Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN ĐỐNG ĐA

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 340 /2024/HS-ST

Ngày: 11/11/2024

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thùy Dương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bá Lung

Bà Nguyễn Thị Cờ

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Tạ Hà Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 317/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 325/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 63/2024/HSST-QĐ ngày 28/10/2024 đối với các bị cáo:

  1. CHỬ ĐỨC HẠNH, sinh ngày 21/11/1978; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện tại: Thôn H, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Trình độ văn hoá: 12/12. Nghề nghiệp: Tự do. Đảng viên: Không. Con ông: Chử Đức H; Con bà: Chử Thị L. Vợ: Triệu Thị T. Có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2012. D chỉ bản số 567 lập ngày 03/07/2024 tại Công an quận Đ, thành phố Hà Nội. Tiền án tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  2. NGUYỄN QUỐC H1, sinh ngày 20/11/2005; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn S, xã X, huyện V, tỉnh Yên Bái. Trình độ văn hoá: 12/12. Nghề nghiệp: Tự do. Đảng viên: Không. Con ông: Nguyễn Quốc A; con bà: Đặng Thị C. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu. D chỉ bản số 565 lập ngày 03/7/2024 tại Công an quận Đ, thành phố Hà Nội. Tiền án tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  3. TRẦN NGỌC PHƯƠNG L1, sinh ngày 04/10/2002; giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Số A đường Đ, khu H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Trình độ văn hoá: 10/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Đảng viên: Không. Con ông: Trần Văn N; con bà: Nguyễn Thị N1. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con út. D chỉ bản số 570 lập ngày 03/7/2024 tại Công an quận Đ, thành phố Hà Nội. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  4. VŨ THU UYÊN, sinh ngày 26/11/1998; giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: TDP N, phường N (hiện là: Số A đường Đ, phường N), thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Trình độ văn hoá: 12/12. Nghề nghiệp: Tự do. Đảng viên: Không. Con ông: Vũ Văn U; con bà: Vũ Thị Nho. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con đầu. D chỉ bản số 566 lập ngày 03/7/2024 tại Công an quận Đ, thành phố Hà Nội. Tiền án tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  5. LÊ ĐÌNH C1, sinh ngày 07/8/1978; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Tổ A thôn M, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội. Trình độ văn hoá: 06/12. Nghề nghiệp: Tự do. Đảng viên: Không. Con ông: Lê Đình N2; con bà: Nguyễn Thị H2. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con đầu. D chỉ bản số 568 lập ngày 03/7/2024 tại Công an quận Đ, thành phố Hà Nội. Nhân thân: Ngày 21/09/2011, TAND huyện Ứng Hoà, Hà Nội xử 09 tháng tù về tội Đánh bạc (Đã xoá án tích). Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  6. ĐÀO HUY TUẤN, sinh ngày 26/01/1990; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Nơi ĐKHKTT: Tổ I Y, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội. Nơi ở: Khu D, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội. Trình độ văn hoá: 12/12. Nghề nghiệp: Tự do. Đảng viên: Không. Con ông: Đào Huy T1 (đã chết); con bà: Nguyễn Thị D1. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu. D chỉ bản số 569 lập ngày 03/7/2024 tại Công an quận Đ, thành phố Hà Nội. Tiền án tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm: 1987, HKTT: Hạ Vụ 3, V, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Chị H3 vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu chăm sóc răng miệng, thông qua quảng cáo trên mạng xã hội, khoảng 10 giờ 00 ngày 17/06/2024 chị Nguyễn Thị H3 (sinh năm: 1987, trú tại Xóm H, V, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) đến Spa G số A C, Đ, Hà Nội để sử dụng dịch vụ chữa hôi miệng. Tại đây, H3 được Nguyễn Quốc H1 là nhân viên tư vấn tiếp xúc và tư vấn sử dụng dịch vụ.

H3 nói chỉ sử dụng gói 788.000 đồng như quảng cáo thì H1 tư vấn với H3 có gói chữa hôi miệng giá 25.000.000 đồng, bảo hành 15 năm, được tặng kèm gói bọc 16 răng sứ miễn phí, cam kết nếu không khỏi sẽ hoàn lại 100% tiền. Đóng trước 2.000.000 đồng và trả góp 23.000.000 đồng trong 23 tháng. Sau khi H3 đồng ý gói dịch vụ H1 đưa ra, H3 đóng trước 2.000.000 đồng và H3 lên tầng 2 làm dịch vụ. Tại tầng 2 Hiền được Vũ Bảo T2 (sinh năm: 1995; Trú tại: P15A05A Tòa S205 Vinhome S, T, N, Hà Nội) là y sĩ nha khoa, trị hôi miệng và mài nhỏ răng để dán răng sứ. Khoảng 13 giờ 53 ngày 17/06/2024, Chử Đức H4 là quản lý của cơ sở Spa thấy trên nhóm Zalo chung của cơ sở S1 là “SOS Thẩm Mỹ” có H1 báo lên nhóm gọi người sang hỗ trợ đòi nợ, H4 hỏi H1 là khách sử dụng dịch vụ gì thì H1 nói khách chữa hôi miệng. H1 cũng nhắn tin riêng cho H4 xin người sang hỗ trợ thu nợ và cũng nhờ Nghiêm Huyền M (sinh năm: 1996, trú tại Đ, B, Hà Nội – nhân viên kế toán của cơ sở) gọi cho H4 để điều người sang hỗ trợ thu nợ. Lúc này M không đi làm, đang ở nhà thấy H1 nhờ gọi cho H4 nên M đã nhắn tin cho H4 để điều người sang hỗ trợ, H4 trả lời M đã điều người sang rồi. H4 đã điều Đào Huy T3 và Lê Đình C1 làm bảo vệ và hỗ trợ nhân viên tư vấn thu hồi nợ, đến địa chỉ A C hỗ trợ thu nợ cùng nhân viên. H4 gọi điện bảo Trần Ngọc Phương L1 cũng là nhân viên tư vấn cơ sở S1 Ô đi sang A C hỗ trợ tư vấn trả góp.

Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, chị H3 xuống tầng 1 để gặp Trần Ngọc Phương L1 để làm thủ tục trả góp. Sau khi H3 cung cấp thông tin số điện thoại của 03 người thân cho L1 thì L1 và H1 nhờ Lý Thị Trang L2 – nhân viên tư vấn gọi điện để kiểm tra thông tin. L2 cùng L1 gọi điện hỏi bố của chị H3 là ông Nguyễn Văn Đ (sinh năm: 1995; trú tại H, V, P, Thái Nguyên), chồng của chị H3 là Hồ Văn N3 (sinh năm: 1974; trú tại N, Q, H, Bắc Giang), cháu của H3 là Lưu Văn T4 (sinh năm: 2006; trú tại Đ, B, S, Hà Nội) theo số điện thoại H3 cung cấp. Ông Đ không trả lời được các câu hỏi nên L1 đã từ chối làm dịch vụ trả góp cho H3 và yêu cầu H3 phải trả hết số tiền 23.000.000 đồng như trong hợp đồng, chị H3 không đồng ý và đòi gặp H1. H1 nhắn tin lên nhóm “SOS Thẩm Mỹ” bảo L1 “ép nó bán vàng đi chị, tay nó cái nhẫn”. Khoảng 10 phút sau H1 vào gặp H3, H3 nói với H1 là lúc đầu cho trả góp, giờ lại bắt trả tiền luôn thì H1 nó “T5 mày có trả tiền không”, H3 không đồng ý. L1 và H1 yêu cầu H3 trả tiền nhưng H3 từ chối vì không mang tiền. Khoảng 10 phút sau có Lê Đình C1 đi vào cùng với H1 và L1 quát mắng yêu cầu chị H3 trả tiền. Lúc này có thêm Vũ Thu U1 là nhân viên tư vấn cũng vào hỗ trợ đòi tiền. U1 gọi thêm Đào Huy T3 đang ngồi bên ngoài để vào hỗ trợ đòi tiền. Các đối tượng chỉ vào nhẫn vàng của chị H3 đang đeo trên tay, hỏi vàng thật hay vàng giả và yêu cầu đi bán vàng để trả tiền nhưng chị H3 không đồng ý và đứng dậy bỏ đi ra cửa thì U1 chặn cửa không cho chị H3 đi ra ngoài, H1 kéo tay chị H3 không cho đi. T3 và L1 cũng ra cửa chặn không cho chị H3 đi. L1 giật chiếc cốc H3 đang cầm trên tay và doạ đánh chị H3. T3 khoác vai chị H3 yêu cầu quay lại ngồi trên ghế để nói chuyện. L1, H1, U1 chỉ tay lớn tiếng, đập bàn, đe doạ chị H3. Thấy 05 người vây quanh chửi bới, đe doạ, H3 lo sợ bị đánh nên H3 nói để H3 gọi điện về cho người nhà đến giải quyết. H3 gọi về cho người nhà nhưng không nghe máy. H3 xin đi vệ sinh thì không cho đi, H3 nói muốn đi vệ sinh quá thì những người này mới cho H3 đi và yêu cầu H3 mở cửa. H1, U1, L1 đứng bên ngoài canh giữ. Chị H3 tiếp tục gọi vào cho người nhà biết việc đang ở A C, Đ, Hà Nội và bị người ta đòi tiền giữ lại không cho về. Sau khi chị H3 đi vệ sinh xong, H1, L1, C1, T3 tiếp tục đe doạ H3 nói không trả tiền sẽ không cho về. Quá trình các đối tượng ép buộc H3 trả tiền các đối tượng đều báo lên nhóm Z, Chử Đức H4 luôn theo dõi để nắm bắt tình hình để chỉ đạo khi cần thiết. Sau đó, chị H3 tiếp tục gọi điện cho người nhà thì người nhà H3 nói đã báo Cơ quan Công an rồi, khi nghe thấy vậy H1 và những người khác đuổi H3 về. Sau đó H3 đã đến Cơ quan Công an trình báo sự việc.

Tại Cơ quan Công an, Chử Đức H4, Nguyễn Quốc H1, Trần Ngọc Phương L1, Vũ Thu U1, Lê Đình C1, Đào Huy T3 khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên. Cơ quan Điều tra đã làm rõ cơ sở S1 địa chỉ tại A C, Đ, Hà Nội do Chử Đức H4 và Nguyễn Hoàng G (sinh năm: 1984, trú tại U, Đ, Hà Nội) góp vốn kinh doanh dịch vụ thẩm mỹ. Giấy phép kinh doanh do Nghiêm Huyền M đứng tên quản lý còn Nguyễn Trường G1 chịu trách nhiệm làm marketing, quảng cáo cho hoạt động của S; Chử Đức H4 là người chịu trách nhiệm quản lý và trực tiếp điều hành hoạt động tại Spa.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị H3 đã được Cơ sở chăm sóc sức khoẻ, sắc đẹp tại số A C, Đ, Hà Nội làm lại răng cho chị với số tiền 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng). Chị H3 không đề nghị gì và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho những đối tượng cưỡng đoạt tài sản của mình.

Bản Cáo trạng số 313/CT-VKSĐĐ ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố Chử Đức Hạnh, Nguyễn Quốc Huy, Trần Ngọc Phương Linh, Vũ Thu U1, Lê Đình C1, Đào Huy T3 về tội "Cưỡng đoạt tài sản" theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi đã thực hiện như bản Cáo trạng đã nêu. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt:

  • - Chử Đ từ 22 tháng tù đến 26 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 44 đến 52 tháng.
  • - Nguyễn Quốc H1 từ 18 tháng tù đến 22 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 44 tháng.
  • - Trần Ngọc Phương L1 từ 18 tháng tù đến 22 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 44 tháng
  • - Vũ Thu U1 từ 18 tháng tù đến 22 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 44 tháng.
  • - Lê Đình C1 từ 20 tháng tù đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 40 đến 48 tháng
  • - Đào Huy T3 từ 18 tháng tù đến 22 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 44 tháng.

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã được bồi thường, có ý kiến không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội và tội danh: Tại phiên tòa hôm nay qua xét hỏi, các bị cáo Chử Đ, Nguyễn Quốc H1, Trần Ngọc Phương L1, Vũ Thu U1, Đào Huy T3 và Lê Đình C1 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với báo cáo bắt giữ, vật chứng thu được của vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 17/6/2024 tại số A C, quận Đ, TP Hà Nội và 129, A Ô, quận Đ, TP Hà Nội, Chử Đ chỉ đạo Vũ Thu U1, Nguyễn Quốc H1, Trần Ngọc Phương L1, Lê Đình C1 và Đào Huy T3 có chửi bới, đe dọa, dùng số đông uy hiếp tinh thần, chặn cửa không cho chị Nguyễn Thị H3 về để chiếm đoạt số tiền 23.000.000 đồng (Hai mươi ba triệu đồng). Hành vi trên của bị cáo phạm tội Cưỡng đoạt tài sản. Tội phạm và hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự.

[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã nêu trên; xét các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ mức độ nguy hiểm của hành vi nhưng đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện ý thức coi thường pháp luật, do đó phải có hình phạt đủ nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét thấy thiệt hại do hành vi cưỡng đoạt tài sản của các bị cáo gây ra là không lớn; bị hại đã được bồi thường số tiền 80.000.000 đồng; các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo H4, H1, L1, U1, T3 phạm tội lần đầu; bị hại là chị Nguyễn Thị H3 có đơn xin miễn giảm hình phạt cho các bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo, để các bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[4] Về vật chứng: Tịch thu sung công 03 chiếc điện thoại các bị cáo đã sử dụng để trao đổi thông tin trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội gồm : 01 (một) chiếc điện thoai iphone 12 Pro màu xanh, số Imei: 353074115997171; 01 (một) chiếc điện thoại Iphone màu xanh, số Imei: 356712119110039; 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 14 Pro max màu đen, số I: 354466594950896.

[5] Các vấn đề khác:

Khi xảy ra việc đòi nợ và đe doạ ép chị Nguyễn Thị H3 phải trả tiền cho S thì Nguyễn Hoàng G và Nghiêm Huyền M không có mặt tại cơ sở và không biết việc đe doạ để đòi tiền của chị H3 nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với Lý Thị Trang L2 (sinh năm: 1991; trú tại Đ, H, Hà Nội) là nhân viên tư vấn của cơ sở S1 số A C, Đ, Hà Nội, trước khi xảy ra việc H1, L1, U1, T3, C1 đe doạ, cưỡng đoạt tiền của khách hàng Nguyễn Thị H3, H1 có nhờ L2 gọi điện kiểm tra thông tin của khách hàng Nguyễn Thị H3 để làm thủ tục trả góp. Sau khi L2 gọi điện cho người thân của H3 xong Ly chuyển toàn bộ bản ghi âm cuộc gọi cho L1 sau đó đi làm việc khác không tham gia vào việc cùng với H1, L1, U1, T3, C1 đe doạ, cưỡng đoạt của khách hàng Nguyễn Thị H3 nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với Vũ Bảo T2 (sinh năm 1995; trú tại: P15A05A Tòa S205 Vinhome S, T, N, Hà Nội) là y sỹ nha khoa, là người trực tiếp làm dịch vụ chữa hôi miệng và làm răng cho khách hàng Nguyễn Thị H3 ngày 17/06/2024. Sau khi làm xong cho khách hàng Nguyễn Thị H3, T2 ra về. T2 không biết, không tham gia vào việc cùng với H1, L1, U1, T3, C1 đe doạ, cưỡng đoạt tiền của khách hàng Nguyễn Thị H3 nên hành vi không cấu thành tội phạm. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với Cơ sở chăm sóc sức khoẻ, sắc đẹp tại số A C, Đ, Hà Nội có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh tên hộ kinh doanh là “Hộ kinh doanh Nghiêm Huyền M, mã số hộ kinh doanh: 8516292449-001, mã số đăng ký kinh doanh: 01E8040571, đăng ký lần đầu ngày 11 tháng 04 năm 2024 do Nghiêm Huyền M (SN: 1996, trú tại: số C ngõ I, Đ, B, Hà Nội) đứng tên đăng ký kinh doanh. Ngành nghề kinh doanh của cơ sở là dịch vụ tắm hơi, massage và các dịch vụ tăng cường sức khoẻ tương tự, không bao gồm các hoạt động xâm lấn, phẫu thuật. Quá trình điều tra vụ án Cưỡng đoạt tài sản xảy ra tại A C, Đ, Hà Nội ngày 17/06/2024, Cơ quan điều tra Công an quận Đ xác định Cơ sở kinh doanh chăm sóc sức khoẻ, sắc đẹp nêu trên hoạt động làm dịch vụ nha khoa nhưng không đăng ký ngành nghề kinh doanh. Cơ quan điều tra Công an quận Đ đã có công văn số 5896 ngày 19/9/2024 kiến nghị Ủy ban nhân dân quận Đ tiến hành xử phạt vi phạm hành chính đối với việc Cơ sở chăm sóc sức khoẻ, sắc đẹp tại số A C, Đ, Hà Nội kinh doanh không đúng ngành nghề kinh doanh nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị H3 đã được bồi thường số tiền 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng), không đề nghị gì thêm về trách nhiệm dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

[6] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố:

  • - Bị cáo Chử Đức H4 phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Chử Đức H4 22 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 44 (bốn mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Giao bị cáo Chử Đức H4 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • - Bị cáo Nguyễn Quốc H1 phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H1 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Giao bị cáo Nguyễn Quốc H1 cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện V, tỉnh Yên Bái giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • - Bị cáo Trần Ngọc Phương L1 phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Trần Ngọc Phương L1 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 32 (ba mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Giao bị cáo Trần Ngọc Phương L1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • - Bị cáo Vũ Thu U1 phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Vũ Thu U1 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 32 (ba mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Giao bị cáo Vũ Thu U1 cho Ủy ban nhân dân phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • - Bị cáo Lê Đình C1 phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Lê Đình C1 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Giao bị cáo Lê Đình C1 cho Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • - Bị cáo Đào Huy T3 phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Đào Huy T3 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 32 (ba mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Giao bị cáo Đào Huy T3 cho Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định pháp luật về thi hành án hình sự.

Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp với hình phạt tù của bản án trước theo quy định tại Điều 55, 56 của Bộ luật hình sự, nếu họ đã bị tạm giam, tạm giữ thì thời gian bị tạm giam, tạm giữ được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

2. Về xử lí vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 03 chiếc điện thoại gồm :

  • - 01 (một) chiếc điện thoai iphone 12 Pro màu xanh, số Imei: 353074115997171 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong;
  • - 01 (một) chiếc điện thoại Iphone màu xanh, số Imei: 356712119110039 đã qua sử dụng, mặt lưng kính bị nứt vỡ, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong;
  • - 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 14 Pro max màu đen, số Imei: 354466594950896 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong;

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 15 ngày 21/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa, Hà Nội).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Thùy Dương

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa;
  • - Công an quận Đống Đa;
  • - Trại tạm giam Công an Thành phố Hà Nội;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú (thay thông báo)
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VP,HS.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 340/2024/HS-ST ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cưỡng đoạt tài sản

  • Số bản án: 340/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cưỡng đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger