Hệ thống pháp luật

TAND QUẬN N

THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 340/2024/HNGĐ-ST

Ngày 30/7/2024

“V/v: Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn V
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc S và ông Vương Đình Q
  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Chu Bích T
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Hoàng T – Kiểm sát viên.

Trong ngày 30/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N, thành phố H, mở phiên tòa công khai, xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 122/2024/TLST-HNGĐ ngày 21/3/2024, về việc “Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QÐST-HNGĐ ngày 24/6/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thu H, sinh năm 1982 - Có mặt

Bị đơn: Anh Hoàng M, sinh năm 1977 - Vắng mặt

Cùng ĐKNKTT: số 18 ngách 8/11/36/71 đường L, tổ dân phố số E, phường P, Q N, Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn – Chị Nguyễn Thu H trình bày: Chị kết hôn với anh M vào năm 2005 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và tuân thủ đầy đủ điều kiện kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, các mối quan hệ giữa hai bên không có sự thấu hiểu. Anh, chị thường xuyên cãi nhau, khoảng tháng 8/2009 anh M đánh chửi chị làm chị bị bấm tím tay chân và đầu. Tuy nhiên, chị H không đi khám thương tích tại bệnh viện, chị cố gắng chịu đựng. Chị thấy cuộc sống chung của vợ chồng rất áp lực cả về sức khỏe và tinh thần mà không biết chia sẻ với ai. kể từ thời gian đó chị xác định không còn tình cảm với anh M. Vì các con còn nhỏ nên chị H cố gắng chịu đựng thêm để nuôi dậy các con và làm ăn kinh tế. Sức chịu đựng của chị có giới hạn mà mâu thuẫn vợ chồng vẫn thường xuyên xảy ra. Đến năm 2010 và năm 2013 anh M tiếp tục đánh chửi chị, có những lời nói xúc phạm chị. Chị không nghĩ anh M lại đối xử tệ với chị như vậy, không có sự tôn trọng nhau. Chị rất buồn và suy nghĩ nhiều dẫn đến

trầm cảm và phải đi điều trị tâm lý mất một thời gian. Bản thân chị chỉ mong muốn được sống yên ổn, hạnh phúc như bao gia đình khác để cùng nhau nuôi dậy con cái trưởng thành nhưng điều này quá khó với chị. Anh M thường xuyên vắng nhà, tối anh mới về để ngủ, giữa hai bên anh chị không nói chuyện với nhau, anh M cũng không chu cấp tiền nuôi các con, toàn bộ kinh tế, chăm sóc các con là do chị H lo lắng.

Năm 2017, mẹ chị là bà Nguyễn Thị L lên sống cùng chị để giúp chị chăm sóc các cháu, lo cơm nước làm các việc nhà giúp chị để chị đi làm kiếm tiền nuôi các con. Kể từ lúc mẹ chị sống cùng, anh M không đánh chị nữa và có đưa tiền cho mẹ chị để hỗ trợ đóng góp một phần nuôi con. Giữa chị và anh M mặc dù sống chung một nhà nhưng việc ai người ấy làm, không ai nói chuyện với ai, anh M cũng không quan tâm hỏi han đến các con như thế nào. Chị H có nói chuyện về việc vợ chồng không còn tình cảm thì cùng nhau làm đơn thuận tình ly hôn nhưng anh M không có ý kiến gì. Chị H xác định chị không còn tình cảm với anh M và chị cảm nhận anh M cũng không còn tình cảm với chị. Anh chị ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Chị H đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh M vì nếu còn tiếp tục cuộc hôn nhân này thì chị chỉ thấy cuộc sống bế tắc và không an toàn về sức khoẻ dẫn tới ảnh hưởng công việc của chị. Chị H cũng đề nghị Toà án không hoà giải để anh chị đoàn tụ với nhau.

Về con chung: Anh chị có 2 con chung là Hoàng M1, sinh ngày 16/8/2006 và Hoàng Gia L1, sinh ngày 01/8/2011. Hiện nay các con đang ở cùng chị H, chị đề nghị toà giải quyết cho chị được nuôi cả hai con để tránh làm xáo trộn cuộc sống và việc học tập của các con. Hiện nay công việc của chị là kinh doanh tự do, mức thu nhập hàng tháng trung bình khoảng 30.000.000đ/tháng.

Do chị không có tài liệu chứng cứ về công việc của anh M, không rõ mức thu nhập của anh M nên chị không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn – Anh Hoàng M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn không có mặt, không có lý do.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh M. Chị H xin được nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, công nợ, chị H không yêu cầu giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát quận N phát biểu: Thẩm phán đã tiến hành đúng thủ tục tố tụng theo quy định của BLTTDS, đảm bảo quy định của pháp luật trong cả quá trình từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật; Bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh M. Cho chị H được ly hôn với anh M.

Về con chung: Anh chị có 2 con chung là Hoàng M1, sinh ngày 16/8/2006 và Hoàng Gia L1, sinh ngày 01/8/2011. Giao cả 2 con chung cho chị H nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh M khi có yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn tại Tòa án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Nguyễn Thu H khởi kiện về việc xin ly hôn với anh Hoàng M. Tại thời điểm chị H gửi đơn khởi kiện, chị H và anh M đều đang cư trú tại quận N, Hà Nội nên Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết bị đơn được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt, HĐXX căn cứ Điều 227 BLTTDS xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung: Chị Nguyễn Thu H và anh Hoàng M kết hôn vào năm 2005, việc kết hôn là tự nguyện, có đăng ký kết hôn và tuân thủ đầy đủ về điều kiện kết hôn nên xác định là hôn nhân hợp pháp.

Xét đơn ly hôn của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ, lời khai do nguyên đơn cung cấp và trình bày thể hiện: Vợ chồng kết hôn và chung sống cùng nhau từ năm 2005. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, mối quan hệ giữa hai bên, không có sự thấu hiểu, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Anh M có đánh chị H khiến chị bị thâm tím tay chân và đầu, chị H cố gắng chịu đựng vì gia đình con cái. Tuy nhiên, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, năm 2010 và 2013 anh M liên tục đánh, chửi chị H, hai bên không có sự tôn trọng lẫn nhau. Sự việc khiến chị H phải đi điều trị tâm lý, vợ chồng không ai nói chuyện với ai và sống ly thân từ 2015 cho đến nay. Chị H xác định không còn tình cảm với anh M, hôn nhân giữa hai người chỉ tồn tại trên giấy tờ, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh M.

Về phía anh M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhựng anh đều vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, anh M không có ý kiến gì về yêu cầu ly hôn của chị H, anh M cũng không có mặt tại các buổi hòa giải, chứng tỏ anh không có thiện chí để Tòa án hòa giải, vợ chồng về đoàn tụ với nhau. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh M đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân chỉ tồn tại trên hình thức nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân giữa hai người cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do vậy, cần chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị H.

Về con chung: Chị H và anh M có 2 con chung là Hoàng M1, sinh ngày 16/8/2006 và Hoàng Gia L1, sinh ngày 01/8/2011, nay chị H có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng cả 02 con chung. Cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu giải quyết. Anh M không có mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nên Tòa án không biết được nguyện vọng của anh về nuôi con hay không, khả năng nuôi con thế nào. Ngoài ra, cả 2 con chung đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi của các con cần tiếp tục giao 02 con chung cho chị H tực tiếp nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con chưa xem xét giải quyết do các bên đương sự không có yêu cầu.

Về tài sản chung, công nợ và các quan hệ khác phát sinh từ quan hệ hôn nhân giữa chị H, anh M do các đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Các Điều 28, 147 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thu H. Cho chị Nguyễn Thu H được ly hôn anh Hoàng M.

Về con chung: Giao 02 con chung là Hoàng M1, sinh ngày 16/8/2006 và Hoàng Gia L1, sinh ngày 01/8/2011 cho chị Nguyễn Thu H trực tiếp nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con không xem xét do các đương sự không yêu cầu.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở.

Về tài sản chung, công nợ và các quan hệ khác phát sinh từ quan hệ hôn nhân giữa chị H, anh M do các bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thu H phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009457 ngày 20/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận N. Chị H được khấu trừ vào tiền án phí mà chị phải nộp.

Đương sự có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố H;
  • - VKSND Q. Nam Từ Liêm;
  • - Chi cục THADS Q. Nam Từ Liêm;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường. Thanh Sơn, TP. Uông Bí, Quảng Ninh.
  • - Lưu hồ sơ, VP.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn V

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 340/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H về ly hôn

  • Số bản án: 340/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn Hà - Mạnh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger