|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2024/HS-ST
Ngày 30 - 7 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thành Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Ngọc Hà.
Ông Thạch Văn Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Hà Thế V, sinh ngày 31-10-1981, tại tỉnh Lâm Đồng. Nơi thường trú: Số A, Đường L, tổ D, Khu phố G, Phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH D2; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà T, sinh năm 1950 và bà Bùi Thị C, sinh năm 1952; Vợ tên Nguyễn Thị N, sinh năm 1983 và có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08-11-2023 đến nay.
2. Trần Nguyễn Lạc H, sinh ngày 06-6-1983, tại tỉnh Sóc Trăng. Nơi thường trú: Số D, Đường L, Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Phó Giám đốc Công ty TNHH D2; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn H1, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1953; Vợ tên Mai Thị Chúc L, sinh năm 1988 và có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22-4-2024 đến nay.
(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại:
- Ông Võ Văn S, sinh năm 1982. (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của Bị hại Võ Văn S: Ông Võ Văn M, sinh năm 1959, bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1959. Địa chỉ: Khóm T, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; bà Lý Thị L1, sinh năm 1979, cháu Võ Thị N1, sinh năm 2004. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Bà L1 có mặt; ông M, bà T1, cháu N1 vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của ông Võ Văn M, bà Nguyễn Thị T1, cháu Võ Thị N1: Bà Lý Thị L1, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)
- Ông Lâm Tuấn T2, sinh năm 1989. (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của Bị hại Lâm Tuấn T2: Bà Lâm Thị Q, sinh năm 1967, bà Lý Ngọc D, sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Bà Q vắng mặt; bà D có mặt)
Người đại diện hợp pháp của bà Lâm Thị Q: Bà Lý Ngọc D, sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)
- Người làm chứng:
- Ông Lý D1, sinh năm 1963. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
- Ông Lê Văn N2, sinh năm 1975. Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
- Ông Châu Minh Đ, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số E, đường B, Khu đô thị E, Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
- Ông Phạm Thành Nghĩa E, sinh năm 1992. Địa chỉ: Số A, Đường P, Khóm C, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Địa chỉ nơi làm việc: Công ty T5 tại ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
- Ông Huỳnh Nhựt K, sinh năm 1989. Địa chỉ: Số A, Đường T, Khóm A, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Địa chỉ nơi làm việc: Công ty TNHH D2 tại ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
- Bà Trần Thị Kim T3, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Địa chỉ nơi làm việc: Công ty TNHH D2 tại ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
- Bà Khưu Thị Thùy T4, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số F, K, Khóm D, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Địa chỉ nơi làm việc: Công ty TNHH D2 tại ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Hà Thế V là Giám đốc, bị cáo Trần Nguyễn Lạc H là Phó Giám đốc Công ty TNHH D2 (viết tắt là Công ty D2) tại Khu công nghiệp A thuộc ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Quá trình điều hành hoạt động Công ty D2, các bị cáo V, H vi phạm quy định về an toàn lao động, cụ thể:
Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, mã doanh nghiệp: 2200710353, đăng ký lần đầu ngày 14-12-2015, đăng ký thay đổi lần thứ 3, ngày 03-02-2021, Công ty D2 được Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh S cấp phép hoạt động năm 2015. Theo Điều lệ, Công ty D2 được phép kinh doanh 04 ngành, nghề gồm: Thoát nước và xử lý nước thải; khai thác, xử lý và cung cấp nước; sữa chữa máy móc thiết bị và sản xuất hóa chất cơ bản.
Vào ngày 29-5-2023, Ban Quản lý các khu công nghiệp thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh S có văn bản yêu cầu Công ty D2 khẩn trương tiến hành nạo vét, thông cống hệ thống thu gom nước thải tập trung tại các vị trí bị tắc nghẹt, đảm bảo thu gom triệt để nước thải các doanh nghiệp đấu nối; lập kế hoạch, tổ chức thực hiện định kỳ nạo vét, thông cống toàn hệ thống thu gom nước thải tập trung... Trên cơ sở đó, trong các cuộc họp giao ban tuần, Ban Giám đốc Công ty D2 gồm bị cáo V là Giám đốc và bị cáo H là Phó Giám đốc thống nhất phân công bị hại S là nhân viên chăm sóc cây xanh tiếp tục thực hiện công việc nạo vét, thông cống hệ thống thu gom nước thải tập trung tại các vị trí bị nghẹt trong Khu công nghiệp A (do trước đó Ban Giám đốc Công ty D2 đã nhiều lần giao cho bị hại S thực hiện công việc này); khi thực hiện công việc, bị hại S được toàn quyền bố trí, sắp xếp người phụ và thời gian phù hợp để thuận tiện cho công việc, Công ty D2 sẽ chi trả chi phí thuê thêm người làm.
Đến ngày 08-7-2023, sau khi thông báo về việc có cống nước thải bị nghẹt và được sự đồng ý của bị cáo H, bị hại S đã thuê bị hại T2 và ông Lý D1 cùng thực hiện công việc nạo vét, thông cống xử lý nước thải. Vào khoảng 03 giờ, ngày 09-7-2023, bị hại S cùng với bị hại T2 và ông D1 vào Công ty D2 lấy một số dụng cụ lao động như: Thang gỗ, dây thừng, đoạn thanh kim loại có đầu móc, xe kéo và một số vật dụng khác rồi cùng đến khu vực cống nước thải trên đoạn đường D thuộc Khu công nghiệp A để nạo vét, thông cống xử lý nước thải. Khi đến nơi, bị hại S dùng thang leo xuống cống để thông đường nước thải bị nghẹt. Bị hại T2 và ông D1 đứng phía trên quan sát, phụ giúp khi bị hại S cần. Lúc này, khi nghe tiếng bị hại S kêu cứu, bị hại T2 leo thang xuống cống để ứng cứu nhưng vừa xuống cống bị hại T2 cũng kêu cứu. Lúc này, ông D1 chạy đến cổng bảo vệ của Công ty T5 Mới gần đó nhờ người đến giúp. Khoảng 10 phút sau, ông Lê Văn N2 là nhân viên Công ty D2 dùng dây thừng cột ngang người, leo thang xuống cống để ứng cứu nhưng khi xuống được một đoạn, ông N2 cũng kêu cứu, những người đứng phía trên cầm dây kéo ông N2 lên, ông N2 bị ngất xỉu, được đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh S cấp cứu. Sau đó, bị hại S và bị hại T2 được lực lượng cứu hộ Công an tỉnh S ứng cứu, đưa lên khỏi miệng cống nhưng đã tử vong.
- Tại Kết luận giám định tử thi số: 158/KLGĐTT-KTHS ngày 17-7-2023 của Phòng K1 Công an tỉnh S kết luận đối với Lâm Tuấn T2:
“1. Các kết quả chính:
- Kết quả giám định:
- + Trên tử thi không ghi nhận tổn thương do ngoại lực tác động.
- + Trong lòng khí quản chứa đầy dịch bọt màu hồng.
- + Hai phổi căng phồng, bề mặt sung huyết và có dấu hiệu tràn khí.
- + Dạ dày căng, niêm mạc không bị sung huyết.
- + Trong lòng dạ dày có chứa ít chất dịch màu xám.
- Kết quả xét nghiệm bổ sung, giám định khác: Âm tính (-).
2. Kết luận:
Nguyên nhân chết: Ngạt nước./.”.
- Tại Kết luận giám định tử thi số: 159/KLGĐTT-KTHS ngày 18-7-2023 của Phòng K1 Công an tỉnh S kết luận đối với Võ Văn S:
“1. Các kết quả chính:
- Kết quả giám định:
- + Trên tử thi ghi nhận 02 (hai) vết tổn thương.
- + Trong lòng khí quản chứa đầy dịch bọt màu hồng.
- + Hai phổi căng phồng, bề mặt sung huyết và có dấu hiệu tràn khí.
- + Niêm mạc dạ dày không bị sung huyết.
- + Trong lòng dạ dày có chứa nhiều chất dịch loãng, bẩn.
- Kết quả xét nghiệm bổ sung, giám định khác: Âm tính (-).
2. Kết luận:
Nguyên nhân chết: Ngạt nước./.”.
- Tại Kết luận giám định số: 4749/KL-KTHS ngày 28-7-2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận đối với mẫu khí thu tại hiện trường:
“Các mẫu khí trong 03 chai nhựa ký hiệu lần lượt M1, M2, M3, được niêm phong gửi giám định đều có khí: Hydro sulfide (H2S), S1 (SO2), C1 (CO).
Khí Hydro sulfide (H2S), S1 (SO2) và C1 (CO) là những khí độc và nặng hơn không khí, loại khí trên thường được sinh ra trong quá trình phân hủy chất hữu cơ, lắng và tích tụ trong không gian kín, nơi không khí không được lưu thông thường xuyên, có thể gây ngộ độc và ngạt thở (do hàm lượng ô xy giảm) khi tiếp xúc.”.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện C chứng minh theo hợp đồng lao động đã ký kết, bị hại S là nhân viên chăm sóc cây xanh nhưng được Ban Giám đốc Công ty D2 phân công phụ trách thêm công việc nạo vét, thông cống xử lý nước thải; bị hại T2 và ông D1 là lao động thời vụ do bị hại S được Ban Giám đốc Công ty D2 cho phép thuê để phụ giúp bị hại S thực hiện công việc nạo vét, thông cống xử lý nước thải. Theo quy định tại Mục 1.3. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động khi làm việc trong không gian hạn chế (ban hành kèm theo Thông tư số 29/2018/TT-BLĐTBXH ngày 25-12-2018 của Bộ L2) và M1 số 13. Danh mục công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động (ban hành kèm theo Thông tư số 06/2020/TT-BLĐTBXH ngày 20-8-2020 của Bộ L2) thì công việc nạo vét, thông cống xử lý nước thải mà bị hại S và bị hại T2 thực hiện là công việc trong không gian hạn chế, yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động. Tuy nhiên, khi thực hiện công việc, bị hại S và bị hại T2 chưa được Công ty D2 huấn luyện về an toàn lao động, không được Ban Giám đốc Công ty D2 trang cấp đầy đủ các phương tiện bảo vệ cá nhân như: Khẩu trang phòng độc, máy thở chuyên dụng, bình dưỡng khí, thiết bị thở cá nhân,... hậu quả bị hại S và bị hại T2 bị tai nạn lao động khi thực hiện công việc dẫn đến tử vong.
Do đó, ngày 08-11-2023, Cơ quan điều tra Công an huyện C đã quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo V về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” quy định tại Khoản 2 Điều 295 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ dung năm 2017); ngày 22-4-2024, Cơ quan điều tra Công an huyện C quyết định khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo H về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” quy định tại Khoản 2 Điều 295 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ dung năm 2017).
- Về vật chứng của vụ án: Tại giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện C đã quyết định tạm giữ:
Tạm giữ của ông Lý D1: 01 (một) cây thang bằng gỗ tre, có tổng chiều dài 4,73m; 01 (một) đoạn thanh kim loại dài, có 01 đầu có gắn đoạn kim loại hình móc câu, tổng chiều dài 3,78m; 02 (hai) cuộn dây thừng màu trắng sọc đỏ, trong đó 01 cuộn dài 95 m và 01 cuộn dài 83m; 01 (một) đôi ủng màu xám trắng; 01 (một) đôi ủng màu xanh; 01 (một) đôi dép quay ngang (hình tổ ong) màu trắng; 01 (một) cái áo vải màu xanh dài tay; 01 (một) nón kết màu xám trắng; 01 (một) nón kết màu xanh; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh; 01 (một) xe kéo tự chế có gắn 03 bánh xe, kích thước thân xe (1,5 x 1)m; 01 (một) cuộn dây loại nhựa dẻo màu đen dài 70m; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SYM, số loại GALAXY, màu đen, trắng, đỏ, số máy MVBUAD107045, số khung 05AMKD10745 biển kiểm soát 83PT-394.12.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện C đã quyết định xử lý vật chứng:
Trả lại cho Công ty TNHH D2: 01 (một) cây thang bằng gỗ tre, có tổng chiều dài 4,73m; 01 (một) đoạn thanh kim loại dài, có 01 đầu có gắn đoạn kim loại hình móc câu, tổng chiều dài 3,78m; 02 (hai) cuộn dây thừng màu trắng sọc đỏ, trong đó 01 cuộn dài 95 m và 01 cuộn dài 83m; 01 (một) đôi ủng màu xám trắng; 01 (một) đôi ủng màu xanh; 01 (một) xe kéo tự chế có gắn 03 bánh xe, kích thước thân xe (1,5 x 1)m; 01 (một) cuộn dây loại nhựa dẻo màu đen dài 70m. Trả lại cho bà Lý Thị L1: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SYM, số loại GALAXY, màu đen, trắng, đỏ, số máy MVBUAD107045, số khung 05AMKD10745 biển kiểm soát 83PT-394.12; 01 (một) cái áo vải màu xanh dài tay; 01 (một) nón kết màu xanh; 01 (một) đôi dép quay ngang (hình tổ ong) màu trắng. Trả lại cho bà Lý Ngọc D: 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh; 01 (một) nón kết màu xám trắng.
- Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra, các bị cáo V, H đã chủ động liên đới bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại S số tiền 435.000.000 đồng, người đại diện hợp pháp của bị hại S không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm; chủ động liên đới bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại T2 số tiền 305.000.000 đồng và người đại diện hợp pháp của bị hại T2 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm.
- Tại Cáo trạng số: 31/CT-VKS-CT ngày 29-5-2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố các bị cáo V, Hồ tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 295 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tại phiên tòa sơ thẩm:
Kiểm sát viên giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo V, H. Phát biểu luận tội, Kiểm sát viên đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo V, H phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
Áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 295, điểm b, s, v Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Khoản 1 Điều 54, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo V mức hình phạt từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm.
Áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 295, điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Khoản 1 Điều 54, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo H mức hình phạt từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm.
Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp bị hại S và người đại diện hợp pháp của bị hại T2 không yêu cầu các bị cáo V, H phải bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Tại giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện C đã quyết định xử lý vật chứng xong nên không xem xét giải quyết.
Bị cáo V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố; thống nhất Cáo trạng truy tố bị cáo tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 295 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Trình bày tranh luận, bị cáo V thống nhất với luận tội, không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo V xin lỗi gia đình các bị hại, cam kết không để xảy ra sự việc tương tự, mong được giảm nhẹ hình phạt nhẹ nhất.
Bị cáo H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố; thống nhất Cáo trạng truy tố bị cáo tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 295 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Trình bày tranh luận, bị cáo H thống nhất với luận tội, không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo H xin được gia đình các bị hại tha thứ, xin được giảm nhẹ hình phạt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại S xin bãi nại, xử nhẹ và cho các bị cáo V, H được miễn trách nhiệm hình sự; không yêu cầu các bị cáo V, H phải bồi thường gì thêm.
Người đại diện hợp pháp của bị hại T2 xin bãi nại, xử nhẹ và cho các bị cáo V, H được miễn trách nhiệm hình sự; không yêu cầu các bị cáo V, H phải bồi thường gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không khiếu nại nên hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, người làm chứng ông Lý D1, ông Lê Văn N2, ông Châu Minh Đ, ông Phạm Thành Nghĩa E, ông Huỳnh Nhựt K, bà Trần Thị Kim T3, bà Khưu Thị Thùy T4 vắng mặt. Các bị cáo yêu cầu tiếp tục xét xử vụ án. Kiểm sát viên đề nghị vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy, những người làm chứng đã được triệu tập tham gia phiên tòa, vắng mặt không có lý do và đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
[3] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo V, H, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo V, H thừa nhận Cáo trạng truy tố các bị cáo tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 295 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng hành vi phạm tội, không oan sai; thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với lời khai của những người làm chứng; phù hợp kết luận giám định tử thi đối với bị hại S và bị hại T2, kết luận giám định mẫu khí thu tại hiện trường; phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ để Hội đồng xét xử xác định:
[4] Bị cáo V là Giám đốc và bị cáo H là Phó Giám đốc Công ty D2, trong khoảng thời gian từ năm 2019 đến ngày 09-7-2023, các bị cáo V, H đã thống nhất phân công bị hại S (nhân viên chăm sóc cây xanh, có hợp đồng lao động không xác định thời hạn) phụ trách công việc nạo vét, thông cống xử lý nước thải và được toàn quyền thuê người phụ giúp, bố trí thời gian thuận tiện cho công việc. Do đó, vào ngày 09-7-2023, cũng như các lần trước đó, bị hại S đã thuê bị hại T2 và ông D1 là lao động thời vụ để cùng thực hiện công việc nạo vét, thông cống xử lý nước thải tại đoạn đường D thuộc Khu công nghiệp A tại ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Khi phân công công việc, các bị cáo V, H không tổ chức huấn luyện về an toàn lao động, không trang cấp đầy đủ các phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động, không thực hiện đầy đủ các biện pháp khác để đảm bảo an toàn lao động, đã vi phạm quy định tại Khoản 6 Điều 12, Khoản 2 và 3 Điều 14, Khoản 3 Điều 16 của Luật An toàn vệ sinh lao động năm 2015; điểm 2.1.1 Khoản 2.1 Điều 2 QCVN 34:2018/BLĐTBXH về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động khi làm việc trong không gian hạn chế được ban hành theo Thông tư số 29/2018/TT-BLĐTBXH ngày 25 tháng 12 năm 2018 của Bộ L2; Khoản 2 Điều 3, Khoản 4 Điều 4, Điều 5 của Thông tư số: 25/2022/TT-BLĐTBXH ngày 30-11-2022 của Bộ L2 quy định về chế độ trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động (viết tắt là Thông tư số 25); tiểu mục 27 mục XXIX.3 Phụ lục I về Danh mục phương tiện bảo vệ cá nhân trang cấp cho người lao động làm nghề, công việc có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại được ban hành kèm theo Thông tư số 25, hậu quả bị hại S và bị hại T2 bị tai nạn lao động dẫn đến tử vong.
[5] Tại Điều 295 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:
“1. Người nào vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a)...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Làm chết 02 người;”
[6] Đối chiếu với quy định diện dẫn, Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo V, H là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 12 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Các bị cáo V, H nhận thức được khi phân công nhân viên làm việc phải đúng chuyên môn, chức vụ, phân công làm công việc độc hại phải được huấn luyện về an toàn lao động, phải được trang cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân. Thế nhưng, bị cáo V là Giám đốc, là người đại diện theo pháp luật và là người sử dụng lao động; bị cáo H là Phó Giám đốc, được giao nhiệm vụ hỗ trợ công việc cho Giám đốc, các bị cáo V, H đã thống nhất ý chí, phân công bị hại S là nhân viên chăm sóc cây xanh thực hiện công việc nạo vét, thông cống xử lý nước thải là công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, giao cho bị hại S được toàn quyền thuê người phụ giúp, được sắp xếp thời gian làm việc thuận tiện cho công việc, từ đó bị hại S đã thuê bị hại T2 và ông D1 là lao động thời vụ cùng thực hiện công việc, nhưng các bị cáo V, H không huấn luyện về an toàn lao động, không trang cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động, hậu quả bị hại S và bị hại T2 bị tai nạn lao động khi thực hiện công việc dẫn đến tử vong. Do đó, hành vi của bị cáo V, H đủ yêu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 295 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[7] Như vậy, Cáo trạng số: 31/CT-VKS-CT ngày 29-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố các bị cáo V, Hồ tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 295 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[8] Hành vi phạm tội của các bị cáo V, H là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn lao động, xâm phạm đến tính mạng người lao động nên cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương thích với tính chất, mức độ và hậu quả đã gây ra, trên cơ sở xem xét vai trò của từng bị cáo như sau:
Đối với bị cáo Hà Thế V: Bị cáo giữ vai trò chính trong vụ án, bị cáo là Giám đốc, là người đại diện theo pháp luật của Công ty D2, là người sử dụng lao động và là người quyết định phân công bị hại S thực hiện công việc nạo vét, thông cống xử lý nước thải, cho phép bị hại S được thuê thêm người phụ. Mặc dù ngày 09-7-2023, bị cáo H chưa báo cáo với bị cáo V về việc bị hại S thực hiện công việc nạo vét, thông cống xử lý nước thải, nhưng trước đó bị cáo V đã thống nhất phân công cho bị hại S thực hiện công việc trên. Mặt khác, dù đã phân công bị hại S thực hiện công việc trên từ năm 2019, nhưng đến ngày xảy ra tai nạn lao động (ngày 09-7-2023), bị cáo V vẫn chưa tổ chức huấn luyện về an toàn lao động, chưa trang cấp đầy đủ các phương tiện bảo vệ cá nhân, cũng như không thực hiện đầy đủ các biện pháp khác để đảm bảo an toàn cho người lao động khi làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, đã vi phạm quy định như đã viện tại tại mục [4], hậu quả làm bị hại S và bị hại T2 bị tai nạn lao động khi làm việc dẫn đến tử vong. Do đó, bị cáo V với tư cách là người đại diện theo pháp luật của Công ty D2, trực tiếp chỉ đạo, điều hành công việc nên phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với hậu quả xảy ra do vi phạm trách nhiệm của người sử dụng lao động.
Đối với bị cáo H: Bị cáo giữ vai trò là Phó Giám đốc Công ty D2, đã thống nhất với Giám đốc trong việc chỉ đạo, điều hành và phân công công việc tại Công ty D2; đã bàn bạc, trao đổi, thống nhất với Giám đốc trong việc phân công bị hại S phụ trách nạo vét, thông cống xử lý nước thải trong Khu công nghiệp A, được toàn quyền chỉ đạo mọi hoạt động của Công ty D2 khi Giám đốc không có mặt. Vào ngày 09-7-2023, khi Giám đốc không có mặt, bị cáo đã trực tiếp phân công, chỉ đạo bị hại S thực hiện công việc nạo vét, thông cống xử lý nước thải và đồng ý cho bị hại S được thuê người phụ giúp, được toàn quyền bố trí, sắp xếp thời gian để thuận tiện cho công việc. Cùng trách nhiệm với bị cáo V, khi trực tiếp phân công công việc cho bị hại S mặc dù biết là công việc độc hại, cần được huấn luyện về an toàn lao động, cần được trang cấp các phương tiện bảo vệ cá nhân nhưng bị cáo H và Công ty D2 chưa tổ chức huấn luyện về an toàn lao động, chưa trang cấp đầy đủ các phương tiện bảo vệ cá nhân, cũng như chưa thực hiện đầy đủ các biện pháp khác để đảm bảo an toàn khi làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, dẫn đến hậu quả làm bị hại S và bị hại T2 bị tai nạn lao động khi đang làm việc, dẫn đến tử vong. Hành vi của bị cáo H đã vi phạm các quy định về an toàn lao động như đã viện tại mục [4]. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm tương ứng với hậu quả xảy ra, mức nhẹ hơn so với bị cáo V.
[9] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau: Các bị cáo V, H có nhân thân tốt, chưa có tiền án, chưa có tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; các bị cáo V, H đã chủ động liên đới bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại S số tiền 435.000.000 đồng, chủ động liên đới bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại T2 số tiền 305.000.000 đồng; người đại diện hợp pháp của các bị hại xin bãi nại, xin miễn trách nhiệm hình sự cho các bị cáo; bị cáo V có thành tích xuất sắc trong công tác được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh S tặng Bằng khen; bị cáo H có nhiều thành tích trong công tác chuyên môn, công tác đoàn được tặng thưởng nhiều Giấy khen và danh hiệu “Lao động tiên tiến”. Do đó, bị cáo V được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, v Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); bị cáo H được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ hình phạt.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại S và người đại diện hợp pháp của bị hại T2 không yêu cầu các bị cáo V, H phải bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
[11] Về xử lý vật chứng: Tại giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện C đã quyết định xử lý vật chứng xong nên không xem xét giải quyết.
[12] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng pháp luật về tội danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt là có căn cứ pháp luật. Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt các bị cáo V, H mức hình phạt cao nhất mà Kiểm sát viên đề nghị; các bị cáo V, H phạm tội nghiêm trọng, bị xử phạt tù dưới 03 (ba) năm; chưa có tiền án, chưa có tiền tiền sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo V có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1 Điều 51 và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), bị cáo H có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1 Điều 51 và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; có khả năng tự cải tạo; việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên đủ điều kiện được hưởng án treo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 2 của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo (viết tắt là Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP) và Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP. Ngoài ra, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo V cam kết không để xảy ra sự việc tương tự tại Công ty D2, các bị cáo V là Giám đốc, bị cáo H là Phó Giám đốc, việc các bị cáo phải chấp hành án phạt tù sẽ ảnh hưởng đến việc chỉ đạo, điều hành hoạt động của Công ty D2, còn ảnh hưởng đến việc xử lý nước thải, thông cống hệ thống thu gom nước thải tập trung... tại Khu Công nghiệp A. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, cho các bị cáo V, H được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách bằng 02 lần mức hình phạt tù, trong thời gian thử thách các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của án án đã cho hưởng án treo.
[13] Các bị cáo V, H là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[14] Bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm a Khoản 2 Điều 295, điểm b, s, v Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Khoản 1 Điều 54, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Hà Thế V.
- - Điểm a Khoản 2 Điều 295, điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Khoản 1 Điều 54, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trần Nguyễn Lạc H.
- - Khoản 2 Điều 136, Khoản 1 Điều 293, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- - Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên bố: Bị cáo Hà Thế V, Trần Nguyễn Lạc H phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
Tuyên xử:
1. Xử phạt bị cáo Hà Thế V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30-7-2024).
Giao bị cáo Hà Thế V cho Ủy ban nhân dân Phường I, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Hà Thế V thay đổi nơi cư trú thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Xử phạt bị cáo Trần Nguyễn Lạc H 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30-7-2024).
Giao bị cáo Trần Nguyễn Lạc H cho Ủy ban nhân dân Phường D3, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Trần Nguyễn Lạc H thay đổi nơi cư trú thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại Võ Văn S và người đại diện hợp pháp của bị hại Lâm Tuấn T2 không yêu cầu các bị cáo Hà Thế V, Trần Nguyễn Lạc H phải bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
4. Về xử lý vật chứng: Tại giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện C đã quyết định xử lý vật chứng xong nên không xem xét giải quyết.
5. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Hà Thế V, Trần Nguyễn Lạc H mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
7. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thành Đạt |
Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG về vi phạm quy định về an toàn lao động (hình sự)
- Số bản án: 34/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về an toàn lao động (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo V, H phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
