Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 340/2024/HS-ST

Ngày 05 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thiều Thị Phi Loan.

Bà Vương Thị Khánh Loan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Thìn - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 283/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 333/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Lê Phú Đ, sinh năm 1999, tại Thanh Hóa (có mặt); Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 217, Phố Á, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở: Số A, đường T, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lao dộng tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; con ông: Lê Phú P, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1972 (đã chết); chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 10/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.

- Bị hại: Ông Phạm Công V, sinh năm 1991 (có mặt).

Địa chỉ: 4, tổ E, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Mộng Tố T, sinh năm 1985 (vắng mặt).

Địa chỉ: A, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Phú Đ là đầu bếp quán ăn “Cô Đ1”, địa chỉ số A, đường T, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do chị Trần Mộng Tố T, sinh năm 1985 làm chủ. Đ với chị T có mối quan hệ tình cảm (yêu nhau).

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 09/12/2023, anh Phạm Công V, sinh năm 1991, ngụ tại 4, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đến quán “Cô Đ1” ăn, uống (nhậu) thì chị T và Đ đến ngồi chơi cùng anh V. Sau đó, khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày chị T đi vào bên trong khu vực quầy của quán nằm ngủ, còn Đ tiếp tục ngồi chơi với anh V. Đến khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày, Đ sang bàn khác thu tiền nhậu và dọn bàn. Lúc này, anh V đi vào khu vực quầy của quán và chạm tay vào người chị T thì Đ nhìn thấy và cho rằng anh V sàm sỡ chị T nên Đ chạy đến nắm áo anh V kéo ra khỏi khu vực quầy và mắng chửi anh V. Anh V lời qua tiếng lại chửi nhau với Đ thì Đ chạy vào khu vực bếp trong quán lấy 01 (Một) dao dài khoảng 32cm, bản dao bằng kim loại màu trắng dài khoảng 20cm, lưỡi sắc, mũi nhọn, cán dao dài khoảng 12cm màu vàng chanh rồi cầm chạy ra chỗ anh V thì anh V thách thức nói: “Mày giỏi thì đâm đi”. Lúc này, Đ cầm dao nêu trên đâm 01 (Một) nhát trúng bụng bên phải của anh V gây thương tích (lòi ruột). Anh V bỏ chạy ra ngoài đường ngồi ôm vết thương. Thấy vậy, Đ lấy xe mô tô chở anh V đến Bệnh viện Q cấp cứu. Sau đó, Đ đến Công an phường T, thành phố B đầu thú.

Vật chứng vụ án:

- 01 (Một) dao dài khoảng 32cm, bản dao bằng kim loại màu trắng dài khoảng 20cm, lưỡi sắc, mũi nhọn, cán dao dài khoảng 12cm màu vàng chanh, là hung khí Lê Phú Đ sử dụng gây án.

Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1175/KLTTCT-TTPYĐN ngày 15/12/2023, Giám định viên Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận thương tích của anh Phạm Công V như sau:

Các kết quả chính:

  • Vết thương hố chậu phải kích thước 04 x 0,1cm. Tỷ lệ: 01%.
  • Vết mổ đường trắng giữa bụng kích thước 15 x 0,1cm. Tỷ lệ: 02%.
  • Vết mổ dẫn lưu hố chậu phải (còn ống dẫn lưu) kích thước 01 x 0,5cm. Tỷ lệ: 01%.
  • Vết thương thấu bụng thủng đoạn hổng tràng nhiều vị trí đã xử trí cắt đoạn hổng tràng dưới 01 mét. Tỷ lệ: 36%.
  • Rách thanh cơ ống tiêu hóa (đoạn manh tràng 02 vị trí). Tỷ lệ: 04%.

Kết luận:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Công V, sinh năm 1991 tại thời điểm giám định là: 41% (Bốn mươi mốt phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

- Vật gây thương tích: Vật sắc nhọn.

Bản Kết luận giám định cơ chế tổn thương qua hồ sơ số 0008/KLGĐCC-TTPYĐN ngày 15/01/2024, Giám định viên Trung tâm P, đã kết luận tổn thương của nạn nhân Phạm Công V thuộc loại cấp cứu trì hoãn, ngay lập tức không ảnh hưởng đến tính mạng.

Quá trình điều tra, Lê Phú Đ khai không có mục đích tước đoạt mạng sống của anh V. Anh Phạm Công V khai cúi xuống dùng tay đập vào người chị T để gọi chị T dậy tiếp tục nhậu, không có việc sàm sỡ chị T.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Công V yêu cầu bị cáo Lê Phú Đ bồi thường chi phí điều trị thương tích và các khoản thiệt hại khác với tổng số tiền là 200.101.388đồng (Hai trăm triệu một trăm lẻ một nghìn ba trăm tám mươi tám đồng). Bị cáo Lê Phú Đ đã bồi thường cho anh V 25.000.000đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).

Bản cáo trạng số: 286/CT-VKSBH ngày 13/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Lê Phú Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1; điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Phú Đ từ 05 (năm) tù đến 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 591 Bộ luật Dân sự đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tuyên: Buộc bị cáo Lê Phú Đ tiếp tục bồi thường chi phí điều trị thương tích và các yêu cầu khác cho bị hại anh Phạm Công V theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có tại hồ sơ, cáo trạng mô tả. Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 09/12/2023, tại quán ăn “Cô Đ1” số A, đường T, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Lê Phú Đ thấy anh Phạm Công V dùng tay chạm vào người chị Trần Mộng Tố T (chủ quán và là bạn gái của Đ) đang nằm ngủ trong khu vực quầy. Lúc này, bị cáo Đ nhìn thấy và cho rằng anh V sàm sỡ người yêu của mình nên Đ có lời qua tiếng lại rồi chửi nhau với anh V. Đ lấy 01 (Một) dao dài khoảng 32cm, bản dao bằng kim loại màu trắng dài khoảng 20cm, lưỡi sắc, mũi nhọn, cán dao dài khoảng 12cm chạy đến chỗ anh V thì anh V có lời nói thách thức. Đ sử dụng dao đang cầm nêu trên đâm 01 (một) nhát trúng bụng bên phải của anh V gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 41% (Bốn mươi mốt phần trăm).

Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 1175/KLTTCT-TTPYĐN ngày 15/12/2023, Giám định viên Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận thương tích của anh Phạm Công V, sinh năm 1991 tại thời điểm giám định là: 41% (Bốn mươi mốt phần trăm).

- Vật gây thương tích: Vật sắc nhọn.

Bản Kết luận giám định cơ chế tổn thương qua hồ sơ số 0008/KLGĐCC-TTPYĐN ngày 15/01/2024, Giám định viên Trung tâm P, đã kết luận tổn thương của nạn nhân Phạm Công V thuộc loại cấp cứu trì hoãn, ngay lập tức không ảnh hưởng đến tính mạng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo đầu thú, đã bồi thường một phần chi phí điều trị cho bị hại số tiền 25.000.000đồng theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị hại anh Phạm Công V yêu cầu bị cáo Lê Phú Đ bồi thường tiền điều trị thương tích và các yêu cầu khác tổng số tiền là 200.101.388đồng (Hai trăm triệu một trăm lẻ một nghìn ba trăm tám mươi tám đồng). Hiện bị cáo đã bồi thường cho bị hại 25.000.000đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).

Tại phiên tòa bị hại anh Phạm Công V yêu cầu bị cáo Lê Phú Đ bồi thường chi phí điều trị thương tích và các thiệt hại khác. Cụ thể:

  • Các chi phí có hóa đơn 40.101.388 đồng.
  • Thu nhập bị mất 04 tháng lương: 04 x 15.000.000đồng/tháng = 60.000.000đồng.
  • Bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần: 06 tháng x 2.340.000đồng/tháng = 14.040.000đồng.

Tổng số tiền bị hại anh Phạm Công V yêu cầu bị cáo Lê Phú Đ bồi thường là 114.141.388đồng. Bị cáo Lê Phú Đ đã bồi thường cho bị hại anh Phạm Công V 25.000.000đồng (Hai mươi lăm triệu đồng). Tại phiên tòa bị hại anh Phạm Công V yêu cầu bị cáo Lê Phú Đ tiếp tục bồi thường cho bị hại anh V số tiền 89.141.388đồng (T1 mươi chín triệu một trăm bốn mươi mốt nghìn ba trăm tám mươi tám đồng).

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Phú Đ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các khoản chi phí bồi thường theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử xem xét các khoản chi phí hợp lý theo quy định pháp luật:

  • Các chi phí viện phí: 40.101.388đồng.
  • Thu nhập thực tế bị mất 04 tháng lương: 04 x 15.000.000đồng/tháng = 60.000.000đồng.
  • Bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần: 06 tháng x 2.340.000đồng/tháng = 14.040.000đồng.

Tổng số tiền bị hại anh Phạm Công V yêu cầu bị cáo Lê Phú Đ bồi thường là 114.141.388 đồng (Một trăm mười bốn triệu một trăm bốn mươi mốt nghìn ba trăm tám mươi tám đồng). Bị cáo Đ đã bồi thường cho bị hại anh V số tiền 25.000.000đồng (Hai mươi lăm triệu đồng). Buộc bị cáo Lê Phú Đ tiếp tục bồi thường cho bị hại anh Phạm Công V số tiền là 89.141.388 đồng (T1 mươi chín triệu một trăm bốn mươi mốt nghìn ba trăm tám mươi tám đồng).

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) con dao dài 32cm (lưỡi dài 20cm bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn, cán làm bằng nhựa dài 12cm màu vàng) là hung khí bị cáo Lê Phú Đ sử dụng gây án. (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).

[7] Đối với hành vi của anh Phạm Công V, kết quả điều tra không chứng minh được mục đích của anh V là sàm sỡ, quấy rối tình dục đối với bà Trần Mộng Tố T, nên không xử lý.

[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 4.457.069đồng (Bốn triệu bốn trăm năm mươi bảy nghìn không trăm sáu mươi chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Lê Phú Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Lê Phú Đ 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/12/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 468, Điều 584, Điều 586, Điều 590, Điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015.

Bị hại anh Phạm Công V yêu cầu bị cáo Lê Phú Đ bồi thường số tiền 114.141.388 đồng (Một trăm mười bốn triệu một trăm bốn mươi mốt nghìn ba trăm tám mươi tám đồng). Bị cáo Đ đã bồi thường cho bị hại anh V số tiền 25.000.000đồng (Hai mươi lăm triệu đồng). Buộc bị cáo Lê Phú Đ tiếp tục bồi thường cho bị hại anh Phạm Công V số tiền là 89.141.388 đồng (T1 mươi chín triệu một trăm bốn mươi mốt nghìn ba trăm tám mươi tám đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) con dao dài 32cm (lưỡi dài 20cm bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn, cán làm bằng nhựa dài 12cm màu vàng) là hung khí bị cáo Lê Phú Đ sử dụng gây án. (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 4.457.069đồng (Bốn triệu bốn trăm năm mươi bảy nghìn không trăm sáu mươi chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa (2);
  • - THA Dân sự (1);
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Biên Hòa (1);
  • - Thi hành án hình sự (6);
  • - Bị cáo (1);
  • - Bị hại (1);
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (1);
  • - Lưu (5).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trần Thị Kim Dung

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Thiều Thị Phi Loan

Vương Thị Khánh Loan

Trần Thị Kim Dung

LƯU Ý:

A. Phần nội dung:

  • Chưa chỉnh sửa áp dụng khoản, điều... đối với các bị cáo theo đề nghị của VKS.
  • Về bồi thường thiệt hại nếu bị hại vắng mặt kiểm tra lại yêu cầu.

B. Phần nhận định:

  • Việc áp dụng khoản, điều ... đối với tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng và bị cáo.
  • Tính bồi thường cụ thể cho các bị cáo.

C. Phần Quyết định:....

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 340/2024/HS-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích (intentionally inflicting injury)

  • Số bản án: 340/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Intentionally inflicting injury)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Phú Đạt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger