Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST

Ngày 31 tháng 7 năm 2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đời

Ông Nguyễn Kim Thành

-Thư ký phiên tòa: Bà Trương Ngọc Thảo Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng: Bà Trần Thị Hương Thu - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 116/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 101/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1976. Địa chỉ: K172/7 đường N, tổ 44, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt)
  • - Bị đơn: Bà Từ Thị N, sinh năm 1977. Địa chỉ: K172/7 đường N, tổ 44, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Ông Trần Văn T và bà Từ Thị N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 54 ngày 24/5/2002. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, bà N thường xuyên chơi cờ cá ngựa ảnh hưởng đến gia đình, vợ chồng cãi vả, không còn tôn trọng nhau. Mâu thuẫn được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Ông Trần Văn T yêu cầu Toà án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Từ Thị N.

Về con chung: Ông Trần Văn T xác định vợ chồng có 03 con chung là Trần Nhã O, sinh ngày 18/8/2000, Trần Huy H, sinh ngày 23/10/2002, Trần Thục Q, sinh ngày 27/3/2013. Con chung là Trần Thục Q hiện đang sống với ông T. Ly hôn ông T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Thục Q và không yêu cầu cấp dưỡng. Các con chung Trần Huy H và Trần Nhã O đã thành niên nên không đề cập đến vấn đề người nuôi dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Trần Văn T xác định ông và bà Từ Thị N không có tài sản chung và nợ chung.

- Bị đơn bà Từ Thị N đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tuy nhiên bà vẫn vắng mặt, không có ý kiến.

-Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã tuân theo đúng pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử.

Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Thư ký đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại khoản 5 Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự.

Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm mở phiên tòa, người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt đã không chấp hành các quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T đối với bà Từ Thị N. Về hôn nhân: Cho ông Trần Văn T được ly hôn với bà Từ Thị N; Về con chung: Giao con chung Trần Thục Q, sinh ngày 27/3/2013 cho ông Trần Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, bà Từ Thị N không cấp dưỡng nuôi con. Các con chung Trần Nhã O, sinh ngày 18/8/2000 và Trần Huy H, sinh ngày 23/10/2002 đã thành niên nên không đề cập đến vấn đề người nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: Ông Trần Văn T xác định không có tài sản chung và nợ chung, đối với bà Từ Thị N vắng mặt không có ý kiến về tài sản và nợ chung nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn bà Từ Thị N cư trú tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3]. Bị đơn bà Từ Thị N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do nên nên Hội đồng xét xử vắng bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa ông Trần Văn T và bà Từ Thị N xác lập trên cơ sở tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Ông Trần Văn T xác định trong quá trình chung sống giữa vợ chồng ông bà có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm, lối sống, bà N có hành vi phá tán tài sản của gia đình, vợ chồng thường xuyên cãi vã, không còn tôn trọng nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021. Đối với bà Từ Thị N vắng mặt, không có ý kiến.

Hội đồng xét xử thấy rằng giữa các bên đương sự có mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến việc các bên lựa chọn sống ly thân là có thật, việc bị đơn bà Từ Thị N không đến tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa cho thấy bà không còn muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, đời sống chung giữa hai người đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của ông Trần Văn T phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông Trần Văn T được ly hôn với bà Từ Thị N.

[2.2]. Về con chung: Ông Trần Văn T xác định vợ chồng ông có 03 con chung, trong đó có 01 con chung chưa thành niên hiện do ông T chăm sóc, nuôi dưỡng. Ly hôn ông T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên.

Hội đồng xét xử xét thấy: Thực tế hiện nay con chung Trần Thục Q, sinh ngày 27/3/2013 đang sống cùng với ông Trần Văn T có chính quyền địa phương xác nhận, ông T đủ khả năng nuôi dưỡng chăm sóc con, con chung trên 07 tuổi cũng có nguyện vọng muốn sống với cha, bà N vắng mặt không có ý kiến về việc nuôi con chung, do đó căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông T, tiếp tục giao con chung Trần Thục Quyên cho ông trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên.

Con chung Trần Nhã O, sinh ngày 18/8/2000 và Trần Huy H, sinh ngày 23/10/2002 đã thành niên do đó Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[2.3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Trần Văn T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. bà N vắng mặt không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[2.4]. Về tài sản chung và nợ chung: Ông Trần Văn T xác định vợ chồng ông không có tài sản chung và nợ chung. Đối với bà Từ Thị N vắng mặt không có ý kiến, do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì ông Trần Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí tranh chấp hôn nhân và gia đình.

[4]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

[5]. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình; Điểm a khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” của ông Trần Văn T đối với bà Từ Thị N.

  1. Về hôn nhân: Ông Trần Văn T được ly hôn với bà Từ Thị N (Giấy chứng nhận kết hôn số 54, Quyển số 01 do Uỷ ban nhân dân phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 24/5/2002 không còn giá trị pháp lý).
  2. Về con chung: Giao con chung là Trần Thục Q, sinh ngày 27/3/2013 cho ông Trần Văn T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên. Bà Từ Thị N không cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con.

Con chung Trần Nhã O, sinh ngày 18/8/2000 và Trần Huy H, sinh ngày 23/10/2002 đã thành niên nên không đề cập đến vấn đề người nuôi dưỡng.

  1. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Văn T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm ông Trần Văn T đã nộp theo biên lai thu số: 0002629 ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
  2. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà;
  • - Chi cục THADS quận Sơn Trà;
  • - UBND phường A
  • quận S, thành phố Đà Nẵng;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 34/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa ông T và bà N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger