|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 340/2024/DS-PT
Ngày 26-7-2024
V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Giang.
Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thanh Minh Châu;
Bà Dương Thúy Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gọn - Kiểm sát viên.
Ngày 22 và 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 443/2023/TLPT-DS ngày 03 tháng 11 năm 2023 về việc tranh chấp “Đòi lại tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 89/2023/DS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 89/2024/QĐPT-DS ngày 07 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1948; Địa chỉ: Ô, khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phùng Văn Đ, sinh năm 1981; Địa chỉ: Ấp L, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. (theo văn bản ủy quyền ngày 22-7-2022). (có mặt)
- Bị đơn: Ông Thái Nhựt H, sinh năm 1977; Địa chỉ: A, khu phố N, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Đặng Tấn L – Văn phòng L8 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thanh Q, sinh năm 1979; Địa chỉ: A, khu phố N, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị D
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 22-7-2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Bà Nguyễn Thị D và ông Thái Quang G (chết năm 2021) kết hôn từ năm 1972, không có con chung.
Vào ngày 08-3-2021, bà D và ông G nhập viện tại Bệnh viện X, huyện G, tỉnh Tây Ninh nên có nhờ anh ruột bà D là ông Nguyễn Văn P trông coi nhà cửa.
Ngày 05-4-2021, ông H cùng vài người khác đến Bệnh viện X lấy lý do đưa ông G về dự đám giỗ của bà con bên chồng, mục đích để đưa ông G về nhà. Khi về đến nhà, ông H đã đuổi ông P đi và yêu cầu ông P phải giao chìa khóa phòng của vợ chồng bà D nhưng ông P không đồng ý. Trong nhà bà D lúc này có gắn 06 camera, khi vào nhà ông H đã ngắt hết tất cả hệ thống camera. Do ông P không giao chìa khóa phòng nên ông H và những người đi cùng đã dùng xà beng để phá cửa phòng và phá két sắt lấy đi những tài sản trong thùng sắt gồm: 40 lượng vàng 24K (vàng nhẫn hiệu K, N, Kim H1...) và 06 lượng vàng miếng SJC; 18.000 USD và 1.500 đô Canada; 01 nhẫn vàng 18K 03 chỉ hình con nai màu đen; 01 nhẫn vuông chữ tàu 1,5 chỉ vàng 18 K; 01 nhẫn kim cương 04 ly; 01 vòng tay 06 chỉ vàng 18K có khắc chữ tàu; 01 vòng tay cẩm thạch cẩn 03 chỉ vàng 18K do bà Đoàn Thị V để lại; 01 dây chuyền 02 chỉ 18K mặt cẩm thạch hình trái tim; 300.000.000 đồng tiền Việt Nam; 01 sổ tiết kiệm 5.500.000.000 đồng do bà D đứng tên mở tại Ngân hàng N2 – chi nhánh huyện G.
Tại thời điểm ông H1 chở ông G về nhà và lấy vàng thì ông G không được tỉnh táo do bệnh đang nằm điều trị tại Bệnh viện X, và khi ông H1 lấy tài sản có đưa cho bà Huỳnh Thị H2 xem chứng kiến và ông H1 còn nói rõ những tài sản có trong thùng sắt. Sau đó ông H1 đã thay ổ khóa và đưa ông G trở lại bệnh viện.
Ngày 13-4-2021, bà D xuất viện nhưng không thể vào nhà nên phải ở nhờ nhà ông P cho đến nay. Gia đình bà D và gia đình ông H1 đã nhiều năm không qua lại do có mâu thuẫn nhưng khi biết vợ chồng bà D nằm viện, ông H1 đã tìm cách chiếm đoạt tài sản của bà D và ông G.
Nay bà D yêu cầu ông H1 trả lại toàn bộ tài sản mà ông H1 đã lấy đi gồm: 40 lượng vàng 24K (vàng nhẫn hiệu K, N, Kim H1...) và 06 lượng vàng miếng SJC; 18.000 USD và 1.500 đô Canada; 01 nhẫn vàng 18K 03 chỉ hình con nai màu đen; 01 nhẫn vuông chữ tàu 1,5 chỉ vàng 18 K; 01 nhẫn kim cương 04 ly; 01 vòng tay 06 chỉ vàng 18K có khắc chữ tàu; 01 vòng tay cẩm thạch cẩn 03 chỉ vàng 18K do bà Đoàn Thị V để lại; 01 dây chuyền 02 chỉ 18K mặt cẩm thạch hình trái tim; 300.000.000 đồng tiền Việt Nam. Đối với sổ tiết kiệm 5.500.000.000 đồng, bà D và ông H1 đã giải quyết xong nên không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông Thái Nhựt H trình bày:
Ông là cháu ruột của ông Thái Quang G. Ngày 08-3-2021, ông có nghe ông Thái Thành Q1 thông báo ông G và bà D nhập viện điều trị tại Bệnh viện X nên vợ chồng anh có vào viện để thăm nom và chăm sóc cho ông G. Trong thời gian chăm sóc ông G bà D tại bệnh viện, ông G nhiều lần đề nghị ông đưa về nhà để lấy tiền đóng viện phí. Nên ngày 05-4-2021, vợ chồng ông cùng ông Q1 và ông Thái Nhựt L1 đưa ông G về nhà. Trước khi về đến nhà, ông G có gọi điện thoại nói chuyện với ông P yêu cầu ông P mở cửa. Khi ông cùng với ông G và những người khác về đến nhà thì ông P đã mở cửa sẵn. Ông có kêu ông P mở cửa phòng ông G và mở thùng sắt cho ông G vào nhà lấy tiền (do toàn bộ chìa khóa kể cả chìa khóa thùng sắt cũng do ông P giữ) nhưng ông P không chịu mở nên ông G mới kêu ông và những người đi cùng lấy xà beng cại cửa phòng và phá ổ khóa thùng sắt. Sau khi mở được thì ông có kêu ông P chứng kiến để sau này làm chứng tiền bạc lấy ra bao nhiêu nhưng ông P tự bỏ đi. Sau đó, ông có gọi điện thoại cho công an thị trấn G để nhờ cử người lên làm chứng việc lấy tiền và Công an thị trấn có cử hai người đến nhưng hai người này nói rằng tiền của ông G thì ông G được quyền lấy nên không lập biên bản làm việc và cũng không làm chứng. Sau đó, ông G tự mở cửa phòng và mở thùng sắt để lấy tiền. Ông G chỉ lấy tiền và có đưa cho ông số tiền 100.000.000 đồng tiền mặt để đóng tiền viện phí và lo chi phí nằm viện cho ông G và bà D. Ngoài ông G ra, không có ai đụng đến tài sản có trong thùng sắt. Sau khi lấy tiền đưa cho ông thì ông G yêu cầu ông chở về Bệnh viện. Ông G và bà D nhập viện và xuất viện tại Bệnh viện X rất nhiều lần. Không nhớ vào lần xuất viện khi nào, ông G có đưa cho ông thêm một số tiền và vàng (không nhớ cụ thể bao nhiêu) nhưng tổng cộng khoảng 200.000.000 đồng để ông lo tiền chi phí điều trị và chăm sóc cho ông G và bà D. Tổng cộng, ông G có đưa cho ông 300.000.000 đồng. Ngoài ra, các tài sản mà nguyên đơn trình bày là ông không có nhận và cũng không có lấy.
Trong thời gian ông G, bà D nằm viện ông đã chi trả tiền viện phí, tiền ăn uống, tiền thuê người chăm sóc và các chi phí khác cho ông G, bà D và sau khi ông G chết, ông đã chi trả tiền mai táng, mồ mả cho ông G, làm đám ma không nhận tiền phúng điếu với, tổng các khoản tiền đã chi phí 514.000.000 đồng, vượt số tiền 300.000.000 đồng mà ông G đã đưa cho ông. Đối với số tiền ông đã bỏ ra để lo cho ông G (bác ruột ông), ông không có yêu cầu ai phải thanh toán lại.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh Q trình bày:
Thống nhất với lời trình bày và ý kiến của ông H. Tại văn bản của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu ngày 02-4-2022 và 27-5-2022, đã kết luận “sau khi ông G chết, bà D đã không còn minh mẫn tỉnh táo” nên việc bà D khởi kiện vụ án này là không đúng quy định của pháp luật. Đề nghị làm rõ năng lực hành vi dân sự của bà D khi khởi kiện vụ án. Bà không yêu cầu ai phải thanh toán lại các chi phí mà vợ chồng bà đã chi vượt quá số tiền mà ông G đã giao cho ông H chồng bà. Ngoài ra, bà không bổ sung gì thêm.
Tại bản án Dân sự sơ thẩm số: 89/2023/DS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, đã xử:
Căn cứ vào các Điều 147; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D đối với ông Thái Nhựt H về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản” gồm: 40 lượng vàng 24K (vàng nhẫn hiệu K, N, Kim H1...) và 06 lượng vàng miếng SJC; 18.000 USD và 1.500 đô Canada; 01 nhẫn vàng 18K 03 chỉ hình con nai màu đen; 01 nhẫn vuông chữ tàu 1,5 chỉ vàng 18 K; 01 nhẫn kim cương 04 ly; 01 vòng tay 06 chỉ vàng 18K có khắc chữ tàu; 01 vòng tay cẩm thạch cẩn 03 chỉ vàng 18K do bà Đoàn Thị V để lại; 01 dây chuyền 02 chỉ 18K mặt cẩm thạch hình trái tim; 300.000.000 đồng tiền Việt Nam.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chậm thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.
* Nội dung kháng cáo:
Theo đơn kháng cáo đề ngày 22-8-2023 của bà Nguyễn Thị D: Yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Giữ nguyên kháng cáo, đề nghị sửa bản án theo hướng chấp nhận khởi kiện của bà D, trên cơ sở căn cứ vào lời khai của ông G ngày 04-5-2021; Lời khai của ông H1 vào các ngày 05-5-2021; 21-01-2022; Lời khai của bà Q ngày 17-01-2022; Lời khai của bà C ngày 05-3-2022; Lời khai của bà L2 ngày 10-3-2022.
Bị đơn ông H1 trình bày: Không đồng ý kháng cáo.
Trong phần tranh luận phía đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Đề nghị xem xét chấp nhận khởi kiện của bà D và trong số tài sản khởi kiện có tài sản của bà N, không nhớ chính xác bao nhiêu và 10.000USD của bà L3. Cấp sơ thẩm chưa làm rõ ông H1 bán vàng ở đâu.
Luật sư bảo vệ cho ông H1 bà Q trình bày:
1/. Qua lời khai của ông G bà D trước đây thể hiện ông bà không có mất bất cứ tài sản gì. Tại kết luận không khởi tố vụ án được Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu chấp nhận thể hiện bà D không minh mẫn, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Đơn kháng cáo, đơn khởi kiện của bà D không có căn cứ.
2/. Bà H2 là người giúp việc nên không có trách nhiệm kiểm đếm tài sản cho ông G. Ngày 24-5-2024, bà H2 thừa nhận trong các video bị đơn ghi âm lại và cung cấp cho Tòa cấp phúc thẩm thể hiện bà H2 làm chứng theo sự mua chuộc của bà L3 và bà L3 không có đưa tiền cho bà, từ đó, lời trình bày của Hển tại thừa phát lại là không có giá trị pháp lý.
3/. Trước đây ông P, ông G có đơn tố cáo đã rút đơn, khẳng định ông bà không có tố cáo ai.
4/. Bà L3 có rút tiền đưa cho ông G bà D cất giữ thì không có chứng cứ thể hiện giao tài sản cho vợ chồng ông G. Đối với bà N cũng vậy không có chứng cứ giao tài sản.
Ông H1 bà Q: Không ý kiến bổ sung.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa: Thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa phúc thẩm dân sự.
- - Về việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng: Các đương sự đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
- - Về nội dung:Tại cấp phúc thẩm phía nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo. Đề nghị, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của các đương sự, của luật sư, của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22-8-2023 nguyên đơn bà Nguyễn Thị D có đơn kháng cáo, qua xem xét trình tự, thủ tục kháng cáo phù hợp các Điều 271; Điều 272; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.1] Giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Thanh L4 là cháu gọi nguyên đơn (bà D) là dì ruột, bà Nguyễn Thị N1 là chị ruột bà D khiếu nại liên tục, gay gắt cho rằng phải xử lý hình sự đối với bị đơn Thái Nhựt H và 1 số người khác đã vào nhà ông G, bà D cạy thùng sắt lấy tài sản, Công an huyện G có nhiều sai sót trong quá trình xử lý tin báo tội phạm đối với đơn của bà L4, bản án dân sự của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu có nhiều vi phạm vì trong số tài sản trên có 10.000 USD là của bà L4 gửi cho bà D; 8.500 USD và 1.500 tiền Canada là của bà N1 gửi cho bà D mà không đưa các bà vào tham gia giải quyết vụ án đề nghị hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ sang công an xử lý hình sự. Với khiếu nại này, qua xem xét, nghiên cứu hồ sơ vụ án; qua xác minh thu thập thông tin tài liệu bổ sung tại cấp phúc thẩm có liên quan đến đơn khiếu nại của bà L4, bà N1. Thấy rằng: - Về việc yêu cầu chuyển hồ sơ vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra để khởi tố, xử lý hình sự đối với ông H và những người giúp sức: Vấn đề này đã được Công an huyện G, tỉnh Tây Ninh giải quyết và ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 22/QĐ-ĐTHS ngày 02-4-2022 và Quyết định số 24/TB-VKSGD ngày 07-4-2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh về việc kiểm sát Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, có nội dung: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, tỉnh Tây Ninh đã ra Quyết định không khởi tố vụ án là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Tại Quyết định số: 482/QĐ-CSHS ngày 17-3-2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, tỉnh Tây Ninh về giải quyết tố cáo theo đơn tố cáo của bà Trần Thị Thanh L5 tố cáo hành vi của người tiến hành tố tụng trong quá trình xử lý tin báo.
[1.2] Mặt khác, tại thời điểm lấy tài sản vào ngày 05-4-2021 tại nhà ông G thì ngày 23-4-2021 ông P đã có đơn tố cáo và ông P đã rút đơn tố cáo, sau đó, Công an thị trấn G đã thụ lý giải quyết trả lời tố cáo nhiều lần vì có 1 số đối tượng (Luật sư, đại diện ủy quyền tham gia khởi kiện dân sự, tham gia ủy quyền để đi tố cáo thay cho bà D), Công an thị trấn G có văn bản số 13 ngày 11-6-2021 trả lời cho khiếu nại của bà D có người đại diện là ông Nguyễn Phi L6.
[1.3] Tại cấp phúc thẩm bà L5 tiếp tục khiếu nại tố cáo hành vi của Công an huyện G vi phạm pháp luật. Đã được Công an huyện G giải quyết tại Quyết định số 482 ngày 17-3-2024.
[1.4] Tại biên bản xác minh ngày 23-7-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, thể hiện: bà Nguyễn Thị D có đăng ký hộ khẩu tại khu phố T, thị trấn G, hiện tại không còn sinh sống tại địa chỉ trên mà đang sinh sống ở nhà họ hàng. Như vậy, về thủ tục khởi kiện và ủy quyền hiện tại thời điểm khởi kiện là phù hợp pháp luật.
[1.5] Đối với khiếu nại của bà L5, bà N1 cho rằng trong số tài sản bà D khởi kiện có tiền của bà L5 là 10.000 USD và của bà N1 là 8.500 USD và 1.500 tiền Canada mà mẹ con bà L5 gửi cho bà D, đã bị ông H lấy hết, yêu cầu có trách nhiệm trả lại nhưng Tòa Gò Dầu không đưa 2 bà tham gia tố tụng. Thấy rằng; Tại biên bản ghi lời khai bà Nguyễn Thị Thanh L4 ngày 25-02-2022 tại công an huyện G, bà L4 khai: “Hỏi: Số tiền vàng trong đơn tố cáo bị lấy đi thì có giấy tờ hay tài liệu gì chứng minh không? – Đáp: Số tài sản gồm tiền, vàng thì không có giấy tờ hay tài liệu gì chứng minh, còn sổ tiết kiệm 5,5 tỷ đồng thì do H giữ.... Tiền viện phí của bà D, chi phí thuê người chăm sóc ông G bà D tổng cộng 70.000.000 đồng là do tôi gửi tiền về chi trả, phần viện phí của ông G là do ông H (cháu ông G) chi trả trên 95.000.000 đồng, còn lại chi thuê 3 người chăm sóc là bà L2, bà H2 và bà C”. Xét việc khiếu nại của bà L4 ngoài lời trình bày ra không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho số tài sản trên đã giao cho bà D, mặt khác chồng bà D là ông G xác định tại biên bản làm việc với công an huyện G vào ngày 04-5-2021 có nội dung: “ Tài sản trên là tài sản chung của tôi và bà Nguyễn Thị D”. Như vậy, nếu có tài sản của bà L4 gửi cho bà D thì quan hệ gửi giữ tài sản giữa bà L4 và bà D sẽ được giải quyết trong vụ kiện khác khi có yêu cầu. Tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà L4, bà N1 tham gia tố tụng là có căn cứ.
[2] Về nội dung: Bà D kháng cáo và người đại diện theo ủy quyền trình bày kháng cáo như sau: Yêu cầu buộc bị đơn H trả lại các loại tài sản gồm tiền Việt Nam, vàng SJC, vàng 24k, 18k, tiền USD; tiền Canada. Tạm ước tính là 3.000.000.000 đồng. Trên cơ sở sau:
Ngày 08-3-2021 vợ chồng bà D nằm viện tại bệnh viện X, trong lúc điều trị bệnh, bị đơn H có dụ dỗ và lén lút chở ông G (chồng bà D) về nhà cạy thùng sắt lấy số tiền vàng trên vào ngày 05-4-2021. Nay yêu cầu H trả lại.
Phía bị đơn ông H: Không đồng ý kháng cáo, vì khi ông G bà D, nằm viện, có yêu cầu vợ chồng bị đơn chở ông G về nhà lấy tiền để trả tiền viện phí, tại thời điểm ngày 05-4-2021 ông G đưa cho ông khoảng 100.000.000 đồng tiền mặt, sau đó bán vàng thì tiền bán vàng khoảng 200.000.000 đồng, tổng cộng ông nhận khoảng 300.000.000 đồng, ông đã trả tiền viện phí nhiều lần, tiền ăn uống bồi dưỡng, tiền thuê người chăm sóc..., khi ông G chết vào ngày 11-7-2021, vợ chồng ông đứng ra chi phí mai táng, mồ mả, không lấy tiền phúng điếu ... các chi phí khác, tổng cộng chi 514.000.000 đồng, nhiều hơn số tiền đã nhận từ ông G. Các bên đương sự có tranh chấp về số tài sản lấy tại nhà ông G vào ngày 05-4-2021. Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật giải quyết trong vụ án này là “Đòi lại tài sản” theo Điều 166 của Bộ luật Dân sự là có căn cứ.
[3] Xét kháng cáo của bà D, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[3.1] Về hoàn cảnh sinh sống của bà D ông G: Ông G bà D là vợ chồng, không có con chung, không có con riêng, không có con nuôi, do tuổi cao, sức khỏe kém, quá trình sinh sống tại địa phương có thuê người làm chăm sóc, ăn uống, dọn dẹp nhà cửa, những lần nằm viện có các cháu chăm sóc và thuê nuôi.... Quan tâm đến cuộc sống của ông bà là các cháu hai bên, bị đơn ông H là cháu ruột gọi ông G là bác, bà L4 là cháu ruột gọi bà D là dì, cả hai người là chủ yếu đứng ra chăm lo, thuê người chăm sóc cho ông G, bà D. Vào ngày 08-3-2021 ông bà nằm viện là có thật, thời điểm này bà L4 đang sinh sống tại Mỹ, trực tiếp là ông H chăm lo, và việc thanh toán viện phí thể hiện ông H chi trả.
[3.2] Xem xét việc ông G giao tiền, vàng cho ông H có bị dụ dỗ, ép buộc không, thấy rằng:
Ngày 05-4-2021, ông G có yêu cầu ông H đưa về nhà để lấy tiền trả tiền viện phí, có chứng cứ thể hiện qua lời khai của ông P là anh ruột của bà D, lời khai của bà Võ Thị Diệu L7 là người làm thuê cho vợ chồng ông G bà D..., cụ thể: tại BL 212 biên bản ghi lời khai ngày 24-2-2022 đối với ông Nguyễn Văn P (anh ruột bà D) khai như sau: “Trong thời gian điều trị tại bệnh viện X thì tôi có nghe ông G nói là đưa ông G về nhà để lấy tiền trả tiền viện phí... lúc đó có cháu ông G, tôi, vợ chồng ông G và 2 người giúp việc... cháu ông G là vợ chồng ông H”; tại biên bản ghi lời khai ngày 10-3-2022 tại Công an huyện G bà Võ Thị Diệu L7 khai như sau: “ Tôi có nghe ông G nói với bà D về việc lấy tiền trong nhà để lo cho ông G bà D, bà D không có phản đối gì...”; Lời khai của bà Võ Thị Diệu L7 (BL 289 ngày 25-7-2023) có nội dung: “ Tôi được thuê chăm sóc ông G bà D do bà L4 thuê... Lúc này tôi đang chăm sóc cho ông G tại bệnh viện, tôi nghe ông G nói với anh H “ mày chở tao về để lấy tiền đi, chứ tiền đâu mày lo cho tao”, tôi nghe nói lấy tiền và vàng còn bao nhiêu thì tôi không biết”. Như vậy, lời khai của ông P phù hợp với lời khai của bà L7, phù hợp với lời khai của ông H, ông L1... về việc có cùng ông G về nhà lấy tiền, vàng để trả tiền viện phí của ông G bà D, bà D biết việc này và không có phản ứng. Do đó, không có căn cứ nào thể hiện ông G bị ép buộc, dụ dỗ.
[4] Đối với đoạn video bà Q quay vào ngày 05-4-2021 tại phiên tòa bà trình bày đã giao nộp cho cơ quan Công an huyện G và bà L7 khai tại biên bản ngày 10-3-2022 về video như sau: “tôi có xem đoạn video khi mở thùng tiền vàng bên trong có tiền đola mỹ, tiền P1 (vàng là vàng thẻ) đoạn video chỉ lướt qua không quay kỷ người cho tôi xem đoạn video này chị Q (vợ H)”. Với chứng cứ này cũng không có căn cứ xác định chính xác về tài sản của ông G bà D.
[5] Xét về số tiền, vàng chính xác mà ông G bà D có được; và số tiền, vàng chính xác mà ông G giao cho ông H, Hội đồng xét xử, thấy rằng: Theo đơn khởi kiện yêu cầu ông H phải trả 40 lượng vàng 24k (vàng nhẫn hiệu K, N, Kim H1 ...), 06 lượng vàng miếng SJC, 18.000USD, 1.500 đô Canada, 01 nhẫn vàng 18k trọng lượng 3 chỉ hình con nai màu đen, 01 nhẫn vuông chữ tàu 1,5 chỉ vàng 18k, 01 nhẫn kim cương 04 ly, 01 vòng tay 06 chỉ vàng 18k có khắc chữ tàu, 01 vòng tay cẩm thạch cẩn 3 chỉ vàng 24k, 01 dây chuyền 02 chỉ 18k, mặt cẩm thạch hình trái tim, 300.000.000 đồng tiền Việt Nam. Quá trình giải quyết vụ án đến thời điểm hiện nay phía nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ, giấy tờ thể hiện bà D, ông G sở hữu toàn bộ số tài sản trên. Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ông H1 trình bày tại phiên tòa xác định ông H1 có nhận tiền và vàng của ông G giao vào ngày 05-4-2021 trị giá khoảng 300.000.000 đồng, không nhớ chính xác, thực tế ông H1 đã chi viện phí, chi phí mai táng ...
[5.1] Quá trình làm việc thể hiện, tại biên bản làm việc của Công an huyện G với ông G vào ngày 04-5-2021 có nội dung: “ Tài sản trên là tài sản chung của tôi và bà Nguyễn Thị D... Hiện tại số tài sản trên tôi đã giao lại cho cháu ruột tên H1 đại diện quản lý, cất giữ và có sự chứng kiến của dòng họ bên tôi, số tài trên chỉ có tôi và bà D biết”. Như vậy, với nội dung trên cũng không xác định cụ thể ông G đã giao cho ông H1 chính xác là bao nhiêu tiền, vàng.
[5.2] Đối với lời khai của bà Huỳnh Thị H2: là người chăm sóc ông G bà D đã lập vi bằng vào ngày 05-7-2022 thì tại cấp phúc thẩm, phía ông H1 cung cấp nội dung ghi âm của bà H2 thể hiện: “ tui có thấy cậu H1 cầm 3 sâu vàng mà trong 3 sâu vàng đó không biết bao nhiêu, còn tiền bạc tui thấy thiệt nhưng mà cũng không biết bao nhiêu, ... tôi không biết công ty thừa phát lại gì hết trơn...” với lời trình bày của bà H2 cũng không xác định được chính xác số tiền, vàng tại nhà ông G vào ngày 05-4-2021. Do đó, không có tài liệu, chứng cứ xác định ông G đã đưa cho ông H1 bao nhiêu tiền, vàng.
[6] Xét ý chí, ý thức định đoạt tài sản của bà D ông G ngay sau khi xảy ra sự việc về nhà lấy tiền, vàng thanh toán tiền viện phí, thấy rằng:
Tại biên bản làm việc ngày 15-5-2021 ( 01 tháng 10 ngày sau) của Công an thị trấn G đối với bà D ( BL136) thể hiện: “Hiện tại tôi không có mâu thuẫn hay thưa kiện vấn đề gì với ai... tôi không có viết đơn thưa hay ủy quyền gì cho aỉ” và biên bản làm việc ngày 17-5-2021 (BL 131, 132) thể hiện : “ Hiện tại tôi không có thưa kiện T, Thái Q2 hay ai khác... Hiện tài sản của tôi không bị mất, cũng không thắc mắc thưa kiện gì”; BL 130 ngày ngày 17-5-2021 ông G khai: “ hiện tại tài sản của vợ chồng tôi, tôi không có thắc mắc hay thưa kiện tố cáo gì... ngày 05-4-2021 khi cháu tôi là H1 có chở tôi về nhà để lấy tiền, lúc lấy tiền có mặt tôi, lấy tiền để trả tiền thuốc và viện phỉ”. Tại BL 134 biên bản làm việc với ông Nguyễn Văn P có nội dung : “Ngày 15-5-2021 tôi trực tiếp cùng với chính quyền địa phương chứng kiến công an thị trấn G làm việc với ông G bà D, quá trình làm việc ông G bà D nghe biết những câu hỏi của công an và tự trả lời những câu hỏi của công an, không có ai ép buộc ông G bà D, ông G bà D già yếu nhưng vẫn còn minh mẫn”. Như vậy, lời khai trên của ông G bà D là có giá trị pháp lý. Toàn bộ các lời khai thể hiện sự tự nguyện giao tiền cho ông H1 để chi trả tiền thuê người chăm sóc và viện phí, cũng không thể số tiền, vàng cụ thể là bao nhiêu.
[6.1] Xem xét tổng hợp các tài liệu về việc giao nhận tiền, vàng xảy ra tại nhà ông G vào ngày 05-4-2021: Sau khi được các cháu đưa về nhà, ông G yêu cầu ông P (anh ruột bà D, giữ chìa khóa nhà, phòng ngủ) đưa chìa khóa để mở phòng vào mở thùng sắt lấy tiền trả tiền viện phí nhưng ông P không đưa mà bỏ đi nơi khác, nên ông G yêu cầu bị đơn H1 dùng xà peng cạy khóa phòng và khóa thùng sắt để lấy tiền, vàng. Sau khi cạy xong ông G lấy tiền, vàng đưa cho ông H1 là có thật. Nhưng toàn bộ lời khai ông G không thể hiện chính xác là đã đưa cho ông H1 bao nhiêu tiền, bao nhiêu vàng. Tài liệu có trong hồ sơ vụ án không thể hiện được chính xác ông G đã đưa cho ông H1 bao nhiêu tiền. Ông H1 thừa nhận có nhận tiền, vàng khoảng 300.000.000 đồng và đã chi nhiều hơn.
Như vậy, có căn cứ xác định ông G đưa tiền vàng cho ông H1 nhưng không xác định được chính xác là bao nhiêu. Thực tế, sau khi nhận tài sản ông H1 có chi phí thực tế theo chứng từ ông H1 giao nộp gồm: Tiền chi phí cho việc thuê người chăm sóc cho ông G bà D, tiền tả sửa, tiền chợ đám tang, chi phí bệnh viện, chi phí đám tang... tổng cộng 486.295.000 đồng. Phía nguyên đơn cho rằng ông H1 đã lấy toàn bộ tài sản trên theo đơn khởi kiện tạm ước tính khoảng 3.000.000.000 đồng nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh.
[7] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh là có căn cứ pháp lý. Do đó, không có căn cứ chấp nhận cáo của nguyên đơn.
[8] Về án phí: Bà D trên 60 tuổi và có đơn xin miễn án phí, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bà D được miễn án phí Dân sự sơ thẩm, miễn án phí Dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị D
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 89/2023/DS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ vào các điều 147, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D đối với ông Thái Nhựt H về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản” gồm: 40 lượng vàng 24K (vàng nhẫn hiệu K, N, Kim H1...) và 06 lượng vàng miếng SJC; 18.000 USD và 1.500 đô Canada; 01 nhẫn vàng 18K 03 chỉ hình con nai màu đen; 01 nhẫn vuông chữ tàu 1,5 chỉ vàng 18 K; 01 nhẫn kim cương 04 ly; 01 vòng tay 06 chỉ vàng 18K có khắc chữ tàu; 01 vòng tay cẩm thạch cẩn 03 chỉ vàng 18K do bà Đoàn Thị V để lại; 01 dây chuyền 02 chỉ 18K mặt cẩm thạch hình trái tim; 300.000.000 đồng tiền Việt Nam.
2. Về án phí sơ thẩm, phúc thẩm: Bà D được miễn nộp án phí.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận: -TAND Tối cao Hà Nội - Vụ giám đốc kiểm tra. Vụ 2 - TAND Cấp cao - VKSND Cấp cao - VKSND tỉnh; - TAND TX TB,TN.; - Chi cục Thi hành án dân sự TX TB,TN; - Phòng KTNV; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Giang |
Bản án số 340/2024/DS-PT ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp về đòi lại tài sản
- Số bản án: 340/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: đòi tài sản
