Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 340/2024/HS-ST

Ngày: 17/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Bích Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Hễ

Bà Nguyễn Thị Bích Thủy

- Thư ký phiên tòa:

Bà Hoàng Thị Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Bà Vũ Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 17/7/2024 tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai Vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 344/2024/TLST-HS ngày 03/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3530/2024/QĐXXST-HS ngày 28/6/2024, và Thông báo số 10062/TB-TA ngày 11/7/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Tuấn C, sinh năm 1986 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; thường trú: A B, Phường H, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: 1 Cô B, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Chạy xe ôm; trình độ học vấn: 05/12; con ông Phạm Anh T và bà Nguyễn Thị N; bị cáo có vợ là Hà Kim H và 02 con, con lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 31/01/2013, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” và buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng (theo Bản án số 58/2013/HSST ngày 31/01/2013), chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/9/2013;

1

+ Ngày 01/9/2004, bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù, về tội “Cướp giật tài sản” và 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt là 01 năm 09 tháng tù (theo Bản án số 313/HSST ngày 01/9/2004). Ngày 10/02/2006, Nguyễn Tuấn C đã chấp hành xong bản án.

+ Ngày 24/9/2018, bị Tòa án nhân dân Quận 1 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 24/4/2020.

Bị cáo bắt và tạm giam từ ngày 28/8/2023 (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Quang T1, sinh năm 1984

Địa chỉ: Số C Chợ C, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài nên vào ngày 27/8/2023, Nguyễn Tuấn C nảy sinh ý định sử dụng phương tiện xe gắn máy, điều khiển quanh khu vực Đ - T, Quận A, tìm người có tài sản sơ hở để cướp giật bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 27/8/2023, C điều khiển xe mô tô biển số 52X5 - 4632 từ đường Đ ra đường T (hướng về đường N) thấy anh Iker Paniagua C1 (quốc tịch Tây Ban Nha) đang đứng tại trước số A đường T, phường C, Quận A, hai tay đang sử dụng 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone, loại 12 pro, màu đen nên C điều khiển xe quay trở lại, leo lên lề đường, áp sát anh Iker Paniagua C1, sau đó C dùng tay trái giật chiếc điện thoại của anh I Paniagua Calvache đang cầm trên tay và điều khiển xe bỏ chạy vào đường Đ (hướng đường C) để tẩu thoát. Sau đó, C đem chiếc điện thoại vừa cướp giật được sang khu vực đường Đ, Quận D tìm chỗ bán nhưng không được nên C đem trở về tiếp tục tìm người mua. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, C đem chiếc điện thoại nêu trên đến tiệm B, số 555 chợ C2, phường C, Quận A, tìm người mua điện thoại. Tại đây, C bán chiếc điện thoại chiếm đoạt mà có cho Trần Quang T1 với giá 800.000 đồng.

Sau khi bị cướp giật điện thoại, anh Iker Paniagua C1 đã đến Công an phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh trình báo sự việc bị cướp giật tài sản là 01 chiếc điện thoại hiệu di động Iphone, loại 12 pro, màu đen nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã chuyển nguồn tin đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H để thụ lý theo thẩm quyền.

2

Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H xác định Nguyễn Tuấn C là người đã thực hiện hành vi “Cướp giật tài sản” của anh Anh 11 Paniagua Calvache tại trước nhà số A đường T phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 28/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q phát hiện và đã tiến hành bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Tuấn C. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H thụ lý theo thẩm quyền. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Tuấn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai phù hợp với tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Kết luận định giá tài sản số 309/KL-HĐĐGTS ngày 28/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A kết luận: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone, loại 12 pro, màu đen, số imei: 356693119695676, đã qua sử dụng có giá là 8.000.000 đồng.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 chiếc điện thoại hiệu di động Iphone, loại 12 pro, màu đen. Ngày 29/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã trả lại chiếc điện thoại trên cho anh Iker Paniagua C1 (bút lục số 157).
  • - Số tiền 800.000 đồng thu giữ của Nguyễn Tuấn C do bán điện thoại mà có.
  • - 01 xe gắn máy loại Maxneo, màu tím gắn biển số 52X5-4632 do Nguyễn Tuấn C sử dụng để cướp giật tài sản vào ngày 27/8/2023. Qua xác minh, chiếc xe trên là của anh Ngô Thanh P (ngụ tại 5 Đường E, Khu phố E, phường L, thành phố T) mua vào năm 2007. Đến năm 2019 anh P bán chiếc xe trên cho một người không rõ lai lịch với giá 1.500.000 đồng và không làm thủ tục sang tên. Nguyễn Tuấn C khai mua chiếc xe trên vào năm 2020 với giá 1.000.000 đồng làm phương tiện đi lại, đến ngày 27/8/2023 C sử dụng chiếc xe trên để cướp giật tài sản (bút lục số 129 đến 130).

Tại Bản cáo trạng số 273/CT-VKS-P2 ngày 02/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn C phạm tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, khoản 2, Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Tuấn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng số 273/CT-VKS-P2 ngày 02/5/2024

3

của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã công bố. Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội cùng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d, khoản 2 Điều 171; điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt Nguyễn Tuấn C từ 04 năm đến 05 năm tù, thời hạn tù tính kể từ ngày 28/8/2023.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử lý vật chứng theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Iker Paniagua C1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và xuất cảnh về lại Tây Ban Nha. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã tiến hành ủy thác tư pháp để ghi lời khai của anh I1 Paniagua Calvache nhưng đến nay chưa có kết quả.

Bị cáo C không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, thừa nhận bản luận tội đối với bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình, thật sự ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, áp dụng hình phạt với mức án khoan hồng, để bị cáo có cơ hội sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và kết quả thẩm vấn công khai, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện theo quy định.

[2] Xét sự vắng mặt của các đương sự

Bị hại là người nước ngoài hiện đã xuất cảnh về nước, đã nhận được tài sản bị chiếm đoạt, các lời khai của bị hại phù hợp với tình tiết có trong hồ sơ vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Quang T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Xét thấy, sự vắng của ông T1 không làm ảnh hưởng đến việc Tòa án giải quyết vụ án.

4

Căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo:

Quá trình điều tra vụ án và xét hỏi tại phiên tòa thể hiện lời khai của bị cáo Nguyễn Tuấn C là phù hợp với lời khai của người bị hại cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở pháp lý kết luận: Vào khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 27/8/2023, khi thấy anh Iker Paniagua C1 (quốc tịch Tây Ban Nha) đang đứng tại trước số A đường T, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh hai tay đang sử dụng 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone, loại 12 pro, màu đen, Nguyễn Tuấn C đã có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 52X5 - 4632 áp sát anh Iker Paniagua C1 và dùng tay trái giật chiếc điện thoại đang cầm trên tay rồi nhanh chóng tẩu thoát.

Từ nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Tuấn C là hành vi cướp giật tài sản của người khác, bị cáo điều khiển xe gắn máy để cướp giật tài sản là thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn C về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có cơ sở, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Tuấn C là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã 02 lần bị Tòa án đưa ra xét xử và 01lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa và cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nhằm đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Kết luận định giá tài sản số 309/KL-HĐĐGTS ngày 28/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A kết luận: Tài sản mà bị cáo Nguyễn Tuấn C đã chiếm đoạt có giá trị là 8.000.000 (tám triệu) đồng.

Đối với Trần Quang T1, là người mua điện thoại di động hiệu Iphone, loại 12 pro, màu đen từ Nguyễn Tuấn C nhưng không biết đây là tài sản do C phạm tội mà có và đã giao nộp lại điện thoại nêu trên để trả cho người bị hại. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Trần Quang T1 là có căn cứ.

5

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Ngày 31/01/2013 bị cáo Nguyễn Tuấn C bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngoài ra bản án còn tuyên bị cáo C phải bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng; phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. (Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2013/HSST ngày 31/01/2013). Bị cáo C đã chấp hành xong hình phạt tù. Theo Công văn trả lời xác minh số 547/CCTHADS-VP ngày 16/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4 (BL 166): Ngày 28/9/2020, Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4 đã ban hành Quyết định số 50/QĐ-CCTHADS về việc đình chỉ thi hành án về án phí đối với bị cáo Nguyễn Tuấn C. Về trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng: Bị hại chưa có đơn yêu cầu thi hành án nên Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4 chưa thi hành. Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự thời hạn yêu cầu thi hành án là 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Do đã hết thời hạn yêu cầu thi hành án theo quy định, nên mặc dù chưa bồi thường số tiền 10.000.000 đồng cho bị hại nhưng bị cáo C được xác định đã được xóa án tích.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Tuấn C đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sớm trở về với gia đình, sửa chữa lỗi lầm để trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại đã nhận được tài sản và không có ý kiến gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với số tiền 800.000 (tám trăm nghìn) đồng thu giữ của Nguyễn Tuấn C, xét thấy, đây là số tiền anh Trần Quang T1 trả cho bị cáo để mua chiếc điện thoại nhưng không biết do bị cáo phạm tội mà có nên cần trả lại cho anh T1.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Trả lại cho anh Trần Quang T1 số tiền 800.000 (tám trăm nghìn) đồng.
  • - 01 xe gắn máy loại Maxneo, màu tím gắn biển số 52X5-4632 do Nguyễn Tuấn C sử dụng để cướp giật tài sản ngày 27/8/2023 là của anh Ngô Thanh P (ngụ tại 5 Đường E, Khu phố E, phường L, thành phố T) mua vào năm 2007. Năm 2019 anh P đã bán chiếc xe trên cho một người không rõ lai lịch và không làm thủ tục

6

sang tên. Nguyễn Tuấn C khai mua chiếc xe trên vào năm 2020 để làm phương tiện đi lại và sử dụng để cướp giật tài sản ngày 27/8/2023. Đây là công cụ, phương tiện bị cáo C dùng để phạm tội nên cần phải bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

[7] Về án phí sơ thẩm:

Bị cáo Nguyễn Tuấn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm d, khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn C 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 28/8/2023.

  2. Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
    • - Trả lại cho anh Trần Quang T1 số tiền 800.000 (tám trăm ngàn) đồng thu giữ của Nguyễn Tuấn C (Theo Giấy nộp tiền ngày 18/3/2024 của Ngân hàng TMCP C3).
    • - Tịch thu, nộp ngân sách 01 xe gắn máy loại Maxneo, màu tím gắn biển số 52X5-4632, số máy VZS150FMG-025532, số khung RNGKCG1NG71007532 (không bửng, không bao sên, không gương, dàn nhựa không có, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra).

    (Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/411 ngày 26/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

  3. Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

    Bị cáo Nguyễn Tuấn C phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

7

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - Cục Thi hành án dân sự TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Thi hành án hình sự TAND TP.HCM;
  • - Trại giam;
  • - Bị cáo;
  • - Phòng PV06 – Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - UBND xã/phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án, (Xuân/18).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Bích Sơn

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 340/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 340/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger