TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2024/HS-ST Ngày: 30 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kim Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Lan Phương
Ông Vương Thanh Chiến
- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Đức Cường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hóa và ông Phùng Văn H - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 29/2024/TLST-HS, ngày 02/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Vũ Quốc Đ, sinh ngày 22/3/1984 tại huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký thường trú: Khu C, xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Chỗ ở: Thôn K, xã B, thị xã K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Thái H1 và bà Lê Thị H2; có vợ là Nguyễn Thị P và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Bản án hình sự phúc thẩm số 77/2017/HSPT ngày 21/11/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt Vũ Quốc Đ 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội "Trộm cắp tài sản". Đại chấp hành xong bản án ngày 21/5/2019; đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/3/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.
- Tiên Thị V, sinh ngày 10/8/1986 tại thôn K, xã B, thị xã K, tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú: Thôn K, xã B, thị xã K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tiên Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); có chồng là Vũ Xuân H3 và có 01 con; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/3/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.
- Trần Minh L, sinh ngày 21/11/1992 tại huyện Y, tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký thường trú: Khu S, xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; Chỗ ở: Thôn A, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình Đ1 và bà Lương Thị P1; có vợ là Dương Thị P2 và có 02 con; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giam giữ từ ngày 18/3/2024, đến ngày 20/3/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.
* Người làm chứng:
- Anh Lò Văn D; vắng mặt.
- Anh Hà Văn H4; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Danh P3; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Quốc Đ và Tiên Thị V chung sống tại nhà của V ở thôn K, xã B, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Đ là người nhận khoán xây dựng, làm cốt pha cho công trình trong khu công nghiệp A có địa chỉ tại xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương. Đ thuê và quản lý khoảng 30 người lao động đang làm ở khu công nghiệp, ở trọ tại thôn A, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương. Đ thuê với giá từ 350.000 đồng đến 450.000 đồng/01 người/01 ngày, hàng ngày đem cơm cho họ ăn, hàng tháng trả tiền công cho người lao động. V tham gia quản lý số lao động trên cùng với Đ. Do trong số những người lao động làm thuê cho Đ có nhiều đối tượng có nhu cầu sử dụng ma tuý loại Heroine hàng ngày nên Đ nảy sinh ý định mua ma tuý đem về đưa cho V chia nhỏ, đóng vào các gói giấy và bán cho người sử dụng ma tuý. Giá mỗi gói ma tuý loại Heroine bán cho người sử dụng là 100.000 đồng. Căn cứ vào số lượng ma tuý mà những người lao động đã sử dụng, Đ sẽ tính toán và trừ vào tiền công cuối tháng của họ. Đ có thuê Trần Minh L là đối tượng sử dụng ma tuý, có nhiệm vụ quản lý, đem cơm và giao, bán ma túy cho những người lao động đang làm việc tại khu công nghiệp A. L được trả công bằng cách được sử dụng ma tuý mà không bị trừ vào tiền công.
Chiều ngày 15/3/2024, Đ gọi điện cho người đàn ông, theo Đ trình bày tên là K (Không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ) hỏi mua 05 chỉ ma tuý loại Heroine thì K đồng ý và hẹn giao dịch ở tỉnh Thái Nguyên. Sau đó Đ cùng với V đi taxi đến tỉnh Thái Nguyên gặp 01 phụ nữ không rõ tên, tuổi, địa chỉ, là người của K và mua được 01 gói ma túy loại Heroine với giá 20.000.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, Đ đưa cho V cầm, cả 2 về nhà ở của V ở thôn K, xã B, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Tại đây, Đ bảo V chia thành nhiều gói nhỏ để bán cho các đối tượng sử dụng ma tuý ở khu công nghiệp. V chia số ma tuý được 252 gói nhỏ và đóng vào 02 túi nilon, 01 túi có 100 gói Heroine, V ghi mảnh giấy ký hiệu 100X bên ngoài (Có nghĩa 100 xuất), 01 túi có 152 gói Heroine, V ghi mảnh giấy ký hiệu 152X (Có nghĩa 152 xuất).
Chiều ngày 16/3/2024, L đem túi nilon, bên trong có chứa 100 gói Heroine do V chia sẵn đến khu công nghiệp A bán cho những người lao động đang làm tại đây. Số lần bán ma tuý cho người lao động là 03 lần một ngày vào các khoảng thời gian 06 giờ, 11 giờ, 18 giờ 30 phút, nếu có làm tăng ca thì bán vào 22 giờ. Đến chiều ngày 17/3/2024, sau khi bán hết 100 gói Heroine, L tiếp tục gọi điện cho V bảo đã bán gần hết số ma tuý hôm trước và hẹn đến lấy tiếp ma tuý để bán. Khoảng gần 17 giờ cùng ngày, L đi xe mô tô biển số 28N1-255.25 (Xe của V đưa cho L để sử dụng) đến nhà V, lúc này Đ và V đang ở nhà. V đi vào phòng ngủ và lấy đưa cho L túi nilon có chứa 152 gói ma tuý loại Heroine do V chia sẵn cùng mảnh giấy ghi ký hiệu 152X. Đại có mặt trong nhà và biết việc V đưa ma tuý cho L. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, L sử dụng 01 gói ma tuý và bán khoảng 32 gói ma tuý cho người lao động sử dụng. Khoảng 22 giờ cùng ngày, L sử dụng 01 gói ma tuý và tiếp tục bán khoảng 32 gói ma tuý, sau đó đi về nhà trọ nghỉ. Khoảng 06 giờ ngày 18/3/2024 L lấy số ma tuý còn lại và sử dụng 02 gói, sau đó bán khoảng 32 gói ma tuý cho người lao động. Những người mua ma tuý của Đ, V và L để sử dụng gồm có: Lò Văn D, Hà Văn H4 và người đàn ông tự khai tên Lò Văn S, sinh năm 1990 trú tại bản N, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên và một số người khác không rõ tên, tuổi, địa chỉ. Sau khi bán ma túy cho người lao động tại khu công nghiệp, L cất số ma túy còn lại vào trong túi quần bên phải, khoảng 10 giờ 40 phút cùng ngày, khi L đang ngồi trên xe mô tô đỗ tại dìa đường thôn A, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương thì bị lực lượng Công an huyện N phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên phải của L 01 túi nilon có kích thước 25cm x15cm, bên trong có 73 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, trong gói giấy chứa chất bột màu trắng. L khai nhận chất bột màu trắng bên trong các gói giấy trên là ma túy, loại Heroine, mục đích cất giấu để bán. Lực lượng Công an thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen trắng biển kiểm soát 28N1-255.25; 01 điện thoại di động Oppo màu đen có lắp sim số 0372253889 và 0878119753 của L. Sau khi phát hiện L bị bắt thì nhiều người lao động sử dụng ma tuý đã bỏ đi khỏi khu công nghiệp.
Khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Trần Minh L thu giữ 01 tờ giấy kích thước 4cmx4cm có ghi chữ 152X. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Tiên Thị V thu giữ 02 thẻ nhớ có dữ liệu của camera ghi hình tại phòng khách và ngoài cửa. Quá trình điều tra V tự nguyện giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo Reno 7 gắn sim số 0373003880; Đại tự nguyện giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo reno 7 gắn sim 0359146977 sử dụng vào việc phạm tội.
Tại kết luận giám định số 190/KL-KTHS ngày 19/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất bột (dạng cục) màu trắng trong 73 (Bẩy mươi ba) gói giấy màu trắng bên trong túi nilon màu trắng được niêm phong trong phong bì, ghi thu của Trần Minh L tổng khối lượng là 4,485g (Bốn phẩy bốn trăm tám mươi lăm gam), là ma túy loại Heroine.
H5 lại đối tượng giám định gồm 4,248g (Bốn phẩy hai trăm bốn mươi tám gam) ma túy loại Heroine; 73 (Bẩy mươi ba) mảnh giấy màu trắng; 01 (Một) vỏ túi nilon màu trắng; 01 (Một) vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định.
Bản Cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 02/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương truy tố các bị cáo Vũ Quốc Đ, Tiên Thị V, Trần Minh L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo thành khẩn khai nhận như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách thực hành quyền công tố, trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Quốc Đ. Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Tiên Thị V và bị cáo Trần Minh L. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Quốc Đ, Tiên Thị V, Trần Minh L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy”. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Vũ Quốc Đại t 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam 20/3/2024. Xử phạt bị cáo Tiên Thị V từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam 20/3/2024. Xử phạt bị cáo Trần Minh L từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 18/3/2024. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy: 4,248g gam ma túy, loại Heroine; 73 mảnh giấy màu trắng, 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định (đựng trong phong bì niêm phong số 190/KL-KTHS của Phòng PC09 Công an tỉnh H); Trả lại bị cáo Tiên Thị V: 02 thẻ nhớ thu giữ tại vị trí camera nhà Tiên Thị V; Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 xe máy nhãn hiệu Honda loại xe Wave biển kiểm soát 28N1-255.25; 01 điện thoại Oppo Reno7 Z 5G và 01 sim số 0359146977 của Vũ Quốc Đ; 01 điện thoại Oppo A54S và 02 sim số 0372253889 và 0878119753 của Trần Minh L; 01 điện thoại Oppo Reno 7 và 01 sim số 0373003880 của Tiên Thị V. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của các bị cáo: Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Vũ Quốc Đ thuê và quản lý khoảng 30 người lao động làm ở khu công nghiệp A có địa chỉ tại xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương. Tiên Thị V là người tham gia cùng với Đ quản lý công nhân. Đ đã mua ma tuý loại Heroine và đưa cho V về chia nhỏ; Đ thuê Trần Minh L bán cho những người lao động. Giá mỗi gói Heroine là 100.000 đồng. Số lần bán ma tuý là 03 lần một ngày vào các khoảng thời gian 06 giờ, 11 giờ, 18 giờ 30 phút, nếu có làm tăng ca thì bán vào 22 giờ. Căn cứ vào số lượng ma tuý mà những người lao động đã sử dụng, Đ sẽ trừ vào tiền công cuối tháng của họ. Trong khoảng thời gian từ 18 giờ ngày 16/3/2024 đến 06 giờ ngày 18/3/2024, Đ, V và L đã bán ma túy loại Heroine cho các đối tượng Lò Văn D; Hà Văn H4; người đàn ông tự khai tên Lò Văn S và một số người khác không rõ tên, tuổi, địa chỉ. Đến 10 giờ 40 phút ngày 18/3/2024, L bị lực lượng Công an huyện N phát hiện bắt quả tang, thu giữ số ma túy còn lại trong túi quần bên phải là 73 gói ma tuý loại Heroine có tổng khối lượng là 4,485gam.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất an ninh trật tự và ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện việc bán trái phép ma túy nhiều lần, cho nhiều người nhằm mục đích kiếm lời. Hành vi của các bị cáo Đ, V, L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét vị trí, vai trò của các bị cáo thì thấy: Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo Đ là người khởi xướng việc mua bán trái phép chất ma túy; trực tiếp bỏ tiền và đi mua ma túy, phân công nhiệm vụ cho V và L; trực tiếp tính toán để trừ tiền mua ma túy của các đối tượng sử dụng ma túy vào tiền lương. Do vậy, Đại giữ vai trò đầu vụ.
Bị cáo V là người tiếp nhận sự phân công của Đ, cùng với Đ đi mua ma túy; nhận số ma túy từ Đại về chia nhỏ số ma túy đã mua; phân phối ma túy cho L đi giao cho các đối tượng nghiện. V giữ vai trò thứ 2 sau bị cáo Đ.
Bị cáo L trực tiếp nhận ma túy từ V, thực hiện việc mang ma túy đi giao cho các đối tượng nghiện theo sự phân công của Đ và V, giữ vai trò cuối cùng sau Đ và V.
[5] Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng:
Bị cáo Đ có nhân thân xấu: Ngày 21/11/2017, đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội "Trộm cắp tài sản" theo Bản án hình sự phúc thẩm số 77/2017/HSPT. Đại chấp hành xong bản án ngày 21/5/2019; đã được xóa án tích. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo có bố đẻ là ông Vũ Thái H1 là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Ba. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Tiên Thị V và bị cáo Trần Minh L đều có nhân thân tốt; không có tiền án, tiền sự; không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo V và bị cáo L thành khẩn khai báo. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe và giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[7] Về hình phạt bổ sung: Để đảm bảo tính răn đe cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Đ và bị cáo V theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Bị cáo L nghề nghiệp không ổn định, không có tài sản, do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo L.
[8] Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:
+ 4,248g gam ma túy, loại Heroine, hoàn lại sau giám định là chất cấm tàng trữ, lưu hành; 73 mảnh giấy màu trắng, 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định không còn giá trị sử dụng, do vậy, cần tịch thu, tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
+ 02 thẻ nhớ thu giữ tại vị trí camera nhà Tiên Thị V, đây là tài sản hợp pháp của bị cáo, không phải công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo theo điểm b khoản 3 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ 01 xe máy nhãn hiệu Honda loại xe Wave biển kiểm soát 28N1-255.25; 01 điện thoại Oppo Reno7 Z 5G gắn sim số 0359146977 của Vũ Quốc Đ; 01 điện thoại Oppo A54S gắn sim số 0372253889 và 0878119753 của Trần Minh L; 01 điện thoại Oppo Reno 7 gắn sim số 0373003880 của Tiên Thị V là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[9] Quá trình điều tra, Vũ Quốc Đ trình bày, số ma tuý đem đi bán do mua của người đàn ông tên là K, quá trình mua giao dịch với 01 người phụ nữ, tuy nhiên không xác định được những người này là ai, ở đâu nên không có căn cứ xử lý.
Đối với người đàn ông sử dụng ma tuý tự khai tên là Lò Văn S, quá trình điều tra không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 18/3/2024 của Trần Minh L, Lò Văn D, Hà Văn H4, Công an huyện N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên là phù hợp.
[10] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b, c khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Quốc Đ.
Căn cứ vào điểm b, c khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Tiên Thị V.
Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Minh L.
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
- Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Quốc Đ, Tiên Thị V, Trần Minh L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt chính:
- - Xử phạt bị cáo Vũ Quốc Đ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam 20/3/2024.
- - Xử phạt bị cáo Tiên Thị V 07 (bảy) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam 20/3/2024.
- - Xử phạt bị cáo Trần Minh L 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 18/3/2024.
- Về hình phạt bổ sung:
- - Phạt bị cáo Vũ Quốc Đ 20.000.000đ sung quỹ Nhà nước.
- - Phạt bị cáo Tiên Thị V 10.000.000đ sung quỹ Nhà nước.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Minh L.
- Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:
- - Tịch thu tiêu hủy: 4,248g gam ma túy, loại Heroine, 73 mảnh giấy màu trắng, 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định (đựng trong phong bì niêm phong số 190/KL-KTHS của Phòng PC09 Công an tỉnh H).
- - Trả lại bị cáo Tiên Thị V: 02 thẻ nhớ thu giữ tại vị trí camera nhà Tiên Thị V.
- - Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:
- + 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave biển kiểm soát 28N1-255.25;
- + 01 điện thoại Oppo Reno7 Z 5G và 01 sim số 0359146977 của Vũ Quốc Đ;
- + 01 điện thoại Oppo A54S và 02 sim số 0372253889 và 0878119753 của Trần Minh L;
- + 01 điện thoại Oppo Reno 7 và 01 sim số 0373003880 của Tiên Thị V.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/8/2024 giữa Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách).
- Về án phí: Buộc mỗi bị cáo Vũ Quốc Đ, Tiên Thị V, Trần Minh L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Vũ Quốc Đ, Tiên Thị V, Trần Minh L có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kim Giang |
Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 34/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Quốc Đ, Tiên Thị V, Trần Minh L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy”.
