Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUYÊN HÓA

TỈNH QUẢNG BÌNH

Bản án số: 34/2024/HS-ST

Ngày: 31 - 8 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Xuân Thuận, nguyên là Phó Hiệu trưởng Trường tiểu học số 2 Đồng Lê, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.
  2. Ông Nguyễn Văn Lợi, Chủ tịch Hội luật gia huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Quang, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Hà, Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Quảng Bình. Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS ngày 19/8/2024, đối với bị cáo:

Trần Văn H, sinh ngày 09 tháng 01 năm 1989 tại huyện T, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L và bà Nguyễn Thị T; vợ: Đoàn Thị L1 (đã ly hôn); con có 04 người, con lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24/02/2022, bị Công an xã T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng rượu, bia, các chất kích thích gây mất trật tự công cộng. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giam” tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Quảng Bình từ ngày 17/4/2024 đến nay, theo lệnh trích xuất, bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần.

- Bị hại: Đoàn Thị L1, sinh năm 1991; nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

Người làm chứng:

  • + Trần Thị Bảo N, sinh năm 2009; nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt
  • + Trần Thị Bảo C, sinh năm 2012; nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
  • + Trần Thị Bảo T1, sinh năm 2012; nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt
  • + Lê Thị T2, sinh năm 1962; nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
  • + Đoàn Xuân C1, sinh năm 1964; nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt

Người đại diện hợp pháp cho người làm chứng Trần Thị Bảo N, Trần Thị Bảo C và Trần Thị Bảo T1:

  • + Đoàn Thị L1, sinh năm 1991; nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 17/02/2024, Trần Văn H, sau khi đi uống rượu bia về thấy chị L1 (là vợ đã ly hôn nhưng vẫn sống chung một nhà) đang nằm trên giường, đắp chăn xem điện thoại cùng với hai người con là Trần Thị Bảo N và Trần Văn H1. Do muốn nói chuyện để giải quyết mâu thuẫn trong chuyện tình cảm nên H bảo chị L1 đi vào phòng ngủ của hai người để nói chuyện, chị L1 im lặng. Một lúc sau, không thấy chị L1 đi vào ngủ cùng mình nên H tiếp tục đi ra gọi nhưng chị L1 không vào mà tiếp tục xem điện thoại. Do bức xúc việc chị L1 không nghe lời nên H đi vào nhà bếp lấy 01 con dao nhọn, dài khoảng 30cm cầm bằng tay phải đi đến vị trí chị L1 đang nằm rồi đâm một nhát xuyên qua chăn trúng vào phần đùi phải của chị L1. Chị L1 kêu van và dùng tay đưa chăn lên đỡ, thì H tiếp tục cầm dao đâm thêm 03 đến 04 nhát xuyên qua chăn trúng vào phần đùi phải, cẳng chân phải và tay phải của chị L1. Sau đó, H cầm dao rời khỏi hiện trường, đến ngày 19/02/2024 đến Công an xã T đầu thú. Hậu quả: Chị L1 bị thương được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Đa khoa huyện T sau đó chuyển đến Bệnh viện H2 - C, Đ, đến ngày 28/02/2024 thì ra viện.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 48/KLTTCT-TTGĐYK-PY ngày 10/4/2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Q kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Đoàn Thị L1 là 30%; các thương tích do vật sắc nhọn gây ra, không gây nguy hiểm cho tính mạng.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Qúa trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tạm giữ vật chứng vụ án, gồm: 01 cái chăn lông làm bằng vải, màu đỏ, có nhiều hoa văn nhiều màu sắc, dài 2,08m, rộng 1,88m, một mặt bị thủng 07 lỗ, một mặt bị thủng 05 lỗ.

* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại chị L1 yêu cầu bị cáo H bồi thường số tiền 50.000.000 đồng nhưng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa chị L1 có đơn thay đổi yêu cầu bồi thường, cụ thể: Chị L1 yêu cầu bị cáo H phải bồi thường các khoản tiền viện phí, tiền thuê xe, tiền mất thu nhập của bản thân và người chăm sóc, tiền bồi dưỡng sức khỏe sau điều trị và tiền tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 32.300.000 đồng. Đến nay, bị cáo H đã bồi thường cho chị L1 số tiền 6.000.000 đồng, số tiền còn lại phải bồi thường tiếp là 26.300.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 33/CT-VKSTH ngày 22 tháng 7 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa đã truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 (Thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134) của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134); các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 38 của Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật dân sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 25 tháng đến 28 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 17/4/2024; về trách nhiệm dân sự, buộc bị cáo Trần Văn H phải bồi thường cho bị hại chị Đoàn Thị L1 những chi phí hợp lý theo quy định của pháp luật; về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 cái chăn; về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
  2. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, những người làm chứng vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của những người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án do những người này đã có lời khai đầy đủ lưu trong hồ sơ vụ án; căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX xử quyết định xét xử vắng mặt những người làm chứng.
  3. Về cấu thành tội phạm:

    Trong qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng; phù hợp với biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ án, biên bản xem xét dấu vết trên thân thể, kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

    Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 17/02/2024, tại nhà ở của mình ở thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình. Do bức xúc việc chị L1 không nghe lời, Trần Văn H đã dùng dao đâm nhiều nhát gây thương tích cho chị Đoàn Thị L1 (là vợ đã ly hôn) với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 30%. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Trần Văn H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, hành vi đó của Trần Văn H mang tính chất côn đồ, trực tiếp xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội ở địa phương, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 (Thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134) của Bộ luật hình sự. Do đó, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo Trần Văn H về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

  4. Về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi cố ý gây thương tích của bị cáo trong vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, mang tính nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, trực tiếp xâm phạm đến đến sức khỏe của chị Đoàn Thị L1, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.
  5. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  6. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn, hối cải; tác động người thân bồi thường một phần nghĩa vụ dân sự cho bị hại, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đến cơ quan Công an đầu thú. Do đó, HĐXX qua thảo luận, đánh giá quyết định áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ về hình phạt cho bị cáo.
  7. Về nhân thân: Ngoài việc thực hiện hành vi cố ý gây thương tích trong vụ án này, ngày 24/02/2022 bị cáo bị Công an xã T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng rượu, bia, các chất kích thích gây mất trật tự công cộng, nên bị cáo có nhân thân không tốt.
  8. Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, cho thấy tuy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng nhân thân không tốt, hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện trong vụ án thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng, mang tính chất nguy hiểm cho xã hội, có khung hình phạt từ 02 năm tù đến 05 năm tù. Do đó, cần áp dụng Điều 38 của Bộ luật hình sự để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng mức, đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.
  9. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại Đoàn Thị L1 yêu cầu bị cáo H bồi thường số tiền 50.000.000 đồng nhưng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị hại Đoàn Thị L1 thay đổi yêu cầu bồi thường, cụ thể yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 32.300.000 đồng (bao gồm tiền viện phí, tiền thuê xe, tiền mất thu nhập của bản thân và người chăm sóc, tiền bồi dưỡng sức khỏe sau điều trị và tiền tổn thất tinh thần). Đến nay, bị cáo H đã tác động người thân bồi thường được số tiền 6.000.000 đồng, số tiền còn lại 26.300.000 đồng chị L1 yêu cầu bị cáo H phải phồi thường tiếp. HĐXX xét thấy thiệt hại về sức khỏe của chị L1 do chính hành vi cố ý gây thương tích của bị cáo H gây ra nên yêu cầu bồi thường thiệt hại của chị L1 đối với bị cáo là có căn cứ, đúng với quy định tại Điều 48 của Bộ luật hình sự và các Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo bồi thường cho chị L1 nhưng thiệt hại sau: Tiền viện phí: 3.000.000 đồng; tiền xe đi lại (đi cấp cứu và ra viện về nhà): 2.300.000 đồng; tiền thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại trong 10 ngày x 300.000 đồng/ngày = 3.000.000 đồng; tiền thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc trong 10 ngày x 300.000 đồng/ngày = 3.000.000 đồng; tiền bồi dưỡng sức khỏe sau điều trị: 3.000.000 đồng; tiền tổn thất về tinh thần: 10 tháng lương cơ sở x 1.800.000 đồng/ tháng = 18.000.000 đồng.

    Tổng số tiền mà bị cáo H bồi thường cho chị L1 là 32.300.000 đồng, bị cáo đã bồi thường 6.000.000 đồng, số tiền còn lại phải bồi thường tiếp là 26.300.000 đồng.

  10. Về xử lý vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra cơ quan cảnh sát Điều tra có thu giữ vật chứng của vụ án là một cái chăn. Qua xem xét, Hội đồng xét xử thấy cái chăn là tài sản của chị L1 và bị cáo H, đã bị hỏng, không còn giái trị sử dụng do bị cáo H dùng dao chém, thuộc vật chứng của vụ án nhưng chị L1 và bị cáo H không có yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  11. Vấn đề khác: Đối với con dao mà bị cáo H sử dụng gây thương tích cho chị L1, sau khi gây án, H đã mang theo dao bỏ chạy đến khu vực sông G, thuộc địa phận thôn B, xã T, sau đó nhảy xuống sông, bơi qua bờ bên kia nhưng do nước chảy xiết nên dao bị cuốn trôi. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm con dao nhưng không có kết quả nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
  12. Về án phí: Bị cáo Trần Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134), các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 136, điểm c khoản 2 Điều 106, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 21, 23, 24 và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn H 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 17/4/2024.

    Tiếp tục tạm giam bị cáo với thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (31/8/2024), để đảm bảo cho việc thi hành án (có Quyết định tạm giam riêng).

  3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cái chăn (có đặc điểm như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/7/2024 giữa cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa).
  4. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Văn H phải bồi thường cho bị hại chị Đoàn Thị L1 số tiền 32.300.000 đồng, bị cáo đã bồi thường 6.000.000 đồng nên phải bồi thường tiếp số tiền 26.300.000 đồng (hai mươi sáu triệu, ba trăm ngìn đồng). Bị hại Đoàn Thị L1 được nhận số tiền 26.300.000 đồng do bị cáo Trần Văn H bồi thường.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  5. Về án phí: Bị cáo Trần Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.315.000 đồng (một triệu, ba trăm mười lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (31/8/2024) để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử lại theo trình tự phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - Công an huyện Tuyên Hóa;
  • - VKSND huyện Tuyên Hóa;
  • - THADS huyện Tuyên Hóa;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, lưu Vp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 31/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 34/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger