|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2024/HS-ST Ngày: 29/08/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hảo
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Hồng Thái, Ông Đinh Ngọc Tân
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Huệ, Thư ký tòa án nhân dân huyện Yên Thủy
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Liên, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
- Bùi Đức D; sinh ngày 28/03/1983;Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: xóm Q, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 9/12; Con Ông Bùi Huy N, sinh năm: 1957 và bà Bùi Thị R, sinh năm: 1956. Có vợ là Bùi Thị T, sinh năm 1989 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2008; con nhỏ nhất sinh năm 2009.
- Người bị hại:
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Người làm chứng:
- Bùi Văn L, sinh năm 1986
- Bùi Văn C, sinh năm 1978
Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại - có mặt tại phiên tòa.
Ông Bùi Văn T1, sinh năm 1964 (Đã chết)
Địa chỉ: xóm T, xã M, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Đại diện hợp pháp cho ông Bùi Văn T1: Anh Bùi Văn H, sinh ngày 08/01/1997;
Địa chỉ: xóm T, xã M, huyện L, tỉnh Hòa Bình – Vắng mặt.
Anh: Bùi Văn K, sinh năm 1988.
Địa chỉ: xóm Đ, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình – Vắng mặt
Địa chỉ: xóm Y, xã L, huyện Y, tỉnh Hòa Bình – Vắng mặt
Địa chỉ: xóm Y, xã L, huyện Y, tỉnh Hòa Bình – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 05 giờ 00 phút ngày 29/02/2024 Bùi Đức D, sinh năm 1983 trú tại xóm Q, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 34C-112.86 (có giấy phép lái xe theo quy định) trên xe có anh Bùi Văn K, sinh năm 1988 trú tại xóm Đ, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình chở hàng đi từ huyện Đ, thành phố Hà Nội về huyện L, tỉnh Hòa Bình theo đường H sau đó rẽ vào đường T theo hướng xã B, huyện Y đi xã B, huyện L. Đến khoảng 09 giờ 40 phút cùng ngày khi đi đến Km06 đường tỉnh lộ 443 thuộc địa phận xóm Y, xã L, huyện Y, tỉnh Hòa Bình là đoạn đường thẳng, mặt đường phẳng, trơn ướt do trời có mưa, tầm nhìn không bị che khuất. Lúc này, D điều khiển xe đi với tốc độ khoảng 50km/h thì quan sát thấy phía trước cùng chiều ở bên phải theo hướng chuyển động có biển cảnh báo giao nhau với đường không ưu tiên và một xe ô tải đang đỗ ở bãi đất trống cạnh mép đường, phía ngược chiều không có phương tiện nào. Cách khoảng 30 mét từ đường nhánh bên trái (vị trí người điều khiển xe mô tô tới điểm giao nhau) có xe mô tô biển kiểm soát 28N1-425.91 do ông Bùi Văn T1, sinh năm 1964 trú tại xóm T, xã M, huyện L, tỉnh Hòa Bình điều khiển chuyển động theo hướng xã Đ -> Lạc Sỹ. Thấy tình trạng giao thông như trên D xử lý bấm còi cảnh báo, điều khiển xe vượt bên trái xe ô tô tải đỗ bên đường, khi xe ô tô do D điều khiển đi đến vị trí đường giao nhau thì xe mô tô do ông T1 điều khiển chuyển động gần đến vạch kẻ giữa đường cách đầu xe ô tô của D khoảng 06 mét, D xử lý đạp phanh và đánh lái điều khiển xe đi sang bên trái để tránh va chạm nhưng do khoảng cách gần, đường trơn ướt, không làm chủ tay lái và tốc độ nên phần đầu bên trái xe ô tô đã đâm vào phần giữa bên phải xe mô tô do ông T1 điều khiển dẫn đến tai nạn. Hậu quả: Bùi Văn T1 bị thương tích và tử vong; hai phương tiện bị hư hỏng. Ngay sau khi tai nạn xảy ra Cơ quan Công an đã tiến hành kiểm tra nồng độ cồn và chất ma túy đối với người điều khiển xe ô tô Bùi Đức D cho kết quả: Trong hơi thở của D không có nồng độ cồn và âm tính với chất ma túy.
Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường xảy ra tai nạn ở giữa ngã tư giao nhau giữa đường T và đường liên xã L kết nối xã L- xã Đ, đường liên xã được rải nhựa phẳng, có chiều hướng lên dốc và chếch về bên trái theo hướng Đ đi L. Trên đường tỉnh lộ 443 theo hướng Bảo Hiệu đi B, rẽ bên phải là đường liên xã L đi L, có cổ đường giao nhau rộng 9,20m; rẽ bên trái là đường liên xã L đi Đ có cổ đường giao nhau rộng 10m. Cách hiện trường tai nạn 27m về hướng đi Đ, tại lề đường bên phải đường liên xã theo hướng Đ đi L có đặt biển cảnh báo giao nhau với đường ưu tiên .
- Về phương tiện:
- + Xe ô tô biển kiểm soát 34C-112.86 đã dừng lại trên mặt đường tỉnh lộ 443 (làn đường bên trái hướng B đi B). Đầu xe quay hướng đi B, chếch vào lề đường bên trái hướng Bảo Hiệu đi B. Đuôi xe quay hướng đi B, chếch ra tim đường. Đo từ tâm trục bánh trước bên phải xe ô tô vào mép đường chuẩn là 4,90m; cách điểm mốc là 6,25m. Đo từ tâm trục bánh sau bên phải xe vào cách mép đường chuẩn là 4m.
- + Xe mô tô biển kiểm soát 28N1-425.91 nằm đổ ngả nghiêng bên trái trên mặt đường tỉnh lộ 443, ở vị trí đầu cản trước xe ô tô biển kiểm soát 34C-112.86. Đầu xe mô tô quay ra tim đường, chếch hướng đi B. Đuôi xe mô tô quay lề đường bên trái hướng B đi B (hướng đường liên xã L đi Đ). Đo từ tâm trục bánh trước xe mô tô vào cách mép đường chuẩn là 4,70m. Đo từ tâm trục bánh sau xe mô tô vào cách mép đường chuẩn là 5,82m. Đo từ tâm máy xe tới cách tâm trục bánh trước bên phải xe ô tô là 1,07m; cách điểm mốc là 6,25m.
Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn:
Điểm mốc được chọn là chân cạnh ngoài gần nhất của cột mốc km06 đường T. Mép đường bên phải đường tỉnh lộ 443 theo hướng Bảo Hiệu đi B được chọn làm mép đường chuẩn để đo đến vị trí các dấu vết và phương tiện.
- Về dấu vết:
- + Vết số (1): được xác định là dấu vết phanh trượt lốp kép phía sau bên trái của xe ô tô BKS: 34C-112.86 để lại trên mặt đường tỉnh lộ 443 có diện là 10,10 x 0,40m có hướng Bảo Hiệu đi B. Đo từ đầu vết vào cách mép đường chuẩn là 4,55m; cách điểm mốc là 17,15m. Cuối vết kết thúc tại vị trí dưới bánh lốp sau bên trái xe ô tô đo vào cách mép đường chuẩn là 6,03m.
- + Vết số (2): được xác định là vết đầu kim loại của đế chân trước bên trái xe mô tô BKS: 28N1-425.91 cà trượt tạo thành trên mặt đường tỉnh lộ 443. Có hình dạng kéo dài không liên tục, đứt quãng có tổng diện là 2m60x0,005m hướng Bảo Hiệu đi B. Đo từ đầu vết vào cách mép đường chuẩn là 3,38m; cách đầu vết (1) là 6,38m; cách điểm mốc là 10,90m. Cuối vết kết thúc tại vị trí dưới để thân trước bên trái xe mô tô đo vào cách mép đường chuẩn là 5,13m.
- + Vết số (3): được xác định là vết cà trượt kim loại do đầu để chân chống phụ bên trái xe mô tô BKS: 28N1-425.91 tạo thành trên mặt đường tỉnh lộ 443, có dạng đứt quãng kéo dài không liên tục, có tổng diện là 8,36 x0,01 m có hướng Bảo Hiệu đi B. Đo từ đầu vết vào cách mép đường chuẩn là 3,70 m; cách đầu vết số (2) là 0,35m; cách điểm mốc là 10,88m. Cuối vết kết thúc tại vị trí dưới đầu chân chống phụ xe mô tô, đi vào cách mép đường chuẩn là 5,17m.
- + Vết số (4): là vùng dịch màu hồng, có dạng hình bầu dục thon xuất hiện trên mặt đường tỉnh lộ 443, có diện tích là 0,50x0,19m. Đo từ tâm vết vào cách mép đường chuẩn là 2,67m, cách đầu vết số (3) là 8,30m; cách điểm mốc là 3,80m.
- + Vết số (5): là khu vực mảnh vỡ nhựa rơi rải rác trên mặt đường tỉnh lộ 443, có diện khu vực là 2,40x2,30m. Đo từ tâm vết vào cách mép đường chuẩn là 4,07 m; tới cách tâm vết (4) là 1,30m; tới cách điểm mốc là 5,00m.
Từ những dấu vết để lại trên hiện trường và phương tiện, hình ảnh từ camera an ninh xác định chiều hướng của hai phương tiện thời điểm trước khi xảy ra va chạm là xe ô tô BKS: 34C-112.86 đang lưu thông hướng Bảo Hiệu đi B trên đường T; xe mô tô BKS: 28N1-425.91 đang lưu thông từ trong đường liên xã theo hướng từ Đ đi L ra đường tỉnh lộ 443. Xác định điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện tương ứng vị trí này vuông góc xuống mặt đường đánh dấu ký hiệu điểm va chạm là (A) nằm trên mặt đường tỉnh lộ 443, thuộc làn đường bên trái hướng B đi B cách tim đường 0,44m. Đo từ tâm điểm (A) tới các vị trí: mép đường chuẩn là 4,19m; tâm máy xe mô tô là 9,45m; tâm trục bánh sau bên phải xe ô tô là 4,90m; đầu vết số (1) là 5,38m; đầu vết số (2) là 1,12m; đầu vết số (3) là 1,12m; tâm vết số (4) là 9,40m; tâm vết số (5) là 9,47m; điểm mốc là 11,90m.
Kết quả khám nghiệm tử thi, trưng cầu giám định và định giá tài sản:
Tại bản kết luận giám định pháp y số 40/KLGĐTT-PC09-CAT ngày 08/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: nạn nhân Bùi Văn T1 chết do chấn thương gãy cột sống cổ.
Tại bản kết luận giám định số 1555/KL-KTHS ngày 07/3/2024 của V - Bộ C1 kết luận: Mẫu máu ghi thu của Bùi Văn T1 (sinh năm: 1964; trú tại: xóm T- xã M- huyện L- tỉnh Hòa Bình) gửi giám định không tìm thấy ethanol (cồn).
Tại bản kết luận giám định số 1554/KL-KTHS ngày 21/3/2024 của V - Bộ C1 kết luận: Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy trong mẫu máu gửi giám định.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 08/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y kết luận:
- + Xe mô tô biển kiểm soát 28N1-425.91, nhãn hiệu HONDA, số loại Blade, màu sơn đen, số máy JA36E1008570, số khung RLHJA3663MY000614, xe được đăng ký sử dụng từ năm 2021 đến ngày 29/02/2024 bị thiệt hại 780.000 đồng (Bảy trăm tám mươi nghìn đồng).
- + Xe ô tô biển kiểm soát 34C-112.86 nhãn hiệu FOTON, loại xe tải có mui, màu sơn xanh, số loại THACO, số máy LQBA08008661, số khung 50BCFC069544, xe được đăng ký sử dụng từ năm 2015 đến ngày 29/02/2024 bị thiệt hại 5.243.000 đồng (Năm triệu hai trăm bốn mươi ba nghìn đồng).
Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông:
Các dấu vết để lại trên xe ô tô BKS: 34C-112.86 và xe mô tô BKS: 28N1-425.91 phù hợp với các dấu vết để lại hiện trường, trên người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
Trong quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tạm giữ: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 28N1-425.91, nhãn hiệu HONDA, số loại BLADE, màu sơn đen, xe cũ đã qua sử dụng và bị hư hỏng một số bộ phận do vụ tai nạn ngày 29/02/2024; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 28000587 của xe mô tô biển kiểm soát 28N1-425.91; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số Z951165 mang tên Bùi Văn T1; 01 (một) xe ô tô tải biển kiểm soát 34C-112.86; nhãn hiệu FOTON; số loại THACO; loại xe tải có mui; màu sơn xanh; xe cũ đã qua sử dụng và bị hư hỏng một số bộ phận do vụ tai nạn ngày 29/02/2024; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 34C-112.86 số 012432; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT số DA-5431267 của xe ô tô biển kiểm soát 34C-112.86 có hiệu lực đến hết ngày 05/4/2024; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm điện tử xe cơ giới số BBE+23+12605 của xe ô tô 34C-112.86 có giá trị đến 25/8/2024; 01 (một) giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] mang tên Bùi Đức D có giá trị đến 12/7/2024; 01 (một) bản hợp đồng mua bán xe ô tô BKS: 34C-112.86 ngày 18/8/2023; 01 (một) USB màu trắng, nhãn hiệu KINGSTON, dung lượng 02GB, thời lượng 21 giây chứa nội dung vụ tại nạn xảy ra ngày 29/02/2024.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý trả lại: 01 (một) xe ô tô tải biển kiểm soát 34C-112.86; nhãn hiệu FOTON; số loại THACO; loại xe tải có mui; màu sơn xanh; xe cũ đã qua sử dụng và bị hư hỏng một số bộ phận do vụ tai nạn ngày 29/02/2024; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 34C-112.86 số 012432; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT số DA-5431267 của xe ô tô biển kiểm soát 34C-112.86 có hiệu lực đến hết ngày 05/4/2024; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm điện tử xe cơ giới số BBE+23+12605 của xe ô tô 34C-112.86 có giá trị đến 25/8/2024; 01 (một) bản hợp đồng mua bán xe ô tô BKS: 34C-112.86 ngày 18/8/2023 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Bùi Văn K, sinh năm 1988 trú tại xóm Đ, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình;
Xử lý trả lại 01(một) xe mô tô biển kiểm soát 28N1-425.91, nhãn hiệu HONDA, số loại BLADE, màu sơn đen, xe cũ đã qua sử dụng và bị hư hỏng một số bộ phận do vụ tai nạn ngày 29/02/2024; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 28000587 của xe mô tô biển kiểm soát 28N1-425.91; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số Z951165 mang tên Bùi Văn T1 cho đại diện chủ sở hữu hợp pháp là anh Bùi Văn H, sinh năm 1997 trú tại xóm T, xã M, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Còn lại 01 (một) giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] mang tên Bùi Đức D có giá trị đến 12/7/2024; 01 (một) USB màu trắng, nhãn hiệu KINGSTON, dung lượng 02GB, thời lượng 21 giây chứa nội dung vụ tại nạn xảy ra ngày 29/02/2024 chuyển theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự:
Trong quá trình điều tra vụ án, bị can Bùi Đức D đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả vụ tai nạn cho đại diện người bị hại Bùi Văn T1 với tổng số tiền là 91.000.000 đồng. Các bên đã thực hiện cam kết dân sự không có yêu cầu, đề nghị bồi thường gì thêm.
Đối với những thiệt hại của xe mô tô BKS: 28N1-425.91và xe ô tô BKS: 34C-112.86 chủ sở hữu và đại diện chủ sở hữu không có yêu cầu, đề nghị gì liên quan đến những thiệt hại do vụ tai nạn gây ra.
Cáo trạng số: 29/CT-VKS-YT ngày 8/07/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình đã truy tố bị cáo Bùi Đức D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên Tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Đức D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b,s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự. Tuyên phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách.
Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 (một) giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] mang tên Bùi Đức D.
Lưu hồ sơ vụ án một USB 01 (một) USB màu trắng, nhãn hiệu KINGSTON, dung lượng 02GB, thời lượng 21 giây chứa nội dung vụ tại nạn xảy ra ngày 29/02/2024 tại km 06 đường tỉnh lộ 443 thuộc địa phận xóm Y- L- Y- Hòa Bình.
- Về trách nhiệm dân sự: Không.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình truy tố, không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo Bùi Đức D nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, tỉnh Hòa Bình, của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án:
Khoảng 09 giờ 40 phút, ngày 29/02/2024 Bùi Đức D điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 34C-112.86 chở hàng đi với tốc độ khoảng 50km/h đến Km06 đường tỉnh lộ 443 thuộc địa phận xóm Y, xã L, huyện Y, tỉnh Hòa Bình thì quan sát thấy phía trước có xe mô tô biển kiểm soát 28N1-425.91 do ông Bùi Văn T1, chuyển động theo hướng xã Đ -> Lạc Sỹ. Đến đoạn đường giao nhau xe mô tô do ông T1 điều khiển cách đầu xe ô tô của D khoảng 06 mét, D xử lý đạp phanh và đánh lái điều khiển xe đi sang bên trái để tránh nhưng do khoảng cách gần, đường trơn ướt, không làm chủ tay lái và tốc độ nên phần đầu bên trái xe ô tô đã đâm vào phần giữa bên phải xe mô tô do ông T1 điều khiển dẫn đến tai nạn. Hậu quả: Bùi Văn T1 tử vong, hai phương tiện bị hư hỏng.
Bị cáo Bùi Đức D có giấy phép lái xe ô tô, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tuy nhiên khi điều khiển ô tô tham gia giao thông đã không làm chủ được tốc độ gây tai nạn giao thông đã vi phạm khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ và khoản 3, Điều 4; khoản 1, khoản 3, khoản 11 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Đây là nguyên nhân chính, là lỗi trực tiếp gây ra vụ tai nạn trên, nên đã cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ.
[3]. Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây hại đến tính mạng con người được pháp luật hình sự bảo vệ. Do đó cần phải áp dụng một hình phạt tương xứng để giáo dục cải tạo bị cáo đồng thời phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, phạm tội lỗi vô ý và có một phần lỗi của người bị hại.
Mặt khác trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả đối với người bị hại đã chết số tiền 91.000.000 đồng (Chín mươi mốt triệu đồng). Người đại diện hợp pháp của người bị hại là anh Bùi Văn H đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu đề nghị bồi thường gì thêm về trách nhiệm Dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo D. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b,s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, do đó cho bị cáo được hưởng hình phạt tù có điều kiện quy định tại điều 65 Bộ luật hình sự cũng là thỏa đáng.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập, là người dân tộc thiểu số, hoàn cảnh kinh tế khó khăn và là lao động chính trong gia đình vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung.
[4] Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xét đề nghị của đại điện Viện kiểm sát về xử lý vật chứng tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại về tính mạng bị xâm hại giữa bị cáo và Người đại diện hợp pháp của người bị hại anh Bùi Văn H với tổng số tiền 91.000.000 đồng (Chín mươi mốt triệu đồng) và không yêu cầu bồi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự
Đối với những thiệt hại của xe mô tô BKS: 28N1- 425.91và xe ô tô BKS: 34C-112.86 chủ sở hữu và đại diện chủ sở hữu không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6 Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 135 và 136 BLTTHS. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1, Điều 260; điểm b,s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Bùi Đức D phạm tội ‘Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo: Bùi Đức D 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp các bị cáo thay đổi hoặc vắng mặt tại nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo qui định tại điều 56 của Bộ luật hình sự
2. Về biện pháp tư pháp:
Căn cứ Điều 46, Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tòa án trả lại cho bị cáo Bùi Đức D 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] mang tên Bùi Đức D. Lưu hồ sơ vụ án một USB 01 (một) USB màu trắng, nhãn hiệu KINGSTON, dung lượng 02GB, thời lượng 21 giây chứa nội dung vụ tại nạn xảy ra ngày 29/02/2024 tại km 06 đường tỉnh lộ 443 thuộc địa phận xóm Y- L- Y- Hòa Bình.
3. Về trách nhiệm Dân sự:
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại về tính mạng bị xâm hại giữa bị cáo và Người đại diện hợp pháp của người bị hại anh Bùi Văn H với tổng số tiền 91.000.000 đồng (Chín mươi mốt triệu đồng) và không yêu cầu bồi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự
Đối với những thiệt hại của xe mô tô BKS: 28N1- 425.91và xe ô tô BKS: 34C-112.86 chủ sở hữu và đại diện chủ sở hữu không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Buộc bị cáo Bùi Đức D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5 Quyền kháng cáo:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Hảo |
Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 34/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Đức D vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ
