TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 340/2024/DS-PT Ngày 30-8-2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hùng Quang.
Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Phương Loan.
Bà Châu Minh Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Ngọc Chọn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Điện - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 204/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 7 năm 2024 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 133/2024/DS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 192/2024/QĐ-PT ngày 31 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trương Thị Á, sinh năm 1953. Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lưu Văn B, sinh năm 1973. Địa chỉ: Ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1974. Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Thái Thị B1, sinh năm 1953 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1951 (vắng mặt).
- Bà Trương Thị Đ1, sinh năm: 1982 (có mặt).
- Anh Huỳnh Văn T (vắng mặt).
- Anh Trần Văn T1, sinh năm 1989 (có mặt).
- Chị Tôn Thị Bé T2, sinh năm 1985 (vắng mặt).
- Chị Trần Thị T3 (vắng mặt).
- Anh Trần Văn H (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Chị Trần Thị S, sinh năm 1974. Địa chỉ: Ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Chị Trần Thị L. Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H (Gọi tắt là H1). Địa chỉ trụ sở: B N, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Cơ quan đại diện: Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H – Chi nhánh C. Địa chỉ trụ sở: Số A - A, đường N, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Ngân hàng N (Gọi tắt là A). Địa chỉ trụ sở: Số B, đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V1 – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T4 – Chức vụ: Trưởng phòng Tổng hợp Ngân hàng chi nhánh tỉnh C kiêm phụ trách điều hành Ngân hàng chi nhánh huyện T, tỉnh Cà Mau. Địa chỉ: Khóm I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ông Huỳnh Văn Đ là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 21/8/2023, lời trình của nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có tại hồ sơ và tại phiên toà thể hiện:
Nguồn gốc của ông Trần Văn K (đã chết) và bà Trương Thị T5 (đã chết) khai phá, đến khoảng năm 1974 ông K và bà T5 tặng cho lại vợ chồng ông Trần Văn K1 (đã chết) và bà Trương Thị Á, sau khi được tặng cho đất thì vợ chồng ông K1 quản lý và sử dụng phần đất đến năm 2003 thì được cấp quyền sử dụng đất (QSDĐ) với diện tích 17.800 m² – tại thửa số 0342, 0346 – tờ bản đồ số 02 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số W185520 của Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện T, tỉnh Cà Mau cấp ngày 21/02/2003 cho hộ ông Trần Văn K1 đứng tên (Toàn bộ phần đất sau khi ông K1 chết thì để thừa kế lại cho bà Trương Thị Á vào ngày 16/6/2016 theo hồ sơ TK005 và năm 2020 nhà nước thu hồi diện tích 807,4 m², còn lại 16.992,6 m². Việc thừa kế và thu hồi đất – đã được chỉnh lý biến động trên GCNQSDĐ). Phần đất của ông Huỳnh Văn Đ cũng có nguồn gốc của ông Trần Văn K1, vào khoảng năm 1984 thì vợ chồng ông K1 và bà Á tặng cho vợ chồng ông Huỳnh Văn B2 một phần đất không có nói diện tích đất bao nhiêu, phần đất tặng cho là phần đất của ông Đ hiện đang đứng tên trên GCNQSDĐ (giữa ông K1 và ông B2 có quan hệ bà con cô cậu ruột), sau khi tặng cho đất thì bên gia đình ông B2 quản lý và sử dụng đất đến năm 2007 thì 02 bên có cắm ranh bằng trụ đá (khi đó có ông Đ, bà B1 với ông K1 và bà Á cùng chứng kiến), việc cắm ranh là cắm 04 cây trụ đá (trụ đá hiện nay vẫn còn hiện hữu), việc cắm ranh không có lập giấy tờ gì. Phần đất tranh chấp được xác định sau khi đo đạc là 612,6 m², hiện nay bà Á cùng ông T1 và bà T2 cùng quản lý sử dụng và đang thế chấp cho H1 để vay tiền. Phần đất tranh chấp từ trước đến giờ bên gia đình bà Á quản lý sử dụng. Lý do tranh chấp là bên bà B1 không thống nhất ranh theo trụ đá hiện nay mà xác định diện tích đất tranh chấp 612,6 m² là của gia đình ông Đ. Năm 2003 gia đình bà Á được cấp GCNQSDĐ thì không đo đạc thực tế và không có ký giáp ranh. Từ trước đến giờ bên gia đình bà Á không có ký giáp ranh cho bên gia đình ông Đ làm GCNQSDĐ. Việc trình bày của bà B1 về việc tặng cho đất ông H là không đúng, đất ông H ở là của ông K1 tặng cho vào năm 2007 và ông H có cất nhà trên đất để ở, nhưng hiện nay không còn.
Nay tại phiên toà thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu Tòa công nhận diện tích đất 509,7 m² là QSDĐ hợp pháp của bà Á theo GCNQSDĐ được cấp.
- Lời trình bày của bị đơn và người đại diện hợp pháp của bị đơn có tại hồ sơ và tại phiên tòa thể hiện:
Nguồn gốc của cha ông Trần Văn X tặng cho ông X (ông X là anh ruột của ông K1, ông B2 và ông X là bà con cô cậu ruột). Vào năm 1976 ông X tặng cho vợ chồng bà B1 phần đất khoảng 03 công tầm lớn (chồng bà B1 tên Huỳnh Văn B2 chết hơn 30 năm), việc tặng cho không có làm giấy tờ, nhưng vợ chồng bà B1 cùng ông X có xác định ranh đất (có cắm trụ bằng cây hiện nay không còn), thời điểm vợ chồng bà B1 được tặng cho đất thì ông K1 là người quản lý và sử dụng phần đất liền kề của ông X còn lại cho đến nay. Sau khi được tặng cho đất thì vợ chồng bà B1 quản lý và sử dụng đất cho đến năm 2011 thì được cấp QSDĐ với diện tích 3.741 m² – tại thửa số 333 – tờ bản đồ số 02 theo GCNQSDĐ số BD 507982 của UBND huyện T, tỉnh Cà Mau cấp cho hộ ông Huỳnh Văn Đ đứng tên (ông Đ là con ruột của bà B1 và ông B2). Hộ gia đình ông Đ hiện nay cùng đang quản lý sử dụng đất gồn có ông Đ, bà B1, ông V, bà Đ1, anh T. Quá trình quản lý sử dụng đất thì giữa gia đình bà B1 và bên gia đình ông K1 không có phát sinh tranh chấp, nhưng thời gian sau gia đình bà B1 có cho ông Trần Văn H ở nhờ trên 01 phần đất ngang khoảng 18 mét (khi cho đất thì gia đình ông H cùng bà Á tự cắm trụ đá cách đây khoảng 04 năm, việc cặm trụ đá thì không có gia đình chứng kiến), sau đó gia đình phát hiện trụ đá cắm lấn qua đất của gia đình nên báo chính quyền địa phương giải quyết vào khoảng năm 2019 và được Ban N1 hoà giải 02 lần nhưng không thành, sau đó UBND xã Phong Lạc cử cán bộ xuống hoà giải 01 lần nữa nhưng cũng không thành và sự việc tranh chấp kéo dài cho đến nay. Phần đất tranh chấp bà B1 xác định có diện tích theo đo đạ thực tế là 612,6 m², phần đất tranh chấp có đường mương nước là gia đình bà B1 cho bên gia đình ông K1 mượn để thoát nước làm, toàn bộ phần đất tranh chấp gia đình bà Á quản lý và sử dụng khoảng 08 đến 09 năm nay. Phần đất hiện nay đang thế chấp cho A để vay tiền (hiện nay còn dư nợ). Năm 2011 ông Đ được cấp GCNQSDĐ thì không đo đạc thực tế và không có ký giáp ranh, việc cấp GCNQSDĐ dựa trên ranh cũ xác định với ông X. Từ trước đến giờ gia đình không có ký giáp ranh cho bên gia đình ông K1 làm GCNQSDĐ.
Nay không đồng ý trước toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Á. Yêu cầu xác định hết phần mương thoát nước là của ông Đ.
- Lời trình bày anh Trần Văn T1 có tại hồ sơ và tại phiên toà: Thống nhất với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của bà Á, ông B.
- Lời trình bày ông Nguyễn Văn V có tại hồ sơ và tại phiên toà: Thống nhất với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của bà B1.
- Lời trình bày ông Trần Văn H có tại hồ sơ: Phần đất tranh chấp không liên quan gì đến quyền lợi của ông.
- Tại công văn số: 72/NHNo.TVT-TH ngày 12/3/2024 của A thể hiện: Ngân hàng T6 tham gia tố tụng trong tất cả các phiên làm việc, các phiên xét xử của Toà án các cấp. Nếu có vấn đề khác sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.
- Đối với các đương sự khác: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc và hai lần để xét xử nhưng đều vắng mặt không rõ lý do nên không ghi nhận được ý kiến và đồng thời những người này cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì trong vụ án.
- Tại công văn số: 499/CNVPĐKĐĐ ngày 17/5/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T, tỉnh Cà Mau thể hiện: Các GCNQSDĐ cấp cho ông Trần Văn K1 và ông Huỳnh Văn Đ không có đo đạc thực tế, nên không thể xác định được phần đất tranh chấp thuộc GCNQSDĐ nào.
- Biên bản đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và kết hợp thẩm định giá tài sản ngày 27/02/2023 thể hiện: Trên phần đất tranh chấp có 01 bụi tre (16 cây), 2 cây tràm núi gốc nhỏ hơn 10 cm (trồng 02 năm), 01 cây dừa chưa cho trái (trồng 02 năm), 02 cây ổi, 01 cây nhàu, 01 cây chanh (các cây trồng do gia đình bà Á trồng).
- Bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 24/4/2024 của Chi nhánh công ty TNHH T7 tại Cà Mau thể hiện: Diện tích đất tranh chấp theo đo đạc thực tế 612,6 m² – loại đất nuôi trồng thuỷ sản.
- Biên bản định giá tài sản ngày 25/3/2024 thể hiện: Giá trị đất tranh chấp có giá 30.000 đồng/m² X 612,6 m² = 18.378.000 đồng. Các cây trồng trên đất có giá 2.355.000 đồng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 133/2024/DS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Ánh .
Công nhận phần đất tranh chấp 509,7 m² – tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau là thuộc QSDĐ được cấp theo GCNQSDĐ số: W 185520 của UBND huyện T, tỉnh Cà Mau cấp ngày 21/02/2003 cho hộ ông Trần Văn K1, được chỉnh lý sang tên của bà Trương Thị Á vào ngày 16/6/2016. (Phần đất theo bản vẽ là thửa đất số 2b).
(Có Bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 24/4/2024 của Chi nhánh công ty TNHH T7 tại Cà Mau (kèm theo)).
2. Chi phí tố tụng:
Buộc bị đơn ông Huỳnh Văn Đ hoàn trả cho nguyên đơn bà Trương Thị Á số tiền 11.200.000 đồng.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, yêu cầu thi hành án của đương sự.
Ngày 03 tháng 6 năm 2024, bị đơn là ông Huỳnh Văn Đ kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 133/2024/DS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bị đơn giữ nguyên kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Huỳnh Văn Đ. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 133/2024/DS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét kháng cáo của ông Huỳnh Văn Đ còn trong hạn luật định.
[2] Qua xem xét các nguồn tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có tại hồ sơ Hội đồng xét xử xét thấy:
Ông Trần Văn K1 được UBND huyện T, tỉnh Cà Mau cấp GCNQSDĐ số: W 185520 ngày 21/01/2003 đối với diện tích đất 17.800 m² tại các thửa số 0342, 0346 tờ bản đồ số 02, ngày 16/6/2016 bà Á được nhận thừa kế theo hồ sơ TK 005 được cập nhật và chỉnh lý tại trang “những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận theo GCNQSDĐ”. Ngày 20/4/2022 nhà nước thu hồi diện tích đất 807,4 m², diện tích đất còn lại 16.992,6 m² các thửa đất số: 0342, 0346 có diện tích theo đo đạc thực tế 15.878,2 m² (chưa tính phần đất tranh chấp). Ông Huỳnh Văn Đ được UBND huyện T, tỉnh Cà Mau cấp GCNQSDĐ số BD 507982 năm 2011 đối với diện tích đất 3.741 m² tại thửa số 333 tờ bản đồ số 02, thửa đất số 333 có diện tích theo đo đạc thực tế 2.929,8 m² (chưa tính phần đất tranh chấp).
Như vậy, về mặt số liệu thì diện tích đất thực tế của các bên quản lý và sử dụng đều thiếu so với diện tích đất các bên được cấp theo GCNQSDĐ (bên ông Đ thiếu 811,2 m², bên bà Á thiếu 1.114,4 m²).
[3] Cơ quan chuyên môn về đất đai là Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T, tỉnh Cà Mau xác định tại các thời điểm kê khai đăng ký xin cấp GCNQSDĐ thì không có đo đạc thực tế, nên không thể xác định được phần đất tranh chấp thuộc thửa đất nào theo GCNQSDĐ mà các bên được cấp.
Căn cứ vào lời trình bày của các người làm chứng được xác minh theo yêu cầu của các bên cũng không có đủ cơ sở để xác định phần đất tranh chấp thuộc QSDĐ của bên nào được cấp. Chỉ riêng ông Huỳnh Văn M xác định có việc ông K1 hỏi mượn nền nhà cho con là ông H ở và mượn đường nước làm vuông. Sự việc này bên phía bà Á không thừa nhận và cũng không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho vấn đề này, nên không có cơ sở để xác định lời làm chứng của ông Huỳnh Văn M là sự thật.
[4] Căn cứ vào ghi nhận thực tế và lời trình bày của các bên xác định được toàn bộ phần đất tranh chấp do gia đình bà Á quản lý và sử dụng từ trước cho đến nay và đã có đầu tư và cải tạo đất công khai, thời gian dài. Ông H đã xây cất nhà để ở, trồng nhiều cây trồng trên đất và đào mương thoát nước để canh tác vuông và gia đình ông Đ, bà B1 đều biết rõ nhưng không phản đối. Bà B1 xác định toàn bộ phần đất tranh chấp là do gia đình bà B1 cho mượn, bên phía bà Á không thừa nhận và bà B1 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh phần đất tranh chấp là cho mượn, nên không có cơ sở để xem xét chấp nhận theo lời trình bày của bà B1.
[5] Căn cứ vào thực tế quá trình quản lý, sử dụng đất và diện tích đất thực tế gia đình bà Á đang quản lý và sử dụng so với diện tích đất mà ông K1 được cấp theo GCNQSDĐ thì có cơ sở để xác định toàn bộ phần đất tranh chấp có diện tích 509,7 m² là thuộc QSDĐ theo GCNQSDĐ cấp cho hộ ông Trần Văn K1.
[6] Tại đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu công nhận ½ bờ ranh đất tiếp giáp với ông Huỳnh Văn Đ chiều ngang khoảng 2m, dài khoảng 74m. Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp ½ bờ đất. Như vậy nguyên đơn và bị đơn tranh chấp ranh giới liền kề phần bờ chung.
Căn cứ vào bản đo vẽ ngày 24/4/2024 của Công ty TNHH T7 thì tổng diện tích phần đất theo đo đạc tranh chấp là 612,6m². Trong đó có phần đất thửa 2b diện tích 509,7m² là của nguyên đơn đã sử dụng từ lâu trong đó có con mương. Phần đất thửa 2a diện tích 101,9m² là bờ đất đã được các bên cắm trụ đá. Tại các điểm M11, M12, M13, M14, M15 là các trụ đá đã được cắm năm 2007 đến nay.
Án sơ thẩm công nhận phần đất 509,7m² của bà Trương Ngọc Á1 là không cần thiết, bởi vì bà Á1 không yêu cầu phần này, phần này đã thuộc quyền quản lý sử dụng của bà Á1 từ năm 2007 đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là ông Đ cho là tranh chấp phần đất của ông diện tích 509,7m². Ông Đ cho là trước đây có cho gia đình bà Á1 mượn để đào con mương sổ nước nhưng việc cho mượn hoàn toàn không có chứng từ, tài liệu chứng minh việc này. Phần đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Á1 diện tích lớn hơn diện tích của ông Đ và hoàn toàn có điều kiện để đào mương thì vì sao phải mượn đất ông Đ để đào mương.
Trong quá trình đo đạc phần đất của cả hai bên đều bị thiếu. Bị đơn cho là phần con mương là của bị đơn cho nguyên đơn mượn đất để đào làm con mương số nước, nhưng không có chứng cứ tài liệu chứng minh việc này. Bị đơn cũng không có đơn phản tố hay nộp án phí phản tố đối với phần đất 509,7m². Hơn nữa nguyên đơn khởi kiện chia ½ bờ đất ranh giới của các bên, thì con mương và phần đất 509,7m² đã thuộc về quyền quản lý của nguyên đơn.
Án sơ thẩm lại công nhận cho nguyên đơn diện tích 509,7m² là chưa đúng với tranh chấp và cách tuyên. Vì thực chất nguyên đơn và bị đơn tranh chấp phần bờ đất chung, khi đo đạc bị đơn mới cho là phần đất 509,7m² của bị đơn. Căn cứ vào bản vẽ của Công ty T7 ngày 24/4/2024 phần đất tranh chấp giữa các đương sự được xác định là bờ đất, trên bờ đất có các trụ đá là điểm M11, M12, M13, M14, M15 diện tích 101.9m² là 1/2 bờ đất, là ranh giới cột mốc cắm trên bờ đất. Hiện nay bờ đất hai bên đang sử dụng chung. Đây là ranh giới giữa hai bên.
Như vậy không cần thiết phải tuyên công nhận phần đất 509,7m² của nguyên đơn mà chỉ cần buộc bị đơn trả cho nguyên đơn 1/2 phần bờ đất diện tích 101,9m² từ các điểm M11, M12, M13, M14, M15 tại ấp C, xã P, huyện T. Do đó cấp phúc thẩm chỉ cần điều chỉnh cách tuyên cho rõ ràng, phù hợp với yêu cầu của nguyên đơn.
[7] Từ những phân tích trên, bản án sơ thẩm tuyên xử là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật. Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Huỳnh Văn Đ. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 133/2024/DS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
[8] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là phù hợp với các phân tích trên nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[9] Chi phí tố tụng: Buộc bị đơn ông Huỳnh Văn Đ hoàn trả cho nguyên đơn bà Trương Thị Á số tiền 11.200.000 đồng.
[10] Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Huỳnh Văn Đ phải chịu án phí không có giá ngạch là 300.000 đồng (Chưa nộp). Nguyên đơn bà Trương Thị Á thuộc trường hợp được miễn dự nộp tạm ứng án phí và án phí theo quy định.
[11] Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Huỳnh Văn Đ phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Huỳnh Văn Đ.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 133/2024/DS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Ánh .
Buộc ông Huỳnh Văn Đ trả cho bà Trương Thị Á phần đất ½ bờ đất diện tích 101,9 m² tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau, theo bản vẽ là thửa đất số 2a, từ các điểm M11,M12,M13,M14,M15 theo trụ đá (Theo bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 24/4/2024 của Chi nhánh công ty TNHH T7 tại Cà Mau (kèm theo)).
2. Chi phí tố tụng: Buộc bị đơn ông Huỳnh Văn Đ hoàn trả cho nguyên đơn bà Trương Thị Á số tiền 11.200.000 đồng.
3. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Huỳnh Văn Đ phải chịu án phí không có giá ngạch là 300.000 đồng (Chưa nộp).
Nguyên đơn bà Trương Thị Á thuộc trường hợp được miễn dự nộp tạm ứng án phí và án phí theo quy định.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Huỳnh Văn Đ phải chịu 300.000 đồng. Ngày 03/6/2024, ông Đ đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005083 tại Chi cục Thi hành dân sự huyện T được chuyển thu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Hùng Quang |
Bản án số 340/2024/DS-PT ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 340/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
