|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 340/2024/HS-PT Ngày 11 tháng 6 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Hoàng Minh Thịnh |
| Các Thẩm phán: | Ông Cao Văn Tám |
| Ông Chung Văn Kết |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vi Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở; Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 707/2023/TLPT-HS ngày 20 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo Lê Văn Vũ L và các bị cáo khác. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 387/2023/HSST ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 359/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 4 năm 2024.
- Bị cáo có kháng cáo:
-
Lê Văn Vũ L, giới tính: Nam; sinh ngày 25/12/1995, tại tỉnh Bến Tre; đăng ký thường trú: Ấp T, xã S, huyện G, tỉnh Bến Tre; chỗ ở: P, nhà số D T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái: Đảng viên đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng; con ông Lê Văn R và bà Trần Thị Kim X; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 07/4/2022; có mặt.
-
Vương Quang P, giới tính: Nam, sinh ngày 01/9/1998, tại Thành phố Hồ Chí Minh; đăng ký thường trú: 202 Lô O, chung cư N, Phường G, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Hoa; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương Quốc A và bà Trương Thị Kim L1; có vợ và 01 con, sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 07/4/2022; có mặt.
-
Nguyễn Vũ H (tên gọi khác: B), giới tính: Nam; sinh ngày 12/10/1991, tại Thành phố Hồ Chí Minh; đăng ký thường trú: 4 T, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: P lô C, chung cư I T, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M (chết) và bà Nguyễn Thị Như H1; có vợ và 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Bản án số 132/2009/HSST ngày 13/11/2009 của Tòa án nhân dân Quận 3 xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (đã xóa án tích);
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 07/4/2022; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn Vũ L: Luật sư Trịnh Bá T, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Có mặt
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Vũ H: Luật sư Nguyễn Văn T1, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Có mặt
- Người bào chữa cho bị cáo Vương Quang P: Luật sư Phan Mạnh T2, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Có mặt.
(Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Hoàng Đăng K nhưng không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo nên Toà không triệu tập)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 45 phút ngày 07/4/2022, tại trước chung cư I T, Phường A, Quận C, tổ công tác phối hợp (gồm Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Thành phố H; Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Bộ C; Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an các quận T, Quận C và Quận G) tuần tra phát hiện Lê Văn Vũ L có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, phát hiện trong cốp xe gắn máy của L có 01 túi nylon màu xanh ghi chữ “TIE GUAN YIN” chứa tinh thể màu trắng, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 1.000,43 gam, loại Ketamine nên đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L. Khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, khám xét chỗ ở của Lê Văn Vũ L tại phòng số 4.2, nhà số D T, Phường B, Quận E, kết quả không thu giữ ma túy.
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 07/4/2022, Tổ công tác kiểm tra hành chính nơi ở của Vương Quang P tại nhà số A N, Phường B, Quận C. P tự nguyện giao nộp ma túy cất giữ để mua bán gồm: 05 gói nylon màu vàng in chữ “GUAN YIN WANG” chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 4.989,19gam, loại Methamphetamine; 03 gói nylon màu xanh in hình 5 ngôi sao chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, tổng khối lượng 2.998,61gam, loại Ketamine. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với P.
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 07/4/2022, Tổ công tác khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vương Quang P tại phòng 202, nhà số G Đ, Phường A, Quận A; vật chứng thu giữ:
- 03 gói nylon ghi chữ “QING SHAN” chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 2.967,75gam, loại Methamphetamine;
- 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 1.165,47gam, loại Methamphetamine;
- 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 0,8281gam, loại Ketamine;
- 01 bao tải nylon chứa nhiều vỉ viên nén mặt trắng, mặt đỏ, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, tổng khối lượng 4.405,20gam, loại Nitrazepam.
Khoảng 13 giờ 50 phút ngày 07/4/2022, Tổ công tác kiểm tra hành chính nhà số C L, khu phố A, phường T, Quận G do Nguyễn Hoàng Đ Khoa cư trú, K tự nguyện giao nộp ma túy cất giữ để mua bán gồm:
- 02 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 42,6955gam, loại Ketamine;
- 01 gói nylon chứa 08 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 4,1950gam, loại Ketamine và 02 gói nylon chứa tinh thể màu trắng, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 0,8768gam, loại Ketamine;
- 01 gói nylon chứa 04 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 8,1348gam, loại Ketamine;
- 01 gói nylon chứa 09 viên nén màu cam, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 4,7961gam, loại MDMA;
- 01 gói nylon chứa 29 viên nén màu xanh, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 11,4009gam, loại MDMA;
- 01 gói nylon chứa 44 viên nén màu cam, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, tổng khối lượng 7,8654gam, loại Nitrazepam;
- 02 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, tổng khối lượng 5,6085gam, loại Ketamine;
Tổ công tác đã thu giữ vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với K. Cùng ngày qua khám xét khẩn cấp chỗ ở của K tại C L, khu phố A, phường T, Quận G, không phát hiện ma túy.
Mở rộng điều tra, khoảng 14 giờ 00 phút ngày 07/4/2022, Tổ công tác kiểm tra hành chính căn hộ 1903 lô C, chung cư I T, Phường A, Quận C do Nguyễn Vũ H cư trú, vật chứng thu giữ:
- 01 hộp giấy màu trắng, bên trong có 30 gói nylon chứa các viên nén màu hồng, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 1.045,87gam, loại MDMA;
- 01 túi nylon màu đen bên trong có 07 túi nylon, chứa các viên nén màu hồng, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 226,58gam, loại MDMA và 05 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 449,29gam, loại Ketamine;
- 01 hộp giấy màu đỏ, nắp vàng, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 31,9371gam, loại Ketamine và 01 gói nylon chứa các viên nén màu hồng, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 34,9096gam, loại MDMA;
- 01 hộp giấy màu trắng, bên trong có 03 gói nylon màu vàng ghi chữ “ORANGE JUICE” chứa chất bột, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 21,2294gam, loại MDMA, Ketamine; 04 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 6,2214gam, loại Ketamine; 06 gói nylon chứa chất bột màu trắng, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 10,9770gam, loại Ketamine và 01 túi nylon chứa các viên nén màu hồng, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 6,9588gam, loại MDMA;
- 01 hộp giấy màu xám, bên trong có 04 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 39,8782gam, loại Ketamine và 03 gói nylon chứa chất bột màu trắng, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 29,8434gam, loại Ketamine.
Tổ công tác tiến hành thu giữ vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H. Qua khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Vũ H tại phòng 1903 lô C, chung cư I T, Phường A, Quận C, Cơ quan điều tra còn phát hiện và thu giữ 01 gói nylon chứa nhiều viên nén hình chữ nhật màu xanh, có khắc chữ “ALL STAR GAME”, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 13,8463 gam, loại Methamphetamine, MDMA, Ketamin.
Toàn bộ số ma túy thu giữ được giám định, kết quả thể hiện tại các Kết luận giám định số 2122, 2123, 2124 và số 2125/KLGĐ-KTHS ngày 14/4/2022 của Phòng K2, Công an T.
Quá trình điều tra, Lê Văn Vũ L khai nhận: Từ khoảng tháng 01/2022, thông qua một người tên “Bin” (không rõ lai lịch) giới thiệu cho L biết một người đàn ông (không rõ lai lịch, sinh sống tại Campuchia), người này đặt vấn đề thuê L nhận ma túy gửi từ Campuchia về Việt Nam cất giấu rồi mang đi giao cho người mua theo sự chỉ đạo, L sẽ được trả công số tiền 4.000.000 đồng/01kg ma túy bán được, L đồng ý. L thuê hai căn nhà số G Đ, Phường A, Quận A và nhà số A N, Phường B, Quận C làm nơi cất giấu ma túy. Đến đầu tháng 3/2022, có thêm Vương Quang P được B1 thuê về phụ L đi giao ma túy. L đã trực tiếp nhận ma túy do người đàn ông này gửi từ Campuchia về cất giữ để bán được 2 lần như sau: Lần thứ nhất vào khoảng giữa tháng 3/2022 L nhận 04kg ma túy đá, 01kg ma túy Ketamine và 20.000 viên thuốc; Lần thứ hai vào ngày 04/4/2022 L nhận 10kg ma túy đá và 5kg ma túy loại Ketamine.
Toàn bộ số ma túy trên L chia ra cất giấu tại phòng 202, nhà số G Đ và nhà số A N. Chìa khóa hai căn nhà này L giao cho P 01 bộ để P quản lý và đến lấy ma túy khi B1 hoặc L yêu cầu. L đã 06 lần đưa ma túy cho P đi giao cho khách mua. Trưa ngày 07/4/2022, người đàn ông ở Campuchia liên lạc với L yêu cầu L lấy 01kg Ketamine giao cho khách mua ở chung cư I T, Phường A, Quận C. Sau đó, L lấy 01kg Ketamine cất vào cốp xe máy và điều khiển đến chung cư I T để giao cho người mua, nhưng chưa kịp giao thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt giữ. Sau khi bị bắt L mới biết người khách mua ma túy là Nguyễn Vũ H, đây là lần đầu tiên L giao ma túy cho H.
L thừa nhận quá trình tham gia mua bán ma túy cùng người đàn ông ở Campuchia, nhưng không biết Bin quan hệ mua bán ma túy như thế nào với người đàn ông này. Riêng Nguyễn Hoàng Đăng K nhận ma túy từ L và P đi giao cho người khác. L đã nhận trực tiếp tiền công từ Bin tổng cộng 35.000.000 đồng, L đã trả tiền thuê nhà 7.500.000 đồng, trả công Vương Quang Phước 10.000.000 đồng, số còn lại để tiêu xài cá nhân.
Vương Quang P khai nhận phù hợp với Lê Văn Vũ L về việc cùng với L giữ chìa khóa quản lý 02 căn nhà thuê có cất giữ ma túy cũng như 06 lần nhận ma túy từ L đi giao cho khách mua (P khai không nhớ rõ loại ma túy và khối lượng). P được “Bin” trả tiền công 4.000.000 đồng để đi giao 01kg ma túy. Mỗi khi có khách mua ma túy thì “Bin” hoặc L sẽ liên lạc với P yêu cầu P gặp L nhận ma túy hoặc đến nhà thuê chứa ma túy lấy ma túy đi giao cho khách mua. P biết Nguyễn Hoàng Đăng K có tham gia đi giao ma túy giống như P. P đã trực tiếp lấy ma túy được phân sẵn để ở nhà số G Đ mang đi giao cho Nguyễn Hoàng Đăng K được 03 lần (01 lần giao 200gam Ketamine và 02 lần giao mỗi lần 100gam Ketamine). Ngày 07/4/2022, khi Cơ quan điều tra khám xét, P đã tự nguyện giao nộp số ma túy do P và L cùng cất giấu như nêu trên. P đã được nhận 10.000.000 đồng tiền công từ L và đã tiêu xài hết.
Nguyễn Hoàng Đăng K khai nhận phù hợp với Lê Văn Vũ L và Vương Quang P về việc K đã 02 lần trực tiếp đến gần nhà L ở Quận E nhận ma túy đi giao theo sự yêu cầu của B1 (một lần vào khoảng giữa tháng 3/2022 và một lần đầu tháng 4/2022 mỗi lần nhận 100gam Ketamine); 03 lần trực tiếp qua khu vực Quận A nhận ma túy từ P đi giao theo yêu cầu của B1 (02 lần vào khoảng giữa tháng 3/2022 nhận mỗi lần 100gam Ketamine và 01 lần cách ngày bị bắt khoảng 1 tuần nhận 200gam Ketamine). K được “Bin” trả công cho mỗi lần đi giao ma túy từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng. Các lần nhận ma túy K không cân lại mà giao luôn cho khách mua, riêng lần cuối nhận ma túy từ L 100gam Ketamine, đã giao 30gam cho khách mua, số còn lại cất giấu ở nhà thì bị cơ quan điều tra thu giữ. Đối với 38 viên thuốc lắc màu cam và màu vàng kết quả giám định có khối lượng 16,1970 gam MDMA và 7,8654 gam cất giấu tại nhà là của B1 cho người đem tới nhà giao cho K để giao kèm Ketamine cho khách nhưng chưa giao, còn 44 viên thuốc giải ma túy là B1 kêu K nhận lại từ khách mua tên B2 (không rõ lai lịch) cất giữ. K chỉ biết ma túy của B1, nguồn gốc ma túy ở đâu thì không rõ, cũng không biết Lê Văn Vũ L và Vương Quang P có cất giấu ma túy tại 02 căn nhà tại Quận C và Quận A. Mọi việc giao dịch mua bán ma túy, B1 liên lạc với khách, K chỉ có nhiệm vụ đi giao rồi về theo chỉ đạo của B1.
Nguyễn Vũ H khai hoạt động mua bán trái phép chất ma túy từ tháng 01/2022, nguồn ma túy H mua của một người đàn ông tên “T3” (không rõ lai lịch), tiền mua ma túy trả sau khi bán hết, H đã 04 mua ma túy của T3 để bán lại cho người nghiện kiếm lời, cụ thể:
- Lần thứ nhất vào khoảng tháng 01/2022 và lần thứ hai vào khoảng giữa tháng 02/2022, mỗi lần H mua của T3 khoảng 20gam Ketamine với giá 10.000.000 đồng và 20 viên thuốc lắc với giá 3.000.000 đồng; sau đó, H phân ra bán cho người nghiện với giá 700.000 đồng cho đến 800.000 đồng/0,5gam Ketamine và 200.000 đồng/01 viên thuốc lắc và H đã bán hết số ma túy này.
- Lần thứ ba vào khoảng cuối tháng 3/2022, H mua của T3 50gam Ketamine và 35 viên thuốc lắc với giá tổng cộng 30.000.000 đồng; T3 cho thêm H 03 gói ma túy tổng hợp bên ngoài in chữ “ORANGE JUICE” để H bán cho khách dùng thử với giá 2.000.000 đồng/01 gói. Số ma túy này H đã bán được một ít, số còn lại H cất giấu và đã giao nộp cho Cơ quan Công an khi bị bắt.
- Lần thứ tư vào sáng ngày 07/4/2022, H liên lạc và đặt mua của T3 10gam ma túy Ketamine, T3 đồng ý bán cho H với giá 4.000.000 đồng và nói sẽ có người đến chỗ ở của H giao ma túy. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, một người đàn ông (không rõ lai lịch) điện thoại nói H xuống sảnh chung cư để nhận hàng. H biết là T3 cho người đến giao ma túy cho H nên đi bộ xuống sảnh chung cư, nhưng chưa kịp gặp và nhận ma túy thì bị Cơ quan Công an mời về làm việc. Sau đó, H khai nhận đang cất giấu ma túy tại chỗ ở và tự giao nộp cho Cơ quan Công an như đã nêu trên. H khai chỉ đặt mua của T3 10gam Ketamine, còn tại sao L mang 01kg Ketamine đến giao thì không biết, 03 lần trước mua ma túy của T3 thì T3 cho người khác đến chung cư giao ma túy cho H, H chưa gặp mặt hay nhận ma túy từ L lần nào, đến khi bị bắt mới biết L.
Về nguồn gốc của số ma túy Ketamine và thuốc lắc còn lại Cơ quan Công an thu giữ tại chỗ ở của H, H khai vào tối ngày 6/4/2022 khi H gặp T3 ở trước chung cư H ở, T3 có nhờ H cất giữ giúp T3 và nói H nếu có khách mua thì bán giúp cho T3, số ma túy này H vẫn chưa bán được cho ai.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 387/2023/HSST ngày 18 tháng 8 năm 2023, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
-
Căn cứ điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Lê Văn Vũ L: Tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Phạt tiền bổ sung 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng);
Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
-
Căn cứ điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52 ; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Vương Quang P: Tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy";
Phạt tiền bổ sung 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng);
Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
-
Căn cứ điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ H: Tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Phạt tiền bổ sung 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng);
Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Đăng K 20 năm tù, tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, vào các ngày 21 và 22/8/2023 các bị cáo Lê Văn Vũ L, Vương Quang P và Nguyễn Vũ H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như án sơ thẩm quy kết, các bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo vì mức án tử hình là quá nặng. Tuy nhiên bị cáo H đề nghị xem xét lại khối lượng ma tuý mà bị cáo mua bán vì toàn bộ khối lượng ma tuý bị cáo H cất giữ tại căn hộ là cất giữ giùm cho T3 còn bị cáo chỉ mua bán nhỏ lẻ 50 – 100g ma tuý tổng hợp, việc gộp chung tất cả khối lượng ma tuý để xét xử bị cáo là quá nặng và không đúng bản chất sự việc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ vào các chứng cứ có tại hồ sơ và lời khai nhận tội của các bị cáo có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Lê Văn Vũ L, Vương Quang P, Nguyễn Hoàng Đăng K và Nguyễn Vũ H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự. Hành vi của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Khối lượng ma tuý các bị cáo mua bán là rất lớn, trong đó, bị cáo L và bị cáo P phải chịu trách nhiệm hình sự đối với khối lượng ma túy: 9.122,41 gam Methamphetamine; 4.591,3787 gam Ketamine; 4.405,20 gam Nitrazepam; Nguyễn Vũ H phải chịu trách nhiệm đối với khối lượng ma túy: 1.314,3184 gam loại MDMA; 568,1471 gam loại Ketamine; 21,2294 gam loại MDMA, Ketamine; 13,8463 gam loại Methamphetamine, MDMA, Ketamine.
Với khối lượng ma tuý nêu trên, Toà án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo mức án tử hình là thoả đáng. Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào mới vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị cáo và giữa nguyên Bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu:
-
Luật sư bào chữa cho bị cáo L phát biểu: Hành vi của bị cáo L là đi giao ma túy cho đối tượng tên B1, như vậy có dấu hiệu của tội vận chuyển trái phép chất ma túy, tuy nhiên cơ quan điều tra chưa làm rõ được đối tượng tên B1 là ai và xem xét đến hành vi cất giữ ma tuý có dấu hiệu của tội tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thực tế các bị cáo không biết người mua, không biết rõ loại ma tuý, không nhận tiền mua bán, do đó cần đánh giá vai trò của bị cáo. Tuy nhiên việc truy tố, xét xử các bị cáo về tội mua bán trái phép chất ma tuý là chưa vững chắc. Chưa bắt được đối tượng B1, chưa xác định được người mua nên có căn cứ xác định bị cáo L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Ngoài ra cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có ông nội, ông ngoại đều là liệt sĩ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo, đề nghị xác định bị cáo phạm hai tội là vận chuyển trái phép chất ma tuý với khối lượng 1 kg K1 và tội tàng trữ trái phép chất ma tuý. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng cho bị cáo, giảm hình phạt xuống tù chung thân cho bị cáo L.
-
Luật sư bào chữa cho bị cáo P phát biểu: Hành vi của bị cáo đã rõ, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét vai trò của bị cáo chỉ là đồng phạm giúp sức cho bị cáo L là nhận ma túy và đi giao cho người khác, bị cáo cũng không nhận tiền bán ma túy mà chỉ biết đi giao theo chỉ đạo. Do đó mức hình phạt tử hình đối với vai trò đồng phạm như bị cáo là quá nặng. Đề nghị chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo. Bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
-
Luật sư bào chữa cho bị cáo H phát biểu: Thống nhất về tội danh mua bán trái phép chất ma tuý như án sơ thẩm tuyên, tuy nhiên mức án tử hình đối với bị cáo là quá nặng, khối lượng ma túy mà bị cáo mua bán là ít hơn nhiều so với các bị cáo khác vì bị cáo phạm tội độc lập. Đồng thời khi bị cáo bị mời làm việc thì đã tự nguyện khai và chỉ nơi cất giấu ma túy tại căn hộ của bị cáo vì vậy bị cáo phải được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là tích cực hợp tác với cơ quan điều tra nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án, cấp sơ thẩm không áp dụng cho bị cáo là thiếu sót. Bị cáo chỉ phạm tội một lần khi chờ nhận ma túy từ bị cáo L còn trước đó bị cáo không biết L là ai. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa Bản án sơ thẩm giảm hình phạt cho bị cáo xuống tù chung thân.
Bị cáo thống nhất với bài bào chữa của luật sư, bị cáo không bổ sung gì thêm.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Quá trình điều tra đã xác định được: Do cần tiền tiêu xài và có ma tuý để sử dụng nên Lê Văn Vũ L thoả thuận với đối tượng tên “Bin” và một đối tượng ở Campuchia (không rõ lai lịch) nhận ma túy và thuê hai căn nhà số G Đ, Phường A, Quận A và số A N, Phường B, Quận C làm nơi cất giấu ma túy. L cùng Vương Quang P quản lý 02 căn nhà có cất giấu ma túy để đi giao và cùng lấy ma túy giao cho Nguyễn Hoàng Đăng K để K đi giao cho khách mua theo yêu cầu của B1. Số còn lại chưa kịp bán thì bị thu giữ quả tang và khám xét ma túy có tổng khối lượng 9.122,41gam loại Methamphetamine; 3.999,8681gam loại Ketamine; 4.405,20gam loại Nitrazepam.
[3] Nguyễn Hoàng Đăng K theo sự phân công của B1, đã nhận ma túy từ L, P để đi giao cho khách mua, trong đó đã 03 lần nhận ma túy từ P (lần thứ nhất và thứ hai mỗi lần 100gam Ketamine và lần thứ ba nhận 200gam Ketamine) và đã giao hết cho khách mua; 02 lần nhận ma túy từ L: Lần thứ nhất 100 gam Ketamine đã giao hết; Lần thứ hai nhận 100 gam Ketamine, đã giao cho khách mua 30 gam, còn lại 61,5106 gam cất giấu chưa kịp giao thì bị thu giữ quả tang (tổng cộng lần thứ hai là 91,5106 gam). Đồng thời K còn nhận từ Bin 16,197gam loại MDMA; 7,8654gam loại Nitrazepam, chưa kịp giao cho khách mua thì bị phát hiện và khám xét, thu giữ.
[4] Lê Văn Vũ L và Vương Quang P phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số ma túy bị thu giữ quả tang và khám xét tại 02 căn nhà G Đ, Phường A, Quận A và nhà số A N, Phường B, Quận C gồm: 9.122,41gam loại Methamphetamine; 3.999,8681gam loại Ketamine; 4.405,20gam loại Nitrazepam; 400gam K lấy từ 02 căn nhà trên giao Khoa; 100gam ketamine L lấy từ 02 căn nhà trên giao Khoa lần thứ nhất và 91,5106 gam Ketamine L giao Khoa lần thứ hai. Như vậy, bị cáo L và bị cáo P phải chịu trách nhiệm hình sự đối với khối lượng ma túy: 9.122,41 gam Methamphetamine; 4.591,3787 gam Ketamine; 4.405,20 gam Nitrazepam như Toà án cấp sơ thẩm nhận định là có căn cứ.
[5] Nguyễn Vũ H khai nhận bắt đầu mua bán ma túy từ tháng 01 năm 2022, mua ma túy từ đối tượng T3 nhằm mục đích bán kiếm lời, số còn lại chưa kịp bán hết thì bị khám xét, thu giữ ma túy có tổng khối lượng 1.314,3184 gam loại MDMA; 568,1471 gam loại Ketamine; 21,2294 gam loại MDMA, Ketamine; 13,8463 gam loại Methamphetamine, MDMA, Ketamine. Bị cáo H cho rằng số ma túy này do T3 gửi nhờ cất giữ giùm, bị cáo chỉ mua bán nhỏ lẻ từ 50 đến 100g ma túy là không có căn cứ chấp nhận.
[6] Hành vi nêu trên của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm vào hoạt động quản lý độc quyền của Nhà N về cất giữ, vận chuyển, trao đổi các chất ma túy, ngoài ra còn gây mất trật tự trị an xã hội. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tội cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy”, với khối lượng ma tuý như nêu trên nên Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng của các chất đó tương đương với khối lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này” theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[7] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo thấy rằng:
[7.1] Đối với bị cáo L và P: Mặc dù các bị cáo này đều chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra, xét xử đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ ăn năn hối cải nhưng xét khối lượng ma túy các bị cáo tham gia mua bán là rất lớn: bị cáo L, P mua bán gần 20kg ma tuý, bị cáo L và P còn phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội hai lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do đó Toà án cấp sơ thẩm áp dụng mức hình phạt cao nhất, loại bỏ vĩnh viễn các bị cáo khỏi đời sống xã hội là thoả đáng.
[7.2] Đối với bị cáo Nguyễn Vũ H: Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng, quá trình điều tra, xét xử thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khi mới bị cơ quan công an mời làm việc, bị cáo đã tự nguyện giao nộp, chỉ rõ nơi cất giấu toàn bộ ma túy, vai trò của bị cáo trong vụ án là đứng thứ ba thấp hơn nhiều so với bị cáo L và P về khối lượng ma túy mua bán. Vì vậy mức án tử hình đối với bị cáo là quá nặng, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm hình phạt cho bị cáo từ tử hình xuống chung thân là thể hiện sự nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
[8] Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo L cho rằng hành vi của bị cáo có dấu hiệu của tội vận chuyển trái pháp chất ma túy và tàng trữ trái pháp chất ma túy, gia đình có công với cách mạng nên đề nghị khoan hồng cho bị cáo; luật sư bào chữa cho bị cáo P đề nghị giảm án xuống chung thân cho bị cáo vì bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm. Xét quan điểm nêu trên của các luật sư là không có căn cứ chấp nhận. Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo H đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo giảm hình phạt cho bị cáo xuống tù chung thân là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị bác kháng cáo của bị cáo L, P, giữ nguyên mức hình phạt tử hình đối với bị cáo L, P là có căn cứ, được chấp nhận.
[10] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo L, P phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định. Bị cáo H được chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
[11] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Văn Vũ L, Vương Quang P. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 387/2023/HS-ST ngày 18/8/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần quyết định hình phạt đối với các bị cáo Lê Văn Vũ L, Vương Quang P.
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Vũ H. Sửa một phần Bản án sơ thẩm số 387/2023/HS-ST ngày 18/8/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Vũ H.
- Tuyên bố bị cáo: Lê Văn Vũ L, Vương Quang P và Nguyễn Vũ H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
-
Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 40 Bộ luật hình sự.
2.1. Xử phạt bị cáo Lê Văn Vũ L: Tử hình.
2.2. Xử phạt bị cáo Vương Quang P: Tử hình.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo thi hành án.
-
Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 39 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ H tù chung thân. Bị cáo bị tạm giam từ 07/4/2022.
-
Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Lê Văn Vũ L, Vương Quang P phải chịu mỗi bị cáo 200.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Vũ H không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
-
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, các bị cáo Lê Văn Vũ L, Vương Quang P được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước.
-
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Minh Thịnh |
12
Bản án số 340/2024/HS-PT ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 340/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Văn Vũ L, Vương Quang P. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 387/2023/HS-ST ngày 18/8/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần quyết định hình phạt đối với các bị cáo Lê Văn Vũ L, Vương Quang P. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Vũ H. Sửa một phần Bản án sơ thẩm số 387/2023/HS-ST ngày 18/8/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Vũ H.
