa kế tài sản” do Bản án dân sự sơ thẩm số 139/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 171/2024/QĐXX-PT ngày 02 tháng 4 năm 2024; Giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1955; địa chỉ: Số B, Tổ A, ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đinh Bửu L; Sinh năm 1974; địa chỉ: Số A, Tổ A, ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Bị đơn:
- Ông Nguyễn Thành V; sinh năm 1961; có mặt.
- Bà Đặng Thị H1; sinh năm 1961; có đơn xin vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Tổ A, Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Thanh L1, sinh năm 1962; địa chỉ: Số H, Hẻm S, Đường T, Khu phố D, Phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1957; địa chỉ: Ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ A, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Ông Phạm Trần T, sinh năm 1979; có mặt.
- Bà Trần Hồng T1, sinh năm 1982; có đơn xin vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Số E, L, phường T, quận T, Thành Phố Hồ Chí Minh.
- Ông Đặng Văn Đ; sinh năm 1967; có mặt.
- Bà Đỗ Thị D, sinh năm 1969; vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, tại các phiên tòa, nguyên đơn trình bày:
Cụ Nguyễn Văn X (chết năm 1965), cụ Lê Thị L2 (chết năm 2008); Hai cụ có 03 người con chung tên Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thành V; Cụ X có con riêng tên Nguyễn Văn T2 (chết, có các con tên Nguyễn Thanh L1, Nguyễn Thị L3 đã chết; Chị L3 có con tên Nguyễn Thị B);
Bà H tranh chấp quyền sử dụng đất (viết tắt QSDĐ) tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh; Nguồn gốc 02 phần đất tranh chấp của các cố ngoại cho cụ Lê Thị L2; Gồm có:
- + Thửa số 996, Tờ bản đồ (viết tắt TBĐ) số 10, diện tích (viết tắt DT) 2003.7 m²; Đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCNQSDĐ) do Ủy ban nhân dân huyện C (viết tắt UBND) cấp ngày 03-02-2021 cho ông Đặng Văn Đ (do ông Đ nhận chuyển nhượng);
- + QSDĐ thửa số 997, DT 10217.7m², có GCNQSDĐ cấp ngày 03-02-2021 cho ông Nguyễn Thành V;
Sau khi cụ X chết, cụ L2 chia đất cho các con, tự kê khai đăng ký; Riêng 02 phần đất tranh chấp giao cho ông V sử dụng canh tác để nuôi cụ L2; Nhưng năm 2005, ông Văn t kê khai đăng ký đứng tên QSD đất. Đến năm 2008, cụ L2 chết, bà
H biết ông V đứng tên GCNQSDĐ tranh chấp, lấy đất cho thuê dùng tiền cho cá nhân. Tuy nhiên, ông V là em út, các bà để ông V sử dụng canh tác có thu nhập lo cho gia đình; Nhưng ông V bán đất, không có sự đồng ý của chị em.
Khi còn sống, cụ L2 tinh thần minh mẫn, khỏe mạnh; Năm 2008 chết đột ngột.
Tại phiên toà phúc thẩm, bà H cho rằng, cụ L2 dựng nhà tạm ở riêng, không sống chung với ông V; Nhiều lần cụ L2 bỏ nhà đi, chị em bà đã đi tìm, khi cụ L2 trở về nhà có nói: do ông V ép cụ ký tên để cho đất. Bà H bổ sung chứng cứ hình ảnh nhà tạm của cụ L2 xây dựng trên đất đang tranh chấp. Bà H khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Lê Thị L2 thửa đất số 996 có DT 2003.7m² và thửa số 997 có DT 10217.7m²; Cùng TBĐ số 10; địa chỉ ấp A, xã A, huyện C; Bà yêu cầu được chia đất. Nếu được chấp nhận yêu cầu khởi kiện, bà H đồng ý để vợ chồng ông T thu hoạch xong vụ Mì cuối tháng 7/2024 giao đất cho chị em bà H.
Bị đơn: Vợ chồng ông Nguyễn Thành V trình bày trong quá trình tố tụng có nội dung thống nhất như sau:
Thống nhất quan hệ nhân thân. Xác định khi còn sống, cha mẹ ông V đã tạo lập khoảng hơn 02 mẫu đất ruộng, đã chia đất đều cho các con xong, 03 người con chung 01 mẫu đất. Các anh chị em đã nhận đất sử dụng, kê khai đăng ký QSDĐ; Có người còn giữ đất; Có người đã bán đất.
Nguồn gốc phần đất tranh chấp: Cụ L2 được các cố ngoại cho từ sau năm 1975; Khoảng năm 1976-1978, cụ L2 chia đất cho các con, riêng ông được cho 02 phần tổng DT 15.449 m² thuộc thửa số 8595, TBĐ số 01; Tại ấp A, xã A và phần đất đang tranh chấp; Do ông sống chung và phụng dưỡng mẹ ông.
Ông sử dụng đất ổn định từ năm 1980 đến nay, đã đăng ký Sổ mục kê năm 2005, được cấp GCNQSDĐ. Khi ông đăng ký QSDĐ, cụ L2 biết, do tinh thần minh mẫn, khỏe mạnh. Năm 2008 cụ bệnh nhẹ chết.
Năm 2005, ông được cấp GCNQSDĐ với DT 7.479 m², đất thuộc thửa số 8594, TBĐ số 01 và DT 15.449m² đất thuộc thửa số 8595; Tại ấp A, xã A. Lúc trước 2 phần đất này liền kề, sau đó ông hiếng 1 phần DT để làm đường băng qua đất của ông.
Năm 2020, ông đổi GCNQSDĐ đối với DT 7.479m² thửa 8594 thành thửa số 942, TBĐ đồ số 10; được cấp GCNQSDĐ vào ngày 31-3-2020; Ngoài ra, ông đăng ký mới thêm phần đất DT 4.742m² thuộc thửa số 964, TBĐ số 10; được cấp
GCNQSDĐ vào ngày 21-4-2020; DT 4.742 m² thuộc 1 phần của thửa số 8594 do đăng ký thiếu. Cuối năm 2020, ông xin nhập tài sản chung của vợ chồng và hợp 2 thửa thành thửa số 981, TBĐ số 10, DT 12.221,4 m²; ông bán 1 phần DT 2.003,7 m² thửa số 996 cho vợ chồng ông Đặng Văn Đ; Còn lại DT 10.217,7m² thành thửa số 997, TBĐ số 10; được cấp mới GCNQSDĐ số: CS05914 vào ngày 03-02-2021.
Đất bán cho ông Đ với giá 1.400.000.000 đồng, đã mua bán xong. Đất còn lại thửa số 997, DT 10.217,7 m² ông tiếp tục lập hợp đồng chuyển nhượng (viết tắt HĐCN) cho vợ chồng ông Phạm Trần T với giá 6 tỷ đồng, ông đã nhận trước số tiền 5,5 tỷ đồng. Tuy nhiên, ông bị tranh chấp, nên chưa thực hiện xong thủ tục sang tên cho vợ chồng ông T. Nay Ông V không đồng ý yêu cầu của bà H; Đồng ý yêu cầu độc lập của vợ chồng ông T.
Tại phiên toà phúc thẩm, ông V xác định việc cụ L2 dựng nhà tạm sống riêng là có thật và ông V đã bỏ vợ con để sống chung với cụ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Nguyễn Thị H2 trình bày: Quan hệ nhân thân, nguồn gốc đất tranh chấp thống nhất ý kiến của bà H.
Khi cụ L2 còn sống, cho ông V sử dụng những phần đất tranh chấp canh tác để nuôi mẹ. Sau khi cụ L2 chết, mấy năm sau, ông V lấy đất cho thuê và lấy tiền thuê. Hiện nay ai quản lý, sử dụng, bà không biết.
Trước đây, mẹ bà đã được cấp GCNQSDĐ. Đến năm 2019- 2020, ông Văn t thực hiện thủ tục đứng tên. Đây là đất của mẹ đẻ chết để lại, chưa cho ai, Ông V1 đăng ký QSDĐ không đúng pháp luật. Bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà H; Đây không phải là di sản để chia, mà đất của mẹ phải để lại nguyên hiện trạng, thờ cúng.
2/ Ông Phạm Trần T và bà Trần Hồng T1 thống nhất nội dung trình bày:
Vợ chồng ông mua của vợ chồng ông V1 phần đất DT 10.217,7m² thửa số 997, có HĐCNQSDĐ vào ngày 10-5-2021 tại Văn phòng Công chứng (viết tắt VPCC); G mua 06 tỷ đồng, nhưng trên HĐCNQSDĐ thể hiện giá mua bán 500 triệu đồng, để giảm thuế; Vợ chồng ông đã trả cho vợ chồng ông V1 số tiền 5,5 tỷ đồng, sau khi có GCNQSDĐ trả hết số tiền 500 triệu đồng còn lại. Do đất tranh chấp, vợ chồng ông T chưa được cấp GCNQSDĐ.
Sau khi mua đất; Vợ chồng ông V1 đã giao đất cho ông sử dụng. Ông cho ông D1 mượn đất trồng mì, đã thu hoạch xong. Do canh tác không hiệu quả, vợ
chồng ông T định trồng cây khác. Hiện trạng đang tranh chấp là đất trống; Đất đã có cột mốc, ông T không làm trụ rào, giáp ranh đất của ông Đ; Đất đã có cột mốc điểm đầu, điểm cuối và rãnh ruộng lúa làm ranh giới. Hiện nay, đất tranh chấp là của vợ chồng ông T;
Đối với tranh chấp thừa kế của gia đình ông V1; Vợ chồng ông T không ý kiến, đề nghị giải quyết theo pháp luật. Nếu chia thừa kế, phải chia bằng tiền, không hủy HĐCNQSDĐ của ông; Vì khi mua, đất có GCNQDDĐ được Công chứng, đã trả tiền, còn 1/10 giá trị của hợp đồng chưa thanh toán và đất không bị tranh chấp. Vợ chồng ông T yêu cầu độc lập như sau:
- + Công nhận HĐCNQSDĐ ngày 10-5-2021 có hiệu lực pháp luật.
- + Buộc vợ chồng ông V1 tiếp tục sang tên DT 10.217,7m² thửa số 997, TBĐ số 10; Tại ấp A, xã A; Cho vợ chồng ông T; Vợ chồng ông T tiếp tục thanh toán số tiền 500 triệu đồng.
Tại phiên toà phúc thẩm ông T trình bày: Trong thời gian đang giải quyết vụ án, ông đã trồng Mì sẽ thu hoạch vào cuối tháng 7/2024. Nếu Toà án huỷ HĐCNQSDĐ; Buộc vợ chồng ông V1 bồi thường gấp đôi số tiền các bên đã thoả thuận.
3/ Chị Nguyễn Thị B trình bày: Thống nhất ý kiến của ông V1; Chị không yêu cầu nhận di sản thừa kế, yêu cầu Tòa án giải quyết theo pháp luật.
4/ Anh Nguyễn Thanh L1 trình bày: Thống nhất hàng thừa kế của cụ L2. Xác định: Cụ X và cụ L2 tạo lập khoảng hơn 02 mẫu đất; Có chia cho 04 người con tên H, H2, T2, V1; Mỗi người 1 phần đất DT 3,3 công; Phần đất của ông T2 do anh L1 (con ông T2) canh tác 1 năm và bán cho bà H. Những người khác đều đã nhận đất sử dụng, phần đất của bà L3 (con ông T2) do chị quản lý, sử dụng. Đất còn lại, cụ L2 và ông V1 sử dụng. Anh L1 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà H; Do cụ L2 sống với ông V1 đã cho ông V1. Nếu Tòa án chia di sản thừa kế, anh L1 cho ông V1.
5/ Vợ chồng ông Đặng Văn Đ thống nhất trình bày nội dung như sau:
Anh vợ của ông tên V1. Năm 2020, Vợ chồng ông có mua của vợ chồng ông V1 thửa đất số 996 DT 2.003,7m², TBĐ số 10; Ấp A, xã A; Giá mua: 1.140.000.000 đồng, đã trả hết tiền và sang tên xong; Khi mua, Đ1 không tranh chấp. Hiện trạng, đất không canh tác. Vợ chồng ông Đ yêu cầu giữ nguyên HĐCNQSDĐ của vợ chồng ông; Giữ nguyên hiện trạng đất cho ông bà sử dụng.
Nếu Tòa án chia thừa kế, phải chia bằng tiền, ông không trả đất; Vì khi mua, có GCNQSDĐ. GCNQSDĐ ông không thế chấp.
Bản án dân sự sơ thẩm số: 139/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 117, 500, 501, 502, 612 của Bộ luật Dân sự; Điều 100, 106, 188 của Luật Đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với ông Nguyễn Thành V, bà Đặng Thị H1 về tranh chấp về thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất thửa số 996, tờ bản đồ số 10, diện tích 2003.7 m² và thửa số 997, tờ bản đồ số 10, diện tích 10.217.7 m²; tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh.
- Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng tại Văn phòng C ngày 10-5-2021, số công chứng: 2470 quyển số: 05/2021 TP/CC-SCC/HĐGD đối với quyền sử dụng đất 10.217,7 m², thửa 997, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh, giữa ông Nguyễn Thành V, bà Đặng Thị H1 và ông Phạm Trần T, bà Trần Hồng T1.
Ông T, bà T1 có nghĩa vụ thanh toán tiếp cho ông V, bà H1 số tiền chuyển nhượng còn lại là 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng.
Các bên thực hiện thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
Bản án còn quyết định chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 09/10/2023 và ngày 16/10/2023 bà H, bà H2 có đơn kháng cáo xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị chia di sản thừa kế.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên có ý kiến như sau:
- + Tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng những quy định pháp luật tố tụng dân sự.
- + Nội dung: Nguyên đơn kháng cáo không có căn cứ chấp nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa; ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Nội dung vụ án được xác định như sau:
[1.1] Về hàng thừa kế: Các đương sự thống nhất xác định hàng thừa kế của cụ L2 (chết 2008) và Cụ X1 (chết năm 1965) gồm có: bà H, bà H2, ông V và ông T2 (do anh L1, chị L3 thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng; Chị L3 chết, do chị B thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng);
[1.2] Tài sản của cụ L2 được xác định:
- + Khi cụ L2 còn sống đã chia đất cho 4 người con bà H, bà H2, ông T2 và ông V; mỗi người được 3.000m² đất;
- + Còn lại DT 27.670,7m² đất; Cụ L2 và ông V sử dụng. Năm 2005, ông V kê khai đăng ký DT 15.449m², được cấp GCNQSDĐ thửa số 8595 + DT 7.479,0m² thửa số 8594 (sau này đổi thành thửa số 942). Đến năm 2019, sau khi cụ L2 chết, ông V tiếp tục kê khai đăng ký phần đất DT 4.742,7m² đất được cấp GCNQSDĐ thửa số 964 vào năm 2021. Sau đó, ông V được hợp thửa số 942 + thửa số 964, có tổng DT 12.221,4m² thuộc thửa số 981; Năm 2021, ông V chuyển nhượng cho vợ chồng ông Đ 1 phần DT và ông Đ được cấp GCNQSDĐ thuộc thửa số 996; Ông V còn lại DT 10.217,7m² thuộc thửa 997 tiếp tục chuyển nhượng cho vợ chồng ông T có lập HĐCNQSDĐ công chứng, nhưng chưa đăng ký được tại VPĐKDĐ do bà H, bà H2 tranh chấp.
[1.3] Căn cứ Hồ sơ cấp GCNQSD đất cho ông V phần đất DT 15.449m² thửa số 8595 và phần đất DT 7.479,0m² thửa số 8594 (tổng DT 22.928,0m²); Trên các mẫu Đơn kê khai đăng ký xin cấp QSDĐ; Ông V ghi nguồn gốc “đất được thừa kế”; ghi “được cho”, ghi “cha mẹ để lại”; Nhưng không có văn bản tặng cho và không có chữ ký tên của cụ L2 trên các giấy tờ đăng ký đất; trong khi cụ L2 còn sống. Tuy nhiên, bà H và bà H2 cho rằng năm 2008, các bà biết ông V được cấp GCNQSDĐ nhưng không tranh chấp, lý do ông V là em trai út, để ông canh tác và không có bán. Như vậy, những phần đất ông V đứng tên từ năm 2005, khi cụ L2 còn sống, các đương sự không tranh chấp; Do đó không chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế đối với tổng DT 22.928,0m².
[1.4] Riêng phần đất DT 4.742,7m² thuộc thửa 964, ông V mới kê khai, đăng ký vào năm 2019, được cấp GCNQSDĐ vào năm 2021, sau khi cụ L2 chết được xác định là di sản, cần phải chia DT 4.742,7m² theo pháp luật. Nhưng ông V
đã hợp thửa DT 4.742,7m² với DT 7.479,0m² thành tổng DT trên 12.000m² bán cho ông Đ; Xác định đất tranh chấp còn lại DT 10.217,7m² thuộc thửa 997 phải chia theo pháp luật, mặc dù ông bà V đã lập HĐCNQSDĐ chuyển nhượng cho vợ chồng ông T; Chưa được đăng ký tại Cơ quan quản lý đất đai; Hiện nay ông V đang đứng tên trên GCNQSDĐ. Ngoài ra, đất tranh chấp là đất trồng lúa; ông V không canh tác, cho thuê đất; Toà án sơ thẩm cho rằng ông V quản lý và sử dụng đất ổn định chưa đủ căn cứ và không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa phù hợp.
[2] Xét HĐCNQSD đất giữa vợ chồng ông V và vợ chồng ông T thấy rằng:
[2.1] Ông V được cấp QSDĐ thửa số 997 DT 10.217,7m²; Trong đó có 1 phần DT 4.742,4m² là di sản thừa kế, nên HĐCNQSD đất giữa vợ chồng ông T và vợ chồng ông V phải huỷ 1 phần DT 4.742,4m²; Công nhận cho vợ chồng ông T 1 phần HĐCNQSDĐ có hiệu lực với DT 5.475,3m² đất
[2.2] Khi các bên thực hiện HĐCNQSDĐ; Đất có GCNQSDĐ cấp cho ông V; Nên ông V không có lỗi làm cho hợp đồng chuyển nhượng bị huỷ; Tại thời điểm tranh chấp, đất trống, vợ chồng ông T chưa bị thiệt hại về tài sản; Nên các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
[2.3] Để bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của các bên khi tham gia giao dịch; Hội đồng định giá thẩm định đất tranh chấp thửa số 997, giá trị 60.000.000 đồng/mét ngang; Như vậy, vợ chồng ông V có nghĩa vụ trả cho vợ chồng ông T số tiền 4.000.386.000 đồng trị giá phần đất DT 4.742,4m² phần hợp đồng chuyển nhượng không được công nhận.
[3] Chia di sản thừa kế phần đất DT 4.742,4m² thuộc thửa số 997, TBĐ số 10; Đất tại ấp A, xã N; Cho các đồng thừa kế của cụ L2 gồm: Bà H, bà H2, ông T2 (do anh L1 và chị B thừa kế). Tuy nhiên, anh L1 và chị B không nhận di sản, tự nguyện cho ông V phần di sản được hưởng; Nên ông V được nhận phần thừa kế của anh L1 và chị B. Do đó DT 4.742,4m² được chia cho bà H, bà H2 và ông V thành 4 phần bằng nhau. Ông V được chia 2 phần.
[3.1] Bà H2 được chia DT 1.185,6m² thuộc thửa số 997, TBĐ số 10;
[3.2] Bà H được chia DT 1.185,6m² thuộc thửa số 997, TBĐ số 10
[3.3] Ông V được chia phần đất DT 1.185,6m² x 2 phần thừa kế = 2.371,2m² thuộc thửa số 997, TBĐ số 10;
[3.4] Tứ cận các phần đất chia cho các đương sự kèm theo Sơ đồ hiện trạng, số liệu được thể hiện trong phần Quyết định của bản án.
[4] Ngày 15-8-2024, Vợ chồng ông T có nghĩa vụ giao DT 4.742,4m² đất thuộc thửa số 997, TBĐ số 10; Cho các ông bà H, H2 và V theo quyết định của bản án phúc thẩm.
[5] Các đương sự có nghĩa vụ đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, đăng ký quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án phúc thẩm.
[6] Chí phí tố tụng: Chi phí định giá tài sản, thẩm định tại chỗ số tiền 6.500.000 đồng; Do bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị H2, ông Nguyễn Thành V được chia di sản thừa kế; Nên các đương sự phải chịu. Bà H, bà H2; Mỗi người phải chịu số tiền 1.625.000 đồng; Ông V, bà H1 phải chịu số tiền 1. 625.000 đồng x 2= 3.250.000 đồng (được nhận 2 phần thừa kế); Ghi nhận bà H đã nộp, các đương sự có nghĩa vụ thanh toán cho bà H.
[7] Kiểm sát viên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm không phù hợp quyết định của Hội đồng xét xử.
[8] Án phí dân sự: Căn cứ Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8.1] Án phí sơ thẩm và phúc thẩm: ông Nguyễn Thành V, bà Đặng Thị H1, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị H2; Thuộc trường hợp “Người cao tuổi” nên được miễn.
[8.2] Án phí sơ thẩm: Ông Phạm Trần T, bà Trần Hồng T1 không phải chịu do được chấp nhận 1 phần yêu cầu độc lập về “Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” với ông Nguyễn Thành V, bà Đặng Thị H3. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành trả cho ông Phạm Trần T số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 117, 500, 501, 502, 612 của Bộ luật Dân sự; Điều 100, 106, 188 của Luật Đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với ông Nguyễn Thành V, bà Đặng Thị H1 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản” đối với phần đất diện tích 4.742,4m² thuộc một phần diện tích 10.217,7m², thuộc thửa số 997, Tờ bản đồ số 10; Tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn Thành V (cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CS05914, ngày 03-02-2021)
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với ông Nguyễn Thành V, bà Đặng Thị H1 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”; Đối với phần đất thửa số 996, diện tích 22.928,0m², Tờ bản đồ số 10; Địa chỉ ấp A, xã A;
- Huỷ một phần Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có công chứng lập ngày 10-5-2021 tại Văn phòng C; Giữa ông Nguyễn Thành V, bà Đặng Thị H1 và ông Phạm Trần T, bà Trần Hồng T1: Đối với diện tích 4.742,4m² đất thuộc một phần thửa 997, Tờ bản đồ số 10; Tại ấp A, xã A;
- Công nhận một phần Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có công chứng tại Văn phòng Công chứng ngày 10-5-2021 tại Văn phòng C; Giữa ông Nguyễn Thành V, bà Đặng Thị H1 và ông Phạm Trần T, bà Trần Hồng T1; Đối với diện tích 5.475,3m² đất thuộc một phần thửa 997, Tờ bản đồ số 10; Tại ấp A, xã A, huyện C; Cho ông T, bà T1.
- Ông Nguyễn Thành V, bà Đặng Thị H1 có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Trần T, bà Trần Hồng T1 số tiền 4.000.380.000 (bốn tỷ, ba trăm, tám chục ngàn) đồng.
- Chia di sản thừa kế phần đất diện tích 4.742,4m² thuộc thửa số 997, Tờ bản đồ số 10; Tại ấp A, xã N; Cho Bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị H2, ông Nguyễn Thành V; Đất chia thành 4 phần bằng nhau.
6.1 Giao cho bà Nguyễn Thị H2 diện tích 1.185,6m² thuộc thửa số 997, Tờ bản đồ số 10; Đất tại ấp A, xã A. Đất có tứ cận: Đông giáp thửa đất bà H, ông V (được chia); Tây giáp thửa 996 (đất ông Đ), Nam giáp đường nhựa, Bắc giáp đất bà H; (Sơ đồ đất kèm theo);
6.2. Giao cho bà Nguyễn Thị H diện tích 1.185,6m² thuộc thửa số 997, Tờ bản đồ số 10; Đất tại ấp A, xã A. Đất có tứ cận: Đông giáp thửa đất ông V (được chia); Tây giáp thửa 996 (đất ông Đ) và đất bà H2 được chia, Nam giáp đường nhựa, Bắc giáp đất bà H; (Sơ đồ đất kèm theo);
6.3. Giao cho ông Nguyễn Thành V diện tích 2.371,2m² thuộc thửa số 997, Tờ bản đồ số 10; Đất tại ấp A, xã A. Đất có tứ cận: Đông giáp Kênh thuỷ lợi, Tây giáp thửa 996 (đất ông Đ) và đất bà H2, bà H (được chia), Nam giáp đường nhựa, Bắc giáp đất bà H; (Sơ đồ đất kèm theo);
- Ngày 15 tháng 8 năm 2024, ông Phạm Trần T, bà Trần Hồng T1 có nghĩa vụ giao diện tích 4.742,4m² đất cho các ông bà H, bà H2 và ông V;
- Các đương sự có nghĩa vụ đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, đăng ký quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án phúc thẩm.
- Chí phí tố tụng:
9.1. Bà Nguyễn Thị H phải chịu số tiền 1.625.000 (một triệu, sáu trăm hai mươi lăm ngàn) đồng; Ghi nhận bà H đã nộp;
9.2. Ông Nguyễn Thành V, bà Đặng Thị H1 có nghĩa vụ thanh toán số tiền 3.250.000 (ba triệu, hai trăm băm mươi ngàn) cho bà Nguyễn Thị H.
9.3. Bà Nguyễn Thị H2 có nghĩa vụ thanh toán số tiền 1.625.000 (một triệu, sáu trăm hai mươi lăm ngàn) đồng cho bà Nguyễn Thị H.
- Án phí dân sự: Căn cứ Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
10.1 Án phí sơ thẩm và phúc thẩm: ông Nguyễn Thành V, bà Đặng Thị H1 thuộc trường hợp “Người cao tuổi” được miễn.
10.2. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh trả cho ông Phạm Trần T, bà Trần Hồng T1 số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, căn cứ Biên lai thu số: 0018286 ngày 16-3-2023.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Minh Châu |
Bản án số 341/2024/DSPT ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 341/2024/DSPT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hận - Nguyễn Thành Văn
