Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 340/2025/HS-ST

Ngày: 28/5/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thúy Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thanh Bình;
  2. Ông Phạm Bá Chương;

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bình Minh- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H- Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 244/2025/TLST- HS ngày 16 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 311/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025 và Thông báo dời ngày xét xử số /2025/TB-TA ngày 22 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:

1/ Nguyễn Minh T (tên gọi khác: Khả D), sinh năm: 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: B Â, khu phố A, phường C, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện tại: không có nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam (tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã chuyển giới thành Nữ); tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn L và bà: Nguyễn Thị G; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; tiền sự: không;

Tiền án: 01- Bản án số 161/2022/HS-ST ngày 25/4/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/02/2023; chưa chấp hành án phí HSST 200.000 đồng;

Nhân thân:

  • Ngày 10/10/2023, Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định đình chỉ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 476/2023/QĐ- TA đối với Nguyễn Minh T, lý do Phòng L5 rút đề nghị;
  • Ngày 03/8/2014, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 07/12/2015, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều tra bị can đối với bị cáo;
  • Bản án số 323/2017/HSST ngày 30/11/2017 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trài phép chất ma túy”; ngày 07/3/2019, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù; ngày 15/3/2018 đã nộp 200.000 đồng án phí HSST;

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/02/2024 đến nay;

(bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2/ Trần Văn L1 (tên gọi khác: Chăm L2), sinh năm: 1970 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: số G, N, khu phố A, phường I, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 01/12 (biết ký tên và ghi họ tên); dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: P (chết) và bà: Trần Thị S (chết); hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; tiền sự: không;

Tiền án: 01- Bản án số 293/2010/HSST ngày 23/9/2010 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 tính từ ngày tuyên án 23/9/2010; ngày 01/9/2011, bị cáo đã đóng 200.000 đồng án phí HSST; ngày 01/9/2011, bị cáo đóng 500.000 đồng tiền phạt; ngày 01/10/2012, bị cáo đã đóng 1.500.000 đồng tiền phạt, còn 1.000.000 đồng tiền phạt và lãi chậm thi hành án, bị cáo chưa đóng;

Nhân thân: Bản án số 328/2016/HSST ngày 17/8/2016 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Đánh bạc”; ngày 29/7/2017, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù; ngày 25/5/2017, bị cáo đã đóng 200.000 đồng án phí HSST;

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/02/2024 đến nay;

(có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Ông Gábor L3, sinh năm: 1982; quốc tịch: Hunggary;

Hộ chiếu số: AC0335230;

Nơi cư trú: Nhà số D, đường M, Khu dân cư A, số C T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Hộ kinh doanh Cửa hàng Đ2;

Địa điểm kinh doanh: 76 P, phường A. Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh;

  • Đại diện Hộ gia đình: Ông Lâm Phi H1, sinh năm: 1989;

Địa chỉ: G P, phường A. Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh;

(vắng mặt tại phiên tòa);

  • Anh Cao Xuân T1, sinh năm: 1985;

Địa chỉ: 1 H, khu phố D, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh;

(vắng mặt tại phiên tòa);

  • Chị Lưu Kim Thị Kim H2, sinh năm: 1996;

Địa chỉ: G N, phường I, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt tại phiên tòa, đang bị tạm giam trong vụ án khác);

  • Anh Lưu Kim H3, sinh năm: 2000;

Địa chỉ: số G N, khu phố A, phường I, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt tại phiên tòa);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 00 phút, ngày 25/02/2024. Sau khi đi hát lô tô ở địa bàn phường C, Thành phố T trên đường về, Nguyễn Minh T rủ Trần Văn L1 (cả hai là người đồng tính) đi tìm người nước ngoài để kích dục kiếm tiền, L1 đồng ý.

Sau đó, L1 điều khiển xe mô tô hiệu Wave màu xanh, biển số 59C2- 032.09 chở T đi đến khu vực đường T giao với đường X, phường T, thành phố T thì thấy ông Gasbor L4 (sinh năm 1982, quốc tịch Hungary) đang đi bộ trên đường nên L1 dừng xe lại. T xuống xe đi bộ đến tiếp cận, nói chuyện bằng tiếng Anh, vừa nói vừa dùng tay đưa lên miệng để diễn đạt việc kích dục bộ phận sinh dục bằng miệng với giá 500.000 đồng, thì ông Gasbor L4 đồng ý.

Cả hai đi bộ đến đoạn đường vắng trước số nhà A, đường Đ, khu phố B, phường T, thành phố T, ông Gábor L3 đưa cho T 500.000 đông rồi tự tay cởi quần (quần lửng với quần lót) đến ngang đầu gối để cho T dùng miệng kích dục. Trong lúc cởi quần, ông Gábor L3 đã làm rơi 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro xuống đất nhưng không biết. T nhìn thấy và nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại nên không nói cho ông G1 Lehócz biết, cũng chưa dám lấy ngay và vẫn tiếp tục kích dục. Sau khoảng 5-7 phút chưa xuất tinh được, ông Gábor L3 bực tức kéo quần lên, lúc này T lén lút lấy điện thoại của thoại của ông Gábor L3 cầm trên tay phải, ông Gábor L3 chửi T mấy câu rồi bỏ đi, còn T đi lại chỗ của L1 đang đứng đợi để L1 chở T về nhà. Khi ra đến đường Xa lộ H, T nói với L1 là có lấy được 01 điện thoại di động Iphone của người nước ngoài. L1 nói lại "Sao mày gan quá vậy, dám lấy điện thoại của người ta?". Sau đó, L1 chở T về nhà của L1 ở Quận H chơi, tại đây T lấy điện thoại ra xem, tháo bỏ sim rồi đưa điện thoại cho L1 nhờ L1 ra cửa hàng kiểm tra xem có cài icloud không, nếu có cài icloud mà gỡ được thì để T sử dụng rồi cho lại tiền L1, nếu không gỡ được thì tìm cách trả lại cho bị hại đề xin tiền, sau đó T đi về.

Sáng ngày 25/02/2024, ông Gábor L3 cùng với người phiên dịch đến Công an phường T, thành phố T trình báo sự việc bị mất trộm chiếc điện thoại di động Iphone 14 Pro như trên.

Qua truy xét, định vị, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố T phát hiện được L1 và thu giữ được điện thoại nói trên khi L1 đang kiểm tra máy tại Cửa hàng Đ2, số G P, Phường A,Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời, tiến hành đưa T và L1 về làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điêu tra- Công an thành phố T, Nguyễn Minh T và Trần Văn L1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Kết luận định giá tài sản số: 21-KV1/KLÐG-HĐĐGTS ngày 29/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản- Ủy ban nhân dân thành phố T kết luận: 01 cái điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro, màu đen, dung lượng 128GB, IMEI1:357588208364714, số IMEI2: 357588208850662, số serial: RVXM4X15GF; có đơn giá 17.767.000 đồng; thời điểm định giá ngày 25/02/2024;

Thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

  • 01 điện thoại di động Iphone 14 pro màu đen, dụng lượng 128GB- tang vật của vụ án là tài sản của ông Gábor L3. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 26/02/2024;
  • 01 xe mô tô hiệu Honda Wave Anpha màu xanh, biển số 59C2-032.09, số máy HC09E0083845; số khung RLHHC09003Y083755. Qua xác minh, chủ sở hữu là anh Cao Xuân T1. Tháng 4 năm 2015, ông T1 bán lại xe cho Lâm Văn H4 bằng Hợp đồng ủy quyền tại Văn phòng C. Ngày 05/11/2019, Lâm Văn H5 bán cho Lưu Thị Kim H2 (chị ruột của Lưu Kim H3) bằng Hợp đồng ủy quyền tại Văn phòng C1. Năm 2023, H2 bị bắt vì tội Buôn lậu nên để xe lai cho Lưu Kim H3 quản lý sử dụng. Ngày 25/02/2024, Trần Văn L1 là cậu ruột của Lưu Kim H3 mượn xe để đi làm việc, anh H3 không biết việc L1 sử dụng xe làm phương tiện phạm tội. Ngày 22/4/2024, Cơ quan CSĐT- Công an thành phố T ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả xe mô tô trên cho Lưu Kim H3.
  • 01 điện thoại di động Iphone 11 promax màu trắng, dung lượng 256GB, IMEI 353887106444436, IMEI 2 353887106459798, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Minh T, vật chứng không liên quan đến vụ án. Ngày 22/10/2024, Cơ quan CSĐT- Công an thành phố T ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Nguyễn Văn L là cha ruột của Nguyễn Minh T.
  • 01 điện thoại di động Nokia N1280 màu đen đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Văn L1, vật chứng không liên quan đến vụ án. Ngày 22/10/2024, Cơ quan CSĐT- Công an thành phố T ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Trần Văn Đ là anh ruột của Trần Văn L1.
  • 01 nón bảo hiểm màu đen đã qua sử dụng, thu giữ của Trần Văn L1.

* Về trách nhiệm dân sự: Ông Gábor L3 đã nhận lại tài sản là điện thoại di động Iphone 14 pro nên không có yêu cầu bồi thường gì khác, đã giải quyết xong phần dân sự.

* Về vật chứng vụ án: 01 cái nón bảo hiểm màu đen đã qua sử dụng;

Tại bản Cáo trạng số 278/CT- VKSTPTĐ ngày 08/4/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố:

  • Bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Bị cáo Trần Văn L1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tại phiên tòa:

  • Các bị cáo T, L1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Minh T và Trần Văn L1. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017; xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù giam;

+ Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017; xử phạt bị cáo Trần Văn L1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù giam;

  • Các bị cáo Nguyễn Minh T và Trần Văn L1 không tranh luận về hành vi phạm tội, lời sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Công an Thành phố H; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được và kết quả tranh luận tại phiên tòa có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:

Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 25/02/2024, bị cáo L1 điều khiển xe gắn máy biển số 59C2- 032.09 chở bị cáo T lưu thông khu vực đường T, giao với đường X, phường T, thành phố T, các bị cáo bàn bạc tìm người nước ngoài kích dục kiếm tiền. Bị cáo L1 phát hiện ông Gábor L3 đang đi bộ nên bị cáo L1 dừng xe lại, bị cáo T bước xuống trao đổi với ông G1 Lehócz việc kích dục bằng miệng giá 500.000 đồng thì cả hai đồng ý. Trong thời gian kích dục, ông Gábor L3 làm rớt 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro thì bị cáo T nhìn thấy và lén lút dùng tay phải chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro của ông Gábor L3. Sau đó, ông Gábor L3 bỏ đi, bị cáo đưa chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro cho bị cáo L1 để đưa đi tiêu thụ. Ngày 25/02/2024, ông Gábor L3 đến Công an phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh trình báo sự việc. Ngày 27/02/2024, các bị cáo bị Công an phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giữ người trong trường hợp khẩn cấp;

Căn cứ vào Kết luận định giá tài sản số: 21-KV1/KLĐG-HĐĐGTS ngày 29/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản- Ủy ban nhân dân thành phố T kết luận: 01 cái điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro, màu đen, dung lượng 128GB, IMEI1:357588208364714, số IMEI2: 357588208850662, số serial: RVXM4X15GF; có đơn giá 17.767.000 đồng; thời điểm định giá ngày 25/02/2024;

2.1 Đối với hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Minh T:

Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo, được xác định phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tang vật chứng thu giữ được. Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Minh T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro của ông Gábor L3. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Minh T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất tình hình an ninh trật tự tại địa phương, trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 17.767.000 đồng. Đây là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại khoản 1 của điều luật đã viện dẫn.

2.2 Đối với hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn L1:

Bị cáo L1 biết rõ tài sản mà bị cáo T có được do phạm tội mà có nhưng cố ý đem tài sản bị cáo T chiếm đoạt được của bị hại là 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 pro, màu đen, dung lượng 128GB đem đi tiêu thụ. Hành vi phạm tội của bị cáo L1 đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý nhà nước đối với quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất tình hình an ninh trật tự tại địa phương, tài sản mà bị cáo tiêu thụ là 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 pro, màu đen, dung lượng 128GB, có giá trị là 17.767.000 đồng. Đây là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại khoản 1 của điều luật đã viện dẫn;

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm- là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Các bị cáo có nhiều nhân thân xấu, thể hiện ý thức xem thường pháp luật, bị hại là người nước ngoài có chức vụ trong lĩnh việc ngoại giao nên khi quyết định hình phạt cần có mức hình phạt nghiêm khắc để có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo;

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi và trả lại cho bị hại nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; giảm cho các bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Gábor L3 đã nhận lại tài sản mà bị cáo T chiếm đoạt và không yêu cầu các bị cáo có nghĩa vụ bồi thường gì khác; Hội đồng xét xử ghi nhận yêu cầu của ông Gábor L3;

[6] Về xử lý vật chứng:

Thu giữ của bị cáo L1:

  • 01 xe gắn máy nhãn hiệu Honda Wave, số máy: HC09E0083845; số khung: RLHHC09003Y083755. Qua điều tra, xác minh; chủ sở hữu hợp pháp là ông Cao Xuân T1. Ngày 06/4/2015, ông Cao Xuân T1 ký Hợp đồng ủy quyền số 00003285 ủy quyền toàn bộ đối với chiếc xe nêu trên cho ông Lâm Văn H4. Ngày 05/11/2016, ông Lâm Văn H4 ký Hợp đồng mua bán xe mô tô, xe máy số 035080 cho chị Lưu Thị Kim H2. Sau thời gian sử dụng, chị Lưu Thị Kim H2 cho em ruột là Lưu Kim H3 sử dụng (do mối quan hệ ruột thịt nên các bên không lập Hợp đồng tặng, cho). Anh H3 cho bị cáo L1 (cậu của H3) mượn xe sử dụng đi hát lô tô, không biết bị cáo L1 sử dụng xe làm công cụ, phương tiện phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an Thành phố H đã trả lại chiếc xe trên cho anh H3; do đó, Hội đồng xét xử không xem xét xử lý vật chứng nêu trên;
  • 01 điện thoại di động hiệu Nokia N1280 màu đen đã qua sử dụng- vật chứng không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an Thành phố H đã trả lại cho ông Trần Văn Đ (anh ruột bị cáo L1) nhận thay là có căn cứ;
  • 01 cái nón bảo hiểm màu đen đã qua sử dụng- vật chứng không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy;

Thu giữ của bị cáo T: 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax màu trắng, đã qua sử dụng, dung lượng 256GB- vật chứng không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an Thành phố H đã trả lại cho ông Nguyễn Văn L (cha ruột bị cáo T) nhận thay là có căn cứ;

[7] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Đối với Hộ kinh doanh Cửa hàng Đ2 do ông Lâm Phi H1 làm đại diện, không biết tài sản bị cáo L1 đem đến bán là do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an Thành phố H không xử lý hình sự là có căn cứ pháp luật;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố:
    • Bị cáo Nguyễn Minh T (tên gọi khác: Khả D) phạm tội “Trộm cắp tài sản";
    • Bị cáo Trần Văn L1 (tên gọi khác: C) phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;
  2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T (tên gọi khác: Khả D) 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/02/2024;

  3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Văn L1 (tên gọi khác: Chăm L2) 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/02/2024;

  4. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

    Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái nón bảo hiểm màu đen đã qua sử dụng;

    (theo Phiếu nhập kho vật chứng số NK25/092C ngày 27/11/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh);

  5. Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

    Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án xin xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết hợp lệ.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • TAND TP.HCM;
  • Sở Tư pháp TP.HCM;
  • VKSND TP.Hồ Chí Minh;
  • VKSND TP. Thủ Đức;
  • Cơ quan CSĐT- Công an TP. HCM;;
  • Cơ quan THA.HS- Công an TP. HCM;
  • Trại tạm giam Chí Hòa- Công an TP. HCM;
  • Trại tạm giam Chí Hòa- Phân trại tạm giam khu vực TP. Thủ Đức;
  • Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • Bị cáo;
  • Bị hại;
  • NCQL, NVLQ;
  • Lưu: Hồ sơ, VT.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thúy Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 340/2025/HS-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản; tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 340/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản; Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản, Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger